453
* Tiến sĩ, Phó Trưởng phòng HTQT
PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CANH TÁC BỀN VỮNG GÓP PHẦN
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Trần Thanh Sơn*
Trường Đại học An Giang
Tóm tắt
Môi trường sản xuất nông nghiệp là vấn đề được cần quan tâm giải quyết trong
quá trình thâm canh sản xuất nông sản để hạn chế sự thoái hóa môi trường sản xuất, suy
giảm nguồn tài nguyên đất, tài nguyên nước và mất cân bằng hệ sinh thái nông nghiệp.
Việc nghiên cứu phát triển hệ thống canh tác bền vững sẽ góp phần vào việc bảo vệ môi
trường sản xuất nông nghiệp. Trong thời gian qua việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào
thâm canh sản xuất nông sản đã đóng góp to lớn vào việc đáp ứng nhu cầu lương thực và
thực phầm tiêu dùng của dân số gia tăng. Những nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh
học chọn tạo giống cây trồng và ứng dụng các chế phẩm sinh học trong kỹ thuật canh tác
sẽ đóng góp to lớn vào sự phát triển hệ thống canh tác bền vững, nâng cao chất lượng
sản phầm và bảo vệ môi trường trong thời gian tới.
I. Đặt vấn đề
Vấn đề quan trọng của việc bảo vệ
môi trường sống và môi trường sản xuất
phục vụ phát triển kinh tế xã hội đã được
đề cập trong luật bảo vệ môi trường, luật
đa dạng sinh học. Nghị quyết số 41-
NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về
bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước giúp định hướng phát triển kinh tế
việc sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài
nguyên thiên nhiên, đồng thời giúp cho
người nông dân có nguồn thu nhập ổn
định đối với những biến động của thị
trường. Một hệ sinh thái nông nghiệp bền
vững được đánh giá dựa trên các tiêu chí:
- Sức sản xuất (productivity): sản
phầm đầu ra của một hệ thống, còn được
gọi là giá trị sản phẩm.
- Tính thích nghi (adaptability):
khả năng của một hệ thống đáp ứng lại sự
thay đổi của môi trường để duy trì sự tồn
tại, đặc trưng bằng hệ số thích nghi.
- Tính ổn định (stability): mức độ
của sức sản xuất để duy trì sự ổn định khi
môi trường biến đổi, đặc trưng bằng hệ số
ổn định.
- Tính bền vững (sustainability):
khả năng của một hệ thống duy trì sức sản
xuất trong điều kiện môi trường bất lợi.
- Tính tự chủ (autonomy): phạm vi
của một hệ thống tồn tại phụ thuộc vào hệ
thống khác bên ngoài sự kiểm soát của
nó.
- Tính công bằng (equitability): sự
phân phối công bằng lợi ích của hệ sinh
thái cho con người trong chuỗi giá trị như
sản phẩm, sản lượng, lợi tức, tài
nguyên…
- Tính đoàn kết (solidarity): khả
của hệ sinh thái nông nghiệp, tạo ra sự
khác biệt giữa hệ sinh thái tự nhiên và hệ
sinh thái phát triển để sản xuất ra sản
phẩm cho nhu cầu ngày càng cao của xã
hội. Nhưng con người không những bị
chi phối bởi các yếu tố tự nhiên mà còn
ảnh hưởng bởi các yếu tố xã hội. Sự kết
hợp nghiên cứu giữa các ngành khoa học
tự nhiên, khoa học xã hội và khoa học
công nghệ sẽ giúp giải quyết những trở
ngại trong sản xuất. Tiếp cận phương
pháp phân tích hệ sinh thái dựa trên nền
tảng sinh thái nhân văn sẽ giúp đánh giá
455
tính bền vững của một hệ thống nông
nghiệp.
Kết quả nghiên cứu về hệ thống
canh tác ở tỉnh An Giang cho thấy có
nhiều mô hình sản xuất đa canh mang lại
hiệu quả kinh tế cao hơn so với độc canh
cây lúa. Thí dụ mô hình một số loại hoa
màu ngắn ngày phổ biến được trồng luân
canh trên nền lúa như bắp, đậu xanh, đậu
nành, đậu phộng, mè, rau hoa các loại
v.v…; mô hình đa canh kết hợp trồng trọt,
chăn nuôi, thủy sản và năng lượng biogas
giúp sử dụng hiệu quả phụ phẩm nông
nghiệp và tiết kiệm năng lượng; mô hình
xen canh cây trồng trong các vườn cây ăn
khoa học nghiên cứu phát triển tương lai
như sản xuất giống cây trồng năng suất
cao và phầm chất cao hơn như giống lúa
C4, cây ăn trái, bắp lai, khoai, đậu xanh,
đậu nành, đậu phộng và các loại rau; sản
xuất giống cây trồng thực phẩm dinh
dưỡng như giống lúa giàu protein,
Vitamine A, Fe, Zn cung cấp cho 70%
dân nghèo thiếu dinh dưỡng sống ở Châu
Á với lúa là thực phẩm chính. Việc xác
dịnh được các gen mục tiêu đã tạo ra
nhựng sản phẩm công nghệ cao đã đống
góp tích cực trong sản xuất như gen fgr
điều khiển tính trạng mùi thơm, gen psy
tạo ra giống lúa giàu vitamine A, gen Alt3
chịu được phèn nhôm, gen kháng bệnh
cháy bìa lá lúa Xa5, gen kháng rầy nâu
Bph-10, gen Cry1Ac kháng sâu bông vải,
gen Sub1 IR64 của cây lúa chịu ngập
nước…
Chế phẩm sinh học ứng dụng vào
kỹ thuật canh tác cây trồng giùp phân hủy
các chất hữu cơ, phế phầm nông nghiệp
làm sạch môi trường; cung cấp các chất
dinh dưỡng đa lượng và vi lượng làm
tăng năng suất và chất lượng nông sản
phẩm; cân bằng hệ vi sinh vật đất và phát
triển vi sinh vật có ích. Các chế phầm
sinh học ứng dụng phồ biến hiện nay như
phân sinh học với các loài vi sinh vật
được những tác hại hiện tại và tương lai
của sự ô nhiễm môi trường và biến đổi
khí hậu đối với sức khỏe con người, đời
sống xã hội và sự phát triển bền vững của
đất nước. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học
phục vụ việc hoàn thiện các chủ trường
chính sách về bảo vệ môi trường; nghiên
cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học và
công nghệ thân thiện với môi trường như
sử dụng nhiên liệu sinh học, năng lượng
sạch, năng lượng tái tạo, các sản phẩm
sinh học và tăng cường hợp tác quốc tế về
đào tạo, nghiên cứu khoa học trong lĩnh
vực môi trường.
Long Xuyên, ngày 11 tháng 05 năm 2010
Tài liệu tham khảo
Brodt, Sonja, Gail Feenstra, Robin Kozloff, Karen Klonsky and Laura Tourte.2005.
Farmer-community connections and the future of ecological agriculture in California.
Agriculture and Human Values. USA.
Chỉ thị số29/CT-TW ngày 21/1/2009 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện
Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trần Thanh Sơn.2008. Khảo sát các mô hình canh tác trên nền lúa ở tỉnh An Giang.
Trường Đại học An Giang. An Giang.
457