Những nhân tố hình thành, quyết định mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam - Pdf 15

Lê Minh Chiến
trang 1
CHỦ ĐỀ 1:
Những nhân tố hình thành, quyết định mối
quan hệ hữu nghị đặc biệt
Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam
Lê Minh Chiến
trang 2
PHẦN MỞ ĐẦU
Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ đặc biệt Việt Nam -
Lào, Lào – Vi
ệt Nam là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về sự
gắn kết bền chặt, thuỷ chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc trong
cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội. Mối quan hệ này, bắt nguồn từ
các điều kiện tự nhi
ên, nhân tố dân cư, xã hội, văn hoá và lịch sử, truyền thống
chống giặc ngoại xâm của nhân dân hai nước. Trong tiến trình đó, lãnh tụ Nguyễn
Ái Quốc - người sáng lập ra Đảng Cộng sản Đông Dương đã sớm nhận thấy tầm
quan trọng của mối quan hệ này, với các hoạt động cách mạng của mình đã đặt nền
móng vững chắc phát triển thành quan hệ đặc biệt giữa hai dân tộc, hai quốc gia.
Từ bao đời qua, Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng, gần gũi bên nhau
như làng trên xóm dưới. Nhân dân Việt Nam thường nói láng giềng tối lửa tắt đèn
có nhau
tương tự như cách nhân dân Lào gọi nhân dân Việt Nam là bản cạy hươn
khiêng (bản kề, nhà cạnh). Quan hệ Việt Nam –Lào, Lào –Việt Nam là mối quan hệ
nhân hòa, nảy sinh từ đời sống thích ứng với tự nhiên và dựng xây xã hội của biết
bao thế hệ cộng đồng dân cư hai nước có nhiều lợi ích tương đồng, cao hơn hết là
v
ận mệnh hai dân tộc gắn bó với nhau rất khăng khít và được phát triển thành quan
h
ệ đặc biệt chưa từng có trong lịch sử quan hệ quốc tế.

Phần lớn tuyến biên giới giữa Việt Nam và Lào đều đi qua đỉnh hoặc triền
núi và qua rừng rậm nhiệt đới, so với mặt nước biển nơi thấp nhất vào khoảng
300m, cao nhất vào khoảng 2.700m; khu vực các cửa khẩu có độ cao trung bình
kho
ảng 500m, có nơi cao trên 1000m. Giữa hai nước có những dãy núi cao hình
thành m
ột đường biên giới tự nhiên: phía Bắc từ A Pa Chải trở xuống là dãy Pu
Xam S
ẩu, phía Nam từ Thanh Hoá trở vào là dãy Trường Sơn. Một số đèo đã trở
thành các cửa khẩu nối liền hai nước, còn trên các đoạn biên giới khác, hầu hết là
núi non hi
ểm trở, đi lại khó khăn.
Dân cư sống hai b
ên biên giới đa phần là nhân dân các dân tộc ít người, sống
thưa thớt tại các l
àng bản rất xa nhau và xa đường biên giới. Đời sống vật chất và
Lê Minh Chiến
trang 4
tinh thần của đa số đồng bào các dân tộc của hai bên còn nhiều thiếu thốn và lạc
hậu. Giao thông đi lại giữa hai bên và trong khu vực biên giới của từng bên rất khó
khăn, hầu như chưa có đường giao thông cơ giới (trừ một v
ài khu vực cửa khẩu;
đông dân cư; một số đường có từ thời chiến tranh; hoặc có đường lâm nghiệp mới
mở theo thời vụ đã xuống cấp nhiều…).
Các khu vực gần biên giới có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế đối với hai
nước. Nhân dân hai nước ở khu vực bi
ên giới từ lâu đã có sẵn mối quan hệ dân tộc,
thân tộc gần gũi, tối lửa tắt đèn có nhau và gắn bó giúp đỡ nhau trong cuộc sống.
2. Lịch sử hình thành đường biên giới Việt Nam – Lào:
Thời Pháp thuộc, biên giới giữa Việt Nam - Lào được xác định bằng các

Năm 1978, hai bên bắt đầu tiến hành phân giới, cắm mốc toàn bộ đường biên
gi
ới Việt Nam - Lào và hoàn thành công tác này vào năm 1987. Theo đó, trên toàn
tuyến biên giới Việt Nam - Lào đã xây dựng được một hệ thống mốc quốc giới với
số lượng 199 mốc. Đồng thời trong giai đoạn này, hai nước đã giải quyết xong các
vấn đề phát sinh liên quan đến việc giải quyết biên giới giữa hai nước như chuyển
giao đất, b
àn giao dân và tài sản giữa hai bên… phù hợp với luật pháp quốc tế,
thông lệ quốc tế và phản ánh đúng thực tế đường biên giới lịch sử hình thành giữa
hai nước.
Các kết quả trên đã được hai bên ghi nhận trong Hiệp ước bổ sung Hiệp ước
Hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và
nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (24/01/1986), Nghị định thư về việc phân
giới và cắm mốc toàn bộ đường biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (24/01/1986), Nghị định
thư bổ sung Nghị định thư về việc phân giới v
à cắm mốc toàn bộ đường biên giới
quốc gia Việt Nam và Lào (16/10/1987).
Lê Minh Chiến
trang 6
Sau khi hoàn thành cơ bản công tác phân giới, cắm mốc trên thực địa vào
năm 1987, hai bên đã ký Hiệp định về Quy chế biên giới ngày 01/03/1990 và Nghị
định thư bổ sung Hiệp định về Quy chế bi
ên giới ngày 31/08/1997 nhằm tạo cơ sở
pháp lý đầy đủ cho công tác bảo vệ v
à quản lý biên giới giữa hai nước.
Hệ thống mốc quốc giới lúc đó được xây dựng trong giai đoạn hai nước còn
đang gặp nhiều khó khăn, kinh tế chưa phát triển, kỹ thuật hạn chế nên chưa đáp
ứng được y
êu cầu của một hệ thống mốc chính quy, đảm bảo tính ổn định lâu dài.

có cửa khẩu và khu vực có đường giao thông thuận lợi đi qua nhằm tăng cường hợp
tác, giao lưu phát triển kinh tế v
à ổn định trật tự an toàn xã hội vùng biên giới.
Ngày 18/01/2008 Việt Nam và Lào đã cùng với Căm-pu-chia cắm mốc ngã
ba biên gi
ới và ngày 26/08/2008 tại Hà Nội, đã diễn ra Lễ ký Hiệp ước xác định
giao điểm đường bi
ên giới giữa ba nước. Ngày 05/09/2008, tại cửa khẩu Lao Bảo -
Đen Sạ Vẳn, hai bên đã long trọng tổ chức Lễ khánh thành mốc đôi 605. Đây là cột
mốc đầu tiên chính thức khởi động cho công tác tăng dày và tôn tạo mốc quốc giới
Lê Minh Chiến
trang 7
giữa hai nước. Tính đến tháng 02/2011, hai Bên đã xác định được 462 vị trí mốc và
đã xây dựng 333 vị trí mốc. Hai Bên sẽ hoàn thành công tác cắm mốc trên thực địa
vào năm 2012, và hoàn thành Nghị định thư, bản đồ ghi nhận kết quả vào năm
2014.
3. Hợp tác Kinh tế- Đầu tư Việt Lào:
Tại Hội nghị, đại diện lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư 2 nước Việt Nam và
Lào đã báo cáo về tình hình đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam. Cụ thể, đến hết
tháng 5/2012, có 214 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư sang Lào còn hiệu lực
với tổng vốn 3,45 tỷ USD; Việt Nam tiếp tục là một trong 3 quốc gia đứng đầu
trong số 52 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Lào. Thời gian tới, khả năng tổng
vốn đầu tư tại Lào đạt 4,5 tỷ - 5 tỷ USD.
Trong Năm đoàn kết Hữu nghị Việt
- Lào 2012, nhiều dự án lớn như thủy
điện Seka
mãn 3 công suất 250MW phấn đấu phát điện vào cuối năm nay; dự án
trồng 10 ngàn ha cao su của Công ty Cao su Đắk Lắk đã khai thác mủ; Lĩnh vực
năng lượng, hiện có 15 dự án với tổng công suất gần 3.400 MW.
Các doanh nghiệp như Hoàng Anh Gia Lai, Công ty Golf Long Thành, Tập

năng, thế mạnh của mỗi nước về vị trí địa lý, t
ài nguyên, nguồn nhân lực, thị trường
cũng như sự phân vùng kinh tế và phân công lao động hợp lý.
Ngoài ra, Việt Nam và Lào là những nước loại “vừa” và “tương đối nhỏ”
sống cạnh nhau, lại nằm kề con đường giao thông hàng hải hàng đầu thế giới, nối
liền Đông Bắc Á, Nam Á qua Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương cho nên
chiếm vị trí địa- chiến lược quan trọng ở vùng Đông Nam Á.
Mặt khác, bờ biển Việt Nam tương đối dài nên việc bố trí chiến lược gặp
không ít khó khăn. Trong khi đó, d
ãy Trường Sơn, biên giới tự nhiên giữa Việt
Nam và Lào, được ví như bức tường th
ành hiểm yếu để hai nước tựa lưng vào
nhau, phối hợp giúp đỡ lẫn nhau tạo ra thế chiến lược khống chế những địa bàn
Lê Minh Chiến
trang 9
then chốt về kinh tế và quốc phòng, trở thành điểm tựa vững chắc cho Việt Nam và
Lào trong s
ự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
Về các nhân tố dân cư, xã hội, Việt Nam và Lào đều là những quốc gia đa
dân tộc, đa ngôn ngữ. Hiện tượng một tộc người sống xuyên biên giới quốc gia của
hai nước, hoặc nhiều nước là đặc điểm tự nhi
ên của sự phân bố tộc người ở khu vực
Đông Nam Á nói chung
, ở Việt Nam và Lào nói riêng. Đặc điểm này đã chi phối
mạnh mẽ các mối quan hệ khác trên đường biên giới quốc gia Việt Nam-Lào.
Chính quá trình c
ộng cư, hoặc sinh sống xen cài của những cư dân Việt Nam
và cư dân Lào trên địa b
àn biên giới của hai nước đã dẫn đến việc cùng khai thác và
chia s

kiến ở Đại Việt và Lạn Xạng, quan hệ nương tựa vào nhau giữa nhân dân hai nước
vẫn tiếp tục được nuôi dưỡng.
Cùng với các điều kiện tự nhiên, dân cư, xã hội, văn hoá, lịch sử, truyền
thống chống giặc ngoại xâm của nhân dân hai nước Việt Nam và Lào, nhất là trong
hai cu
ộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ đã làm cho mối quan hệ Việt Nam - Lào,
Lào-Vi
ệt Nam càng gắn bó keo sơn.
Từ khi Nguyễn Ái Quốc tiếp nhận và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác –
Lên
in để xác định con đường giải phóng các dân tộc Việt Nam, Lào theo con
đường cách mạng vô sản, đưa sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Việt Nam và Lào
ngày càng hoà quy
ện vào nhau, nương tựa lẫn nhau, mở ra một trang mới trong
quan hệ giữa nhân dân hai nước, cùng hướng tới mục tiêu chung là độc lập dân tộc
và tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa là nhân tố quyết định mối quan hệ đặc biệt
Việt Nam-Lào, Lào- Việt Nam.
Và chính Người đ
ã cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chí
Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước
dày công vun đắp mối quan hệ đặc biệt Việt Nam
-Lào, Lào-Việt Nam dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng
Cộng sản Việt Nam.
Thực tiễn đã khẳng định rằng, trong quan hệ quốc tế ít có nơi nào và lúc nào
cũng có được mối quan hệ đặc biệt, đoàn kết, hợp tác bền vững lâu dài, trong sáng
và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã
h
ội như mối quan hệ Việt - Lào.
Trong b

biệt, trong câu chuyện này, Khún Bulôm đã dặn dò với các con cháu của Người:
“Các con phải luôn luôn giữ tình thân ái với nhau, không bao giờ được chia rẽ
nhau. Các con phải làm cho mọi người noi gương các con và coi nhau như anh
em một nhà, người giàu phải giúp đỡ kẻ nghèo, người mạnh giúp kẻ yếu. Các
con phải bàn bạc kỹ trước khi hành động và đừng bao giờ gây hấn xâm lăng lẫn
nhau”. Còn ở miền tây Quảng Bình và Quảng Trị của Việt Nam, người B’ru cũng
giải thích nguồn cội của các dân tộc Tà Ôi, Ê đê, Xơ đăng, Bana, Khùa, Sách,
Mông, Dao, Tày, Khơme, Lào, Thái, Việt cũng từ quả bầu mẹ. Hình tượng quả
bầu mẹ đã trở thành biểu tượng cao đẹp, lý giải nguồn gốc và tình đoàn kết keo sơn
giữa các dân tộc hai bên dãy Trường Sơn. Chính vì vậy, đến nay, các dân tộc anh
em sống ở khu vực biên giới hai nước vẫn còn nuôi dưỡng niềm tự hào và truyền
mãi cho nhau những câu chuyện về đạo lý làm người vô cùng sâu sắc mà người xưa
để lại.
- Về nhân tố văn hoá và lịch sử: Về nhân tố văn hoá, điều cần phải khẳng
định l
à do quan hệ gần gũi và lâu đời nên người Việt và người Lào đặc biệt là
người dân ở vùng biên giới am hiểu về nhau khá tường tận. Trong cuốn “Dư địa
chí”
(1)
của Nguyễn Trãi đã mô tả khá ấn tượng về nền văn hoá độc đáo và phong
t
ục thuần phác của dân tộc Lào, cũng như hiện tượng giao thoa văn hoá nở rộ giữa
Đại Việt với các nước láng giềng Đông Nam Á, trong đó có L
ào Lạn Xạng.
- Sự giao thương của người dân Lào với người dân Việt nhất là với người
dân các tỉnh biên giới của Việt Nam cũng khá nhộn nhịp. Người dân Việt Nam bày
t
ỏ mối thiện cảm với một số mặt hàng có chất lượng cao của Lào như: vải dệt,
chiêng Chính vì vậy, mà hiện nay, nhiều dân tộc ít người ở Tây Nguyên của nước
ta vẫn còn giữ được những chiếc chiêng Lào nổi tiếng. Đúng như nhà bác học Lê

