1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
________________ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG ĐIỀU TRA VÀ THIẾT KẾ XÂY DỰNG MÔ HