Đề Tài: Bước đầu xây dựng quy trình phát hiện ASPERGILLUS FLAVUS sinh độc tố AFLATOXIN trên ngũ cốc bằng phương pháp phát quang potx - Pdf 15



ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
VÕ THỊ THANH TRANG
BƯỚC ĐẦU XÂY DỰNG QUY TRÌNH
PHÁT HIỆN ASPERGILLUS FLAVUS
SINH ĐỘC TỐ AFLATOXIN TRÊN NGŨ CỐC
BẰNG PHƯƠNG PHÁP PHÁT QUANG
Chuyên ngành: Vi sinh vật học

Mã số: 60 4240
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

Để hoàn thành luận văn này, trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
TS. LÝ THỊ THANH LOAN
Giám Đốc Trung tâm Quốc gia Quan trắc, Cảnh báo Môi trường và Phòng ngừa
dịch bệnh Thủy sản khu vực Nam Bộ
Cô là người đã truyền đạt cho em những kinh nghiệm quý báu, những bài
học thật bổ ích giúp em phát triển trong công việc và trong nghiên cứu khoa học, là
người luôn động viên và tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để em hoàn thành lu
ận
văn này. Em xin chúc Cô thật nhiều sức khỏe để tiếp tục niềm đam mê nghiên cứu
khoa học của mình và luôn tìm thấy niềm vui trong công việc và cuộc sống.
Tiếp đến tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến ban lãnh đạo Trung tâm Chất lượng
Nông Lâm Thủy sản vùng 4 đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành tốt khóa học.
Xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trong khoa sinh học đã tận tình giảng
dạy trong suố
t thời gian học đại học và cao học tại Trường Đại học Khoa học Tự
nhiên Tp. HCM.
Xin cảm ơn Thạc sĩ Nguyễn Tiến Dũng, anh vừa là một người thầy vừa là
một người cấp trên thật đáng quý. Anh đã luôn động viên, định hướng cho những
người trẻ như chúng em có thêm nghị lực phấn đấu vươn lên trong học tập cũng
như trong công việc.
Cảm
ơn các Anh, Chị, các bạn và các em đang làm việc tại Phòng Kiểm
nghiệm Trung tâm Chất lượng Nông Lâm Thủy sản vùng 4 đã luôn nhiệt tình giúp
đỡ tôi trong thời gian thực hiện luận văn này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Trung tâm Quốc gia Quan trắc, Cảnh báo
Môi trường và Phòng ngừa Dịch bệnh Thủy sản khu vực Nam Bộ, Trung tâm Kỹ
thuật 3, Viện Pasteur Tp.HCM, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Tp.HCM đã hỗ

24

1.3. Phương pháp phát hiện A. flavus 27
1.3.1. Dựa vào đặc điểm hình thái [17], [18]: 27
1.3.2. Dựa trên phương pháp sinh học phân tử [18]: 28
1.4. Đặc tính và ứng dụng Cylodextrin [19] 30
1.4.1. Đặc tính 30
1.4.2. Cấu trúc và tính chất của các cyclodextrin 32
1.4.3. Đặc điểm của phức bao cyclodextrin 33
1.4.4. Ứng dụng của phức bao: 35
1.4.5. Tương tác của cyclodextrin với aflatoxin [12, 15] 35
1.5. Một số khái niệm trong quy trình xác nhận hiệu lực của phương pháp [14].37
1.5.1. Giới hạn phát hiện 37
1.5.2. Độ nhạy, độ đặc hiệu và tỷ lệ dương tính giả, tỷ lệ âm tính giả 37
CHƯƠNG 2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 38
2.1. Vật liệu: 38
2.1.1. Chủng chuẩn Aspergillus và mẫu thực phẩm 38
2.1.2. Thiết bị và dụng cụ chính 39
2.1.3. Môi trường và hóa chất 40
2.2. Phương pháp nghiên cứu 40
iii
2.2.1. Phương pháp chuẩn bị phòng ẩm nuôi cấy mốc [13] 40
2.2.2. Phương pháp định danh nấm mốc theo FAO – 1992 [10] 41
2.2.3. Phương pháp gây nhiễm chủng nấm mốc vào mẫu thực phẩm [14] 41
2.2.4. Phương pháp tách chiết mẫu (đĩa thạch) để phân tích HPLC [11] 44
2.2.5. Phương pháp khảo sát sự phát huỳnh quang của các chủng Aspergillus
flavus sinh aflatoxin 44

của các chủng A. flavus: 78

3.3. Xây dựng dự thảo phương pháp phát hiện A. flavus sinh độc tố Aflatoxin B1
trong ngũ cốc và thức ăn chăn nuôi dựa trên đặc điểm phát huỳnh quang
của Aflatoxin khi kết hợp với cyclodextrin 80

3.4. Xác định giới hạn phát hiện của phương pháp mới xây dựng. 80
3.5. Xác định các thông số phương pháp mới: 85
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN & ĐỀ NGHỊ 90
4.1. Kết luận 90
4.2. Đề nghị: 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 1: MÔI TRƯỜNG 94
PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ KIỂM TRA AFLATOXIN BẰNG HPLC 97
PHỤ LỤC 3: QUY TRÌNH ĐỀ XUẤT 98
iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1. ATCC: American Type Collection Culture: Bộ sưu tập chủng chuẩn của Mỹ.
2. FAO: Food and Agriculture Organization of the United Nations: Tổ chức nông
lương thế giới.
3. FDA (Food and Drug Administration, Hoa Kỳ ): Cơ quan quản lý Thực phẩm
và Dược phẩm của Mỹ.
4. HPLC: high performance liquid chromatography: phương pháp sắc ký lỏng cao
áp
5. ISO: International Organization for Standardization: Tổ chức Quốc tế về tiêu
chuẩn hóa.

huỳnh quang xung quanh khuẩn lạc A. flavus 56
Bảng 3.3. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của thời gian đến sự phát triển và khả năng
phát huỳnh quang của các chủng A. flavus có mã số 02 58
Bảng 3.4. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của thời gian đến sự phát tri
ển và khả năng
phát huỳnh quang của các chủng A. flavus có mã số 05 59
Bảng 3.5. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của thời gian đến sự phát triển và khả năng
phát huỳnh quang của các chủng A. flavus có mã số 30 60
vi
Bảng 3.6. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của môi trường đến sự phát triển và khả
năng phát huỳnh quang của các chủng A. flavus có mã số 02 63
Bảng 3.7. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của môi trường đến sự phát triển và khả
năng phát huỳnh quang của các chủng A. flavus có mã số 05 64
Bảng 3.8. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của môi trường đến sự
phát triển và khả
năng phát huỳnh quang của các chủng A. flavus có mã số 30 65
Bảng 3.9. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển và khả năng
phát huỳnh quang của các chủng A. flavus có mã số 02 67
Bảng 3.10. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển và khả năng
phát huỳnh quang của các chủng A. flavus có mã s
ố 05 68
Bảng 3.11. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển và khả năng
phát huỳnh quang của các chủng A. flavus có mã số 30 69
Bảng 3.12. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của pH môi trường đến sự phát triển và khả
năng phát huỳnh quang của các chủng A. flavus có mã số 02 71
Bảng 3.13. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của pH môi tr
ường đến sự phát triển và khả
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Hình thái nấm mốc A. flavus 5
Hình 1.2. Nấm mốc A. flavus trên hạt đậu 7
Hình 1.3. Nấm mốc A. flavus trên lạc 7
Hình 1.4. Công thức cấu tạo hoá học của AFB1, AFB2, AFG1 và AFG2 (Vitoria,
2001) 17
Hình 1.5. (a) A. flavus trên môi trường AFPA, sau 7 ngày nuôi cấy ủ ở 25ºC, với
đặc tính chuyển màu ở mặt sau môi trường thành màu cam. 28
(b) A. flavus sinh độc tố Aflatoxin phát triển trên đĩa CCA nhỏ được quan
sát dưới đèn UV, sau 7 ngày ủ; đĩa CCA lớn không cấy chủng nấm
A. flavus 28
Hình 1.6. Cyclodextrin α, β, γ 31
Hình 1.7. Cấu trúc không gian của phức bao cyclodextrin với phân tử khách thể - 33
Hình 1.8. Mô hình tương tác giữa cyclodextrin và Aflatoxin dạng HINT/GOLD - 36
Hình 1.9. Bản đồ đường mức cực kỵ nước của AFB1, phần kỵ nước màu xanh lá và
phần hiếu nước màu xanh da trời 36
Hình 2.1. Sơ đồ quy trình gây nhiễm bào tử nấm mốc vào mẫu 43
Hình 2.2. Sơ đồ quy trình xác định giới hạn phát hiện của phương pháp 48
Hình 3.1. Khu
ẩn lạc A. flavus trên SAB sau 3 ngày 52
Hình 3.2. Hình thái A. flavus (thân nhám) 52
Hình 3.3. Bào tử A. flavus 52
Hình 3.4. Bọng hình chùy đến cầu A. flavus 52
Hình 3.5. Chủng A. oryzae không phát huỳnh quang (trái), nấm A. flavus phát
huỳnh quang (phải) trên môi trường SAB 0,3% methyl-β-cyclodextrin trong 3 ngày
ở 28
o
C 53

Trong điều kiện khí hậu nước ta, khí hậu gió mùa, chế độ mưa ẩm cao, điều
kiện bảo quản trong các kho nhỏ lẻ chưa được quan tâm gây ảnh hưởng đến chất
lượng lương thực thực phẩm cung cấp cho người dân. Trong điều kiện như vậy,
nấm mốc có thể phát triển sinh độc tố được gọi là độc tố nấm (mycotoxin), gây ảnh
hưởng đáng kể đến sức khỏe người tiêu dùng, đặc biệt là gây ung thư. Trong đó, có
thể kể đến Aflatoxin B1 (AFB1).
Độc chất Aflatoxin được tạo ra từ các lọai nấm mốc thuộc giống Aspergillus,
mọc trên các loài ngũ cốc, trong đó Aflatoxin B1 (AFB1) chủ yếu do loài
Aspergillus flavus sinh ra có độc tính rất cao (Nabil Saad, 2004; Victoria, 2001;
Roberts, 2002) [8]. Các loài động vật, kể cả con người, nếu ăn phải thức ăn có chứa
AFB1, hoặc sử dụ
ng nguyên liệu, thức ăn có nguồn gốc từ ngũ cốc bị nhiễm nấm
mốc Aspergillus flavus có thể nguy hại đến tính mạng. Trong khi hầu hết các chủng
Aspergillus parasiticus đều sinh độc tố thì ở Aspergillus flavus sự sản sinh độc tố
Aflatoxin thay đổi theo từng chủng. Mặt khác, nó còn phụ thuộc vào điều kiện xung
quanh, sự sản sinh Aflatoxin là kết quả của sự tác động qua lại giữa kiể
u gen của
chủng đó và điều kiện phát triển của nó [3].
Phương pháp phân tích định danh loài nấm mốc Aspergillus flavus hiện nay
chủ yếu dựa vào các đặc tính hình thái như: Tiêu chuẩn ngành y tế 52 TCN – TQTP
0001:2003: “Thường quy kỹ thuật định danh nấm mốc Aspergillus flavus,
Aspergillus niger, Aspergillus fumigatus trong thực phẩm” [1] dựa trên các đặc
điểm hình thái khuẩn lạc và đặc điểm tế bào để định danh. Tuy nhiên, đối với
phương pháp định danh dựa vào hình thái và màu s
ắc thì rất khó phân biệt với loài
GVHD: TS. LÝ THỊ THANH LOAN 2 MỞ ĐẦU HVTH: VÕ THỊ THANH TRANG LUẬN VĂN THẠC SĨ
Aspergillus oryzae mà chỉ có các chuyên gia có kinh nghiệm mới phân biệt được hai
HVTH: VÕ THỊ THANH TRANG LUẬN VĂN THẠC SĨ
* Mục tiêu của đề tài:
Xây dựng quy trình phát hiện nấm mốc Aspergillus flavus có khả năng
sinh độc tố Aflatoxin nhằm kiểm soát chất lượng ngũ cốc cũng như cung cấp
những dẫn liệu khoa học về những sự tồn tại khả năng có hoặc không có sinh độc
tố Aflatoxin để có biện pháp xử lý hiệu quả.
* Luận điểm mới của đề tài:
Ở nướ
c ta hiện nay, trong các quy trình phát hiện nấm mốc A. flavus dựa trên
đặc điểm hình thái là chủ yếu và do đó chỉ phân biệt được loài mà không phân biệt
được khả năng sinh độc tố Aflatoxin của loài đó. Vì vậy, điểm mới của đề tài là xây
dựng được phương pháp phát hiện nấm mốc A. flavus trong đó có thể phân biệt
được những loài có khả năng sinh độc tố với những loài không có khả năng sinh
độc tố.
Với đối tượng đã chọn, chúng tôi đã khảo sát các yếu tố tác động đến việc
sinh Aflatoxin để đưa ra các điều kiện tối ưu nhằm xây dựng một phương pháp mới
phát hiện nấm mốc Aspergillus flavus sinh độc tố Aflatoxin được ghi nhận bằng
việc phát huỳnh quang xung quanh khuẩn lạc khi quan sát dười đèn UV ở bước
sóng 365nm.
Ngoài ra, chúng tôi còn tiến hành đánh giá, xác nhận hiệu l
ực sơ cấp của
phương pháp mới theo tiêu chuẩn ISO 16140:2003 [14] trên 2 dạng nền mẫu thức
ăn chăn nuôi có cấu trúc khác nhau: dạng hạt và dạng bột làm cơ sở để mở rộng
phạm vi áp dụng trên các nền mẫu khác như ngũ cốc dạng hạt và dạng bột…
* Ý nghĩa đề tài
¾ Ý nghĩa khoa học:
- Làm cơ sở để xây dựng phương pháp định danh, định lượng và phân tích nấm
mốc trong lương thực thực phẩm, trong thức ăn chăn nuôi.


HVTH: VÕ THỊ THANH TRANG LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Vài nét về đối tượng nghiên cứu
1.1.1. Hình thái:
Loài Aspergillus flavus rất dễ nhận biết bởi màu vàng hơi lục và dạng ít nhiều vón
cục của tán. Ở đỉnh các cuống bào tử đính mọc thẳng đứng, có vách sần sùi, hình
thành những đầu mang bào tử đính có dạng gần hình cầu đến thuôn dài. Các thể
chai hoặc đính trực tiếp vào đầu mang bào tử đính (thể bình một lớp) ho
ặc qua một
lớp thể bình trung gian (thể bình 2 lớp); đôi khi cả hai kiểu đồng thời tồn tại [3].
Hình 1.1: Hình thái nấm mốc A. flavus
Các bào tử có kích thước khá lớn (đường kính từ 5-7μm) hình cầu, màu vàng
nâu đến hơi lục, hơi sần sùi. Đôi khi người ta chỉ coi là thuộc loài A. flavus những
loài nấm có cuống bào tử đính xù xì và hai lớp thể bình, còn ở loài A. parasiticus thì
cuống bào tử đính nhẵn và thể bình một lớp [3].
1.1.2. Sinh thái
A. flavus được xem là loài được phân bố khắp mọi nơi: dưới
đất, trên các
chất hữu cơ, và các loại hạt nhất là các hạt có dầu. Từ lâu, người ta đã phát hiện sự
có mặt của nó ở dưới đất, dù là trong rừng, ở vùng than bùn, vùng đất hoang sa mạc
Sahara, hoặc trong đất cày cấy, đất mùn, hệ rễ cà chua, hoặc hệ rễ lúa mì. Người ta
còn coi nó là có thể nhanh chóng xâm nhập lại đất đã khử trùng bằng hơi nước. Đất
đai vùng nhiệt đới chứa nhiều loài này hơ
n nhiều so với đất đai vùng ôn đới. Nó
thường gặp trên lúa mì, bột, trên các chế phẩm bột sống, trong bánh mì.
GVHD: TS. LÝ THỊ THANH LOAN 6 TỔNG QUAN HVTH: VÕ THỊ THANH TRANG LUẬN VĂN THẠC SĨ

sản phẩm chế biến từ ngũ cốc, lạc, vừng, đậu đỗ,…và thậm chí cả trên hoa quả tươi
bị dập như: thanh long, nhãn, xoài, vải,… Trong quá trình xâm nhiễm, sinh trưởng
phát triển, chúng tiết ra độc tố Aflatoxin [3].
GVHD: TS. LÝ THỊ THANH LOAN 7 TỔNG QUAN HVTH: VÕ THỊ THANH TRANG LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hình 1.2: Nấm mốc A. flavus trên
hạt đậu
Hình 1.3: Nấm mốc A. flavus trên lạc
Gạo và lạc là nguồn lương thực, thực phẩm rất cần thiết và quan trong đối
với con người. Song nếu gạo và lạc không đảm bảo an toàn thì đây lại là nguồn lây
nhiễm cho con người những căn bệnh hiểm nghèo, đặc biệt là ung thư gan. Đứng
trên góc độ an toàn thực phẩm các nhà khoa học
đều cho rằng tác nhân gây ngộ độc
thực phẩm lớn nhất trong gạo và lạc là nấm mốc [4], [6], [7].
Lạc và các sản phẩm từ lạc chắn chắc là nơi phát triển ưa thích nhất của A.
flavus. Không phải chỉ có duy nhất loài này, nhiều loài nấm khác thường đi kèm với
nó, trong số này một số lớn loài cũng được xem là độc với súc vật : một số loài
Fusarium trong đó có F. monoliforme, các loài Rhizopus, các loài Penicillium
citrinum, P. purpurogenum
[4], [6], [7].
Lạc là một loại hạt có nước:7,4%, protein:28%, lipid: 44,5%, glucid:
15% Các nhà khoa học cũng đã phân lập được ở trong lạc có một loài nấm độc
Aspergillus flavus và thấy rằng các trường hợp ngộ độc trước đây đều liên quan đến
nấm mốc độc đó. Nấm mốc độc này cũng có gặp ở trong một số ngũ cốc khác
nhưng với lạc có thể là môi trường thuận lợi nhất cho nó phát tri
ển. Nấm mốc khi
xâm nhập vào trong lạc chúng phát triển làm cho lạc bị mốc xanh hoặc mốc vàng.
Đặc biệt nấm mốc này sinh ra độc tố Aflatoxin [4], [6], [7].