tìm th
ấy: sự đồng cảm lẫn nhau, chia sẻ các giá trị cộng đồng, coi trọng luật tục, tôn kính
người gi
à… Sự tương đồng giữa văn hóa làng – nước của người Việt và văn hóa bản -
mường của người Lào xuất phát từ cội nguồn cùng nền văn minh nông nghiệp lúa nước ở
Đông Nam Á. Đồng thời, l
òng nhân ái bao la và đời sống tâm linh phong phú, trong đó có
những ảnh hưởng sâu đậm của đạo Phật mà trong cách đối nhân xử thế của mình, nhân dân
Vi
ệt Nam và nhân dân Lào bao giờ cũng nêu cao những phẩm chất yêu thương và hướng
thiện.
- Về nhân tố lịch sử: Theo các thư tịch cổ nổi tiếng của Việt Nam như: “Việt điện u
linh” “Lịch triều hiến chương loại chí” thì năm 550 dưới thời Vạn Xuân của nhà tiền Lý, khi
bị quân Lương ở phương Bắc đàn áp, Lý Nam Đế buộc phải lánh nạn và anh ruột của Vua là
Lý Thiên B
ảo đã chạy sang đất Lào lập căn cứ chống giặc ngoại xâm, mở ra mối quan hệ
đầu ti
ên Việt Nam-Lào, Lào-Việt -Nam. Còn hai bộ chính sử khác là “Đại Việt sử ký toàn
thư”, “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” thì sự kiện quan hệ ngoại giao, thông hiếu
đầu ti
ên giữa các nước Đại Việt và Lào là vào năm 1067
(5)
. Tiếp đến vào giữa thế kỷ XIV
(năm 1353) những quy ước ho
à bình đầu tiên về biên giới quốc gia đã được xác lập giữa Đại
Việt và Lạn Xạng khi Chạu Phạ Ngừng lần lượt chinh phục các mường Lào, lập nên vương
quốc Lạn Xạng thống nhất đầu tiên của người Lào. Ngoài ra, trong suốt quá trình của cuộc
khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427), nghĩa quân Lê Lợi cũng luôn nhận được sự tiếp sức của
các tộc trưởng và nhân dân Lào ở vùng biên giới.
- Điều đáng nói, là trong khoảng thời gian từ thế kỷ XIV đến XV, hai nước Đại Việt-

nguyện phối hợp chiến đấu của nhân dân Lào – Việt Nam.
Ch
ủ tịch Hồ Chí Minh trao đổi với Chủ tịch
Kaysone Phomvihane t
ại H
à N
ội năm 1966.
Đồng chí Cayxỏn Phômvihản nhấn mạnh: Sự giúp đỡ của Việt Nam cho cách
mạng Lào hết sức tận tình và vô tư. Việt Nam đã giúp Lào cả vật chất và xương
máu. Xương máu của nhân dân Việt Nam đ
ã nhuộm đỏ khắp nơi trên đất nước Lào
vì n
ền độc lập của Lào. Sự giúp đỡ của Việt Nam đối với Lào đã xây dựng nên mối
quan hệ đặc biệt, thực tế đó cũng là sự vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác - Lênin
và ch
ủ nghĩa quốc tế vô sản.
Trong tiến trình lịch sử cả hai dân tộc đều phải ngoan cường chống ngoại
xâm để bảo vệ nền độc lập dân tộc.
Dân tộc Việt Nam kể từ khi Nhà nước Văn
Lang thành lập đã trải qua mấy ngàn năm lịch sử và liên tục bị chế độ phong kiến
phương Bắc xâm lược, thống trị và do đó đ
ã phải không ngừng chiến đấu giành và
b
ảo vệ độc lập dân tộc. Nước Lào cũng trải qua lịch sử hàng nghìn năm và cũng
phải ngoan cường chống xâm lược để khẳng định sự tồn tại của mình với tư cách
một dân tộc, một quốc gia độc lập.
Từ đầu thế kỷ 20, không cam chịu ách nô lệ, nhân dân hai nước Lào-Việt Nam
đ
ã đoàn kết, cùng nhau đấu tranh chống Pháp. Như vậy, trước 1930, hai dân tộc
Lào-Việt đã đoàn kết cùng chiến đấu chống kẻ thù chung, nhưng lúc đó chỉ dừng

Nam) họp ở K7, nghe đồng chí Nguyễn Đôn, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, báo cáo
v
ề tình hình Lào. Hội nghị thảo luận về vấn đề tăng cường quân số và giúp Lào trên
các m
ặt trận chính trị, quân sự ngoại giao; thống nhất quan điểm tích cực giúp Lào
th
ực hiện đường lối và chủ trương đã đề ra. Hội nghị đề cập việc giúp Lào đào tạo
đặc công ; giao Quân khu 4 giúp L
ào ở Nam Lào. Ban Công tác Lào nắm tình
hình chung toàn Lào, giúp Trung
ương chỉ đạo thực hiện kế hoạch giúp Lào.
Ngày 12 tháng 1 năm 1968, Trung đoàn Không quân 919 Việt Nam sử dụng
một biên đội AN2 gồm bốn chiếc xuất kích từ sân bay Gia Lâm, theo đường bay
Gia Lâm - Hoà Bình - Mương Hàm - Mương U. Biên đội bay đến Phả Thí vào lúc
quân địch đang nghỉ trưa, có nhiều sơ hở và sương mù đã tan, dễ quan sát các mục
tiêu. Bốn máy bay AN2 lần lượt lao xuống, bắn 128 quả rốckét và 48 đạn cối
120mm, địch không kịp phản ứng. To
àn bộ hệ thống rađa, đài chỉ huy, kho, sân bay
trực thăng đều bị đánh trúng
Ngày 16 tháng 1 năm 1968: Nhân dịp Tết cổ truyền của Việt Nam, ngày 16
tháng 1 năm 1968, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Lào gửi thư chúc
Tết đến chuyên gia và bộ đội tình nguyện Việt Nam công tác và chiến đấu ở Lào.
Lê Minh Chiến
trang 15
Bức thư viết: “Đảng và nhân dân Lào chúng tôi chân thành biết ơn tinh thần hy sinh
cao cả của các đồng chí. Các đồng chí đã đóng góp vào thắng lợi to lớn của cách
mạng Lào. Nhân dịp năm mới, chúc các đồng chí mạnh khoẻ, thu được nhiều thắng
lợi mới”.
Ngày 20 tháng 1 năm 1968, Thường trực Quân ủy Trung ương (Việt Nam)
ra nghị quyết về tổ chức Đoàn chuyên gia và quân tình nguyện Việt Nam ở Lào,

à một tiểu đoàn của
Binh đoàn cơ động 15, một tiểu đo
àn pháo binh. Lực lượng địch đóng quân ở ba
khu (Na Khằng, Huội Ngát và trung tâm thung lũng Nặm Bạc). Ngoài ra, còn có
các khu ph
ỉ ở Chòm Văn, Giang Tơi, Moốc Phúc, Ta Mao. Các cụm quân đều có
phỉ ở vòng ngoài nhằm đối phó với ta từ xa. Sau một thời gian chuẩn bị, quân tình
nguy
ện Việt Nam cùng Quân giải phóng nhân dân Lào mở chiến dịch tiến công
địch ở Nặm Bạc (từ ng
ày 12 tháng 1 đến 27 tháng 2 năm 1968). Kết quả là, liên
Lê Minh Chiến
trang 16
quân Lào - Việt đã loại khỏi vòng chiến đấu 3.200 tên địch, trong đó bắt sống hơn
2.000 tên, thu và phá huỷ 34 khẩu ĐKZ, 47 súng cối, 2 khẩu sơn pháo 75, 20 xe
ôtô, bắn rơi 14 máy bay, giải phóng hoàn toàn Nặm Bạc. Thắng lợi của chiến dịch
Nặm Bạc đánh dấu bước trưởng thành của liên quân Lào - Việt, góp phần khôi
phục, củng cố vùng giải phóng, nối liền Sầm Nưa với Xiêng Khoảng và vùng giải
phóng Bắc Lào, mở ra vùng giải phóng rộng lớn ở Thượng Lào. Đây là chiến thắng
quan trọng, đánh bại một phương thức tác chiến trong chiến lược “Chiến tranh đặc
biệt” của đế quốc Mỹ ở Lào, làm thay đổi so sánh lực lượng ngày càng có lợi cho
cách mạng Lào.
Ngày 2 tháng 2 năm 1968 Mương Ngan là một khu vực đông dân, là vựa lúa
và cơ sở cách mạng của huyện Mương Khun, tỉnh Xi
êng Khoảng (Lào). Địa hình
n
ổi lên ba điểm cao gồm Phu Hom Cheng, Phu Then Chao và Phu Tong Noong, tạo
thành thế chân kiềng. Tại đây, Vàng Pao bố trí năm SGU, tổ chức thí điểm các đơn
vị biệt kích. Phát huy thắng lợi, ngày 2 tháng 2 năm 1968, Quân khu Cánh đồng
Chum (Lào) và Đoàn 463 (Việt Nam) mở chiến dịch Mương Ngan, tiêu diệt một bộ

Nưa tiến công giải phóng Phả Thí lần thứ hai. Ng
ày 10 tháng 3, liên quân Lào -
Vi
ệt nổ súng tiến công cụm phỉ ở Phả Thí, Huội Mạ, Huội Mừn. Bốn giờ ngày 10
tháng 3, l
ực lượng đặc công dùng bộc phá đồng loạt đánh vào trạm rađa, sở chỉ huy
của địch. Các chiến sĩ đặc công chia thành hai mũi đánh theo phương châm phối
hợp trong đánh ra, ngoài đánh vào. Quân địch vừa chống cự, vừa rút về phía thang
dây nhưng bị hoả lực của bộ binh chặn đánh; nhiều tên liều mạng tụt xuống thang,
có tên rơi xuống vực. Bộ binh tiến l
ên phối hợp với đặc công truy quét địch. Chín
giờ sáng, khi sương mù trên đỉnh Phả Thí vừa tan hết, một bộ phận của Đoàn 766
ti
ến lên đến đỉnh núi. Mỹ dùng máy bay ném bom phá huỷ trạm rađa. Đến 10 giờ
ngày 11 tháng 3, liên quân Lào - Việt làm chủ hoàn toàn căn cứ Phả Thí, loại khỏi
vòng chiến đấu 872 tên, trong đó có viên thiếu tá, chỉ huy trưởng và 18 sĩ quan
nhân viên kỹ thuật Mỹ, làm tan rã ba đại đội (3AC), bắn rơi 10 máy bay, thu 300
súng, giải phóng 10 xã với hơn một vạn dân Chiến thắng Phả Thí đã củng cố
vững chắc vùng giải phóng Sầm Nưa, phá tan đài rađa dẫn đường cho máy bay Mỹ.
Chiến thắng đánh dấu sự trưởng thành trong liên minh đoàn kết chiến đấu đặc biệt
Việt Nam - Lào, góp phần đánh bại một bước chiến tranh xâm lược của đế quốc
Mỹ, bảo vệ vùng giải phóng Lào.
Ngày 20 tháng 3 năm 1968: Để mở rộng địa bàn và ngăn chặn những hoạt
động phá hoại của phỉ, Bộ Chỉ huy tối cao L
ào chủ trương mở cuộc tiến công cứ
điểm Huội Hỉn Xa, mở thông đường l
ên Nặm Bạc. Ngày 20 tháng 3 năm 1968,
Đoàn 766 quân t
ình nguyện Việt Nam được giao nhiệm vụ phối hợp với Quân giải
phóng nhân dân Lào tiêu diệt cứ điểm này.

loại, 3 tấn đạn, hơn 4 tấn quân trang, quân dụng, phá 8 pháo, 30 xe quân sự, bắn rơi
11 máy bay, giải phóng 47 xã với 104.500 dân. Việt Nam và Lào củng cố cơ sở
địch vận từ khu đến tỉnh, huyện, x
ã. Hệ thống cơ quan này do cấp ủy đảng của mỗi
cấp lãnh đạo, chỉ đạo, đã in và phát hành truyền đơn, thư kêu gọi binh lính địch ra
hàng, trở về với gia đình. Đảng ủy Mặt trận đánh giá, thành tích trên đã cổ vũ nhân
dân càng tin tưởng v
ào sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Quân ủy
Ngày 29 tháng 9 năm 1968, trước tình hình địch lấn chiếm Phả Thí, ngày 29
tháng 9 năm 1968, đồng chí Nguyễn Đôn, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội
nhân dân Việt Nam ra chỉ thị cho Quân khu Tây Bắc và Đoàn 959 về phá kế hoạch
lấn chiếm Phả Thí của địch. Đồng chí nêu rõ: nếu để mất Phả Thí sẽ gây ảnh hưởng
xấu về chính trị và quân sự; nhân dân Sầm Nưa và các nơi khác sẽ thiếu tin tưởng
vào cách mạng Lào và cho rằng lực lượng Vàng Pao vẫn mạnh, việc xây dựng cơ
sở quần chúng gặp khó khăn; lực lượng vũ trang liên quân sẽ phát sinh vấn đề về tư
tưởng Từ ý nghĩa v
à tầm quan trọng của việc giữ Phả Thí, đồng chí chỉ thị: phải
phá bằng được kế hoạch lấn chiếm Phả Thí của địch. Nếu để mất Phả Thí, Đoàn
959 và Quân khu Tây B
ắc (Việt Nam) phải chịu trách nhiệm.
Ngày 12 tháng 11 năm 1968, Quân uỷ Trung ương (Việt Nam) chỉ thị cho
Quân khu uỷ 4, Tây Bắc, Đoàn uỷ 959 về nhiệm vụ giúp Lào trong Đông Xuân
1968-1969. Chỉ thị nêu rõ: Đông Xuân năm 1967-1968, quân và dân Lào đã giành
được thắng lợi to lớn, toàn diện. Đế quốc Mỹ và bọn tay sai bị thất bại nặng nề, có
tính chất chiến lược. Tuy nhiên, bên cạnh những thắng lợi, vẫn còn khuyết, nhược
điểm mà Trung ương Lào đ
ã vạch ra như: sự phát triển về chính trị, kinh tế không
theo kịp thắng lợi về quân sự. Những khuyết, nhược điểm đó cũng phản ánh thiếu
sót của Việt Nam trong việc giúp Lào.
Tháng 12 năm 1968, tại Hà Nội (Việt Nam), Đoàn đại biểu Đảng Lao động