ơ chất, từ đó đã phân lập chủng Aspergillus
flavus và tùy theo nguồn gốc địa lý: trong số 284 mẫu phân lập từ gạo ở Mỹ có 94%
số chủng sinh độc tố, 86% đối với các mẫu phân lập từ lạc, và 71% cũng được phân
lập từ lạc như ở Ixraen. Các chủng gốc vùng nhiệt đới có nhiều loài sinh độc tố hơn
vùng ôn đới [3].
GVHD: TS. LÝ THỊ THANH LOAN 9 TỔNG QUAN HVTH: VÕ THỊ THANH TRANG LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngoài ra, số lượng Aflatoxin sản sinh ra cũng thay đổi rất nhiều tùy theo các
chủng, người ta đã tìm thấy điều này khi nuôi cấy chúng để so sánh trên cùng một
cơ chất và trong những điều kiện như nhau. Người ta đã ghi lại những mức sản sinh
từ một vài mg/kg đến 100, 200, 500, 1000 và thậm chí gần 2000 mg/kg cơ chất.
Gần đây hơn, ngoài việc định lượng tổng số Aflatoxin, người ta còn quan tâm xác
định tỷ lệ riêng ph
ần của các Aflatoxin đã biết. Nói chung, Aflatoxin B1 được tạo ra
nhiều nhất trong cả thiên nhiên lẫn trong nuôi cấy, rồi đến Aflatoxin G1, sau đó là
Aflatoxin B2, còn về G2 và các chất khác tỷ lệ thấy khá thấp [3].
Người ta đã thử nhận dạng các chủng sinh độc tố và các chủng không sinh
độc tố qua những đặc điểm hình thái. Một số người cho rằng các chủng sinh độc tố
bao giờ cũng có đầu bào tử đính màu xanh lụ
c, ngay cả ở các giống nuôi cấy lâu
ngày, thể bình hai lớp, cuống bào tử đính có vách có gai, ở những chủng sinh độc tố
có sự phình to một số phần của sợi nấm tạo thành những cục nhỏ, những dị thường
đặc trưng cho các dòng sản sinh Aflatoxin. Tuy nhiên thường có lẻ rất khó thăm dò
biết một cách chắc chắn những chủng có sinh Aflatoxin và những chủng không sinh
Aflatoxin ngoài cách dùng con đường sinh học và hóa học [3].
1.1.3.2.
Cơ chất và các điều kiện xung quanh để các chủng A. flavus sản
sinh aflatoxin :

Nhiều yếu tố vật lý và dinh dưỡng khác cũng ảnh hưởng đến hàm lượng
Aflatoxin được sinh ra trong điều kiện nuôi cấy và điều kiện tư nhiên. Những biến
thiên về nhiệt độ có thể thấy trong thiên nhiên, với nhiêt độ ở các đỉnh cao là 45-
50
o
C cho thấy không thuận lợi cho việc sản sinh Aflatoxin bằng nhiệt độ ổn định ở
25
o
C [3].
Hàm lượng nước của cơ chất có vai trò trong việc sản sinh Aflatoxin, gắn
liền với sự phát triển tương đối của A. flavus, ở 32
o
C trên lạc có hàm lượng nước
trong khoảng 15 và 30% Aflatoxin hình thành sau 2 ngày. Như vậy, trong điều kiện
nhiệt đới, nếu A. flavus phát triển trên lạc không có Aflatoxin thì 48h sau có thể
phát hiện được Aflatoxin. Trên gạo có hàm lượng nước 24-26% hoặc trên ngô 19-
24%, Aflatoxin cũng hình thành nhanh chóng như vậy nếu nhiệt độ khá ấm [3].
Giá trị pH ban đầu có ảnh hưởng rất ít đến sự hình thành Aflatoxin. Giá trị
pH thích hợp để A. flavus sinh độc tố aflatoxin ở giá trị pH giữ
a 4-5. Hàm lượng khí
cacbonic tăng lên trong khí quyển làm hạn chế sự sinh trưởng của A. flavus do đó
giảm lượng Aflatoxin sinh ra, giảm hàm lượng oxi và tăng hàm lượng nitơ trong khí
quyển hàm lượng Aflatoxin cũng giảm [3].
Các Aflatoxin được xem là nhạy cảm với ánh sáng, nhưng thực tế chúng
nhạy cảm với tia tử ngoại [3].
GVHD: TS. LÝ THỊ THANH LOAN 11 TỔNG QUAN HVTH: VÕ THỊ THANH TRANG LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người ta đã tiến hành nhiều công trình nghiên cứu về tầm quan trọng của các

C
86 26 0 74 0
NRRL 3000 -Nt- ở 25
o
C 154 70 0 30 0
Ghi chú: ATCC, NRRL : ký hiệu của bộ sưu tập chủng chuẩn
GVHD: TS. LÝ THỊ THANH LOAN 12 TỔNG QUAN HVTH: VÕ THỊ THANH TRANG LUẬN VĂN THẠC SĨ
Nguồn Cacbon :
Nhiều tác giả đã nghiên cứu ảnh hưởng của việc thêm các đường hexose vào
môi trường nuôi cấy chất khoáng lên hàm lượng Aflatoxin do A. flavus sinh ra và
ghi nhận các đường glucose, fructose, manose thuận lợi cho sự tổng hợp Aflatoxin
[3].
Bảng 1.2. Ảnh hưởng của các đường hexose khác nhau lên lượng Aflatoxin sinh ra.
Nồng độ
Glucid
1% 3%
D glucose
+++ +++
D manose
+++ +++
D fructose
+++ +++
D galactose
- ++
D gulose
- 0
D arabinose