Đảng, hai Nhà nước l
à những người xây dựng nền móng và dày công vun đắp
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng thân Xu-pha-nu-vông
1./Gắn kết cách mạng hai nước:
Được Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản cho phép trở về Đông Dương theo
nguyện vọng, năm 1928, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Xiêm đến bản Xiêng Vảng,
huyện Noỏng Bốc, tỉnh Khăm Muộn trực tiếp truyền bá cách mạng tại Lào nhằm
đưa cách mạng Việt Nam v
à Lào hòa quyện, nương tựa vào nhau, cùng đấu tranh
giành độc lập, tự do. Dưới sự l
ãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc, phong trào cách mạng Việt Nam-Lào những năm 1930-1931 đã
có s
ự phối hợp ngày càng gắn kết chặt chẽ, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn mối quan hệ giữa cách mạng hai nước Việt
Nam và Lào, kịp thời xây dựng và phát huy sức mạnh nhân dân hai nước. Thắng lợi
của cuộc Tổng khởi nghĩa ở Việt Nam và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa đã tạo điều kiện cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Lào.
Quán tri
ệt chủ trương và những lời căn dặn của đồng chí Hồ Chí Minh tại Hội nghị
Lê Minh Chiến
trang 21
Tân Trào, Ban chỉ đạo khởi nghĩa ở Viêng Chăn vận động các lực lượng yêu nước
và tiến bộ Lào xúc tiến thành lập Chính phủ Lào Ít-xa-la.
Xu
ất phát từ nhu cầu hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau, ngày 14-10-1945, Chính phủ
Việt Nam dân chủ cộng hòa là Chính phủ đầu tiên trên thế giới chính thức công
nhận Chính phủ độc lập Lào và cử phái viên của Chính phủ Việt Nam tại Lào. Từ
đây, quan hệ Việt Nam
-Lào chuyển sang giai đoạn mới không chỉ trong quan hệ

quốc gia.
Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “giúp nhân dân nước bạn tức
là mình tự giúp mình” và thực hiện chủ trương của lãnh đạo hai nước, quân và dân
Vi
ệt Nam-Lào đã phối hợp chiến đấu giành nhiều thắng lợi. Đặc biệt là phối hợp
giành thắng lợi to lớn trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, đỉnh cao là Chiến
dịch Điện Biên Phủ, đưa đến việc ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, kết thúc
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, lập lại hòa bình ở Đông Dương.
Lê Minh Chiến
trang 22
Trước yêu cầu nhiệm vụ mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ, những người
cộng sản Lào đã tổ chức Đại hội thành lập Đảng Nhân dân Lào (1955) để lãnh đạo
nhân dân Lào đoàn kết với nhân dân Việt Nam
chống kẻ thù chung. Ngay sau khi
thành l
ập, Đảng Nhân dân Lào (năm 1972 đổi tên là Đảng Nhân dân Cách mạng
Lào) đ
ã gửi điện cảm ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Lao động Việt Nam. Bức điện có đoạn: “Chúng tôi th
ành công trong việc
thành lập Đảng Nhân dân Lào là nhờ công ơn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã theo
dõi, dìu d
ắt và sự giúp đỡ vô điều kiện của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam
trong thời gian qua”.
Ngày 5-9-1962, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ
Vương quốc
Lào chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Từ đây, quan hệ đoàn kết
đặc biệt Việt Nam
- Lào được xây dựng phát triển lên tầm cao mới, thống nhất chủ
trương, sách lược đấu tranh tr

l
ợi ích của nhân dân mỗi nước, vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.
*Nhận định chung:
Lê Minh Chiến
trang 23
Trong những thập kỷ đầu thế kỷ XX, chính Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ
Chí Minh), với lòng yêu nước nồng nàn và nghị lực phi thường, vượt lên mọi khó
khăn, gian khổ, đ
ã tự mình khám phá thế giới tư bản chủ nghĩa và các dân tộc thuộc
địa, nhằm phát hiện chân lý cứu nước. Người tiếp nhận v
à vận dụng sáng tạo chủ
nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Đông Dương để xác định con đường
giải phóng các dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia theo con đường cách mạng vô
sản. Trong quá trình tìm đường cứu nước của mình, Nguyễn Ái Quốc rất quan tâm
đến t
ình hình Lào. Người không chỉ lên án chế độ thực dân Pháp nói chung mà còn
t
ố cáo cụ thể sự tàn bạo của thực dân Pháp ở Lào (6). Hội Việt Nam Cách mạng
Thanh niên - một trong những tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam do
Nguyễn Ái Quốc trực tiếp sáng lập vào tháng 6 năm 1925 tại Quảng Châu (Trung
Quốc), đến tháng 2 năm 1927, Hội này gây dựng được cơ sở tại Lào. Thông qua
ho
ạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Lào, Nguyễn Ái Quốc thấy
đây là điều kiện thuận lợi để người Việt Nam vừa tham gia cuộc vận động cứu
nước tại L
ào, vừa sát cánh cùng nhân dân Lào xây dựng mối quan hệ đoàn kết
khăng khít giữa Việt Nam
– Lào, Lào – Việt Nam. Hội Việt Nam Cách mạng
Thanh niên đ
ã lập Hội Ái hữu, Hội Việt kiều yêu nước, mở các lớp huấn luyện cách

Lào-Vi
ệt Nam là một trong những nhân tố gắn kết hai dân tộc lại với
nhau trên tr
ận tuyến chống thù chung.
Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ đặc biệt Việt Nam -
Lào, Lào - Vi
ệt Nam là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về sự gắn
kết bền chặt, thuỷ chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc đấu tranh vì
độc lập, tự do và tiến bộ xã hội. Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
phát triển từ quan hệ truyền thống, do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng nền móng
và chính Người cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuv
ông và các
th
ế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp. Trải
qua nhiều thử thách, hy sinh, gian khổ vì độc lập, tự do, hạnh phúc của hai dân tộc
và nhân dân hai nước, quan hệ Việt Nam
- Lào đã trở thành quy luật sống còn và
s
ức mạnh kỳ diệu đưa tới nhiều thắng lợi vĩ đại của Việt Nam và Lào trong đấu
tranh giải phóng dân tộc, trong xây dựng và bảo vệ đất nước, cùng phát triển theo
định hướng x
ã hội chủ nghĩa.
Hai nước c
ùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ: Việt Nam và Lào có vị
trí địa
– chiến lược quan trọng ở vùng Đông Nam Á do nằm kề con đường giao
thương hàng hải hàng đầu thế giới, nối liền Đông Bắc Á, Nam Á qua Tây Thái
Bình Dương và Ấn Độ Dương, nơi có nguồn trữ lượng dầu khí và tiềm năng tài
nguyên khoáng s
ản khá dồi dào, một tiêu điểm của sự tranh giành lợi ích và ảnh

dân tộc hai bên dãy Trường Sơn. Cho đến nay, các dân tộc anh em sống ở khu vực
biên giới hai nước vẫn còn nuôi dưỡng niềm tự hào và truyền mãi cho nhau những
câu chuyện về đạo lý làm người vô cùng sâu sắc mà ông bà xưa để lại.
Sự hài hòa giữa lòng nhân ái và tinh thần cộng đồng là một nét đặc sắc trong
triết lý nhân sinh người Việt Nam cũng như người Lào. Ngạn ngữ Lào có câu: “Nói
h
ợp lòng thì xin ăn cho cũng chả tiếc, nói trái ý thì dẫu xin mua cũng chẳng bán”
(Vầu thực khọ, khỏ kin cò bò thi (bò khỉ thi), vầu bò thực khọ khỏ xừ cò bò khải).
Đó cũng l
à những tình cảm bình dị nhưng chân thành mà người dân nước Việt dành
cho người bạn láng giềng của mình, còn được lưu lại trong thư tịch cổ: “người Lào
thu
ần hậu chất phác”, trong giao dịch buôn bán thì “họ vui lòng đổi chác”.
Mặc dầu Việt Nam và Lào có tiếng nói, văn tự không giống nhau, sáng tạo
và lựa chọn các nền văn hóa cũng như các hình thức tổ chức chính trị – xã hội khác
nhau, nhưng những nét tương đồng th
ì vẫn thấy phổ biến trong muôn mặt đời sống
hàng ngày của cư dân Việt Nam và Lào. Các nền văn hóa nghệ thuật truyền thống
của Việt Nam và Lào dễ dàng tìm thấy sự đồng cảm lẫn nhau, chia sẻ tâm hồn
chung về các giá trị cộng đồng, coi trọng luật tục, tôn kính người già…
S
ự tương đồng giữa văn hóa làng – nước của người Việt và văn hóa bản -
mương của người Lào bắt nguồn từ chính nền tảng chung của văn minh nông
nghiệp lúa nước ở Đông Nam Á. Nhờ lòng nhân ái bao la và đời sống tâm linh
phong phú, trong đó có những ảnh hưởng sâu đậm của đạo Phật mà trong cách đối
nhân xử thế của mình, nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào bao giờ cũng nêu cao
nh
ững phẩm chất yêu thương và hướng thiện.
Nhân dân hai nước có truyền thống bang giao h
òa hiếu, cưu mang đùm bọc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status