từ đ
ây chúng sẽ lây nhiễm sang người ăn và gây cho người những căn bệnh hiểm
nghèo. Để hạn chế và loại trừ nấm mốc ra khỏi gạo, lạc cần phải có biện pháp kiểm
soát, bảo quản hữu hiệu từ giống, phân bón, đồng ruộng, thu hoạch, vận chuyển,
bảo quản, chế biến…[4], [6], [7].
Chúng ta biết nấm mốc hiện diện ở rất nhiều nơi, vì thế
trong lương thực
thực phẩm, thức ăn gia súc hầu như bào tử nấm mốc đều ở tư thế sẵn sàng chờ "cơ
hội", chúng phát triển mạnh nếu có độ ẩm, nhiệt độ môi trường thích hợp.
GVHD: TS. LÝ THỊ THANH LOAN 14 TỔNG QUAN HVTH: VÕ THỊ THANH TRANG LUẬN VĂN THẠC SĨ

• Những giải pháp phòng và chống độc tố nấm mốc: [2]
9 Kiểm tra, khống chế độ ẩm và nhiệt độ thích hợp trong quá trình dự
trữ nguyên liệu:
Phải sấy khô nguyên liệu trước khi đưa vào kho dự trữ. Muốn nguyên liệu
tốt, chúng ta cần có những qui định tình trạng của từng loại hạt trong điều kiện dự
trữ cụ thể. Luôn luôn có sự cân bằng gi
ữa độ ẩm không khí và độ ẩm nguyên liệu,
cân bằng này thay đổi khi nhiệt độ môi trường thay đổi. Mức phổ biến nhất cho hạt
dự trữ an toàn là 13% ẩm độ.
9 Kiểm soát và trừ khử côn trùng, sâu mọt trong kho:
Người ta nhận thấy có mối liên hệ giữa sự phá hại của sâu mọt, côn trùng
trong nguyên liệu và sự phát triển nấm mốc. Điều này có thể giải thích bởi 2 lý do:
¾ Hoạt động trao đổi chất của côn trùng, sử dụng chất hữu cơ trong nguyên
liệu, hô hấp sinh ra nước làm cho môi trường trữ thức ăn ngày càng ẩm thêm,
tạo điều kiện thuận lợi cho nấm mốc phát triển.
¾ Côn trùng sâu mọt đục khoét hạt, di chuyển trong nguyên liệu mang trên

Nếu thức ăn thường xuyên bị nhiễm độc tố nấm mốc mà không có điều kiện
phân tích kiểm tra thì nên sử dụng chất hấp phụ kết dính độc tố là giải pháp dễ thực
hiện và cũng có hiệu quả.
Có thể lên men các sản phẩm sau thu hoạch theo nguyên lý ức chế các vi
sinh vật khác có thể ức chế
sinh tổng hợp Aflatoxin hay hấp thu Aflatoxin. Có thể
dùng các tác nhân vật lý như các tia gamma, tia cực tím và các tác nhân hóa học để
chiết tách hay làm thay đổi cấu tạo phân tử của mycotoxin. Tuy nhiên các phương
pháp này có những hạn chế vì xử lý Aflatoxin kém hiệu quả kinh tế vì chi phí lớn
[3].

Trích đoạn Tương tác của cyclodextrin với aflatoxin [12, 15] Một số khái niệm trong quy trình xác nhận hiệu lực của phương pháp [14] Phương pháp gây nhiễm chủng nấm mốc vào mẫu thực phẩm [14] Phương pháp khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến sự biểu hiện đặc tính Phương pháp xác định giới hạn phát hiện [14]
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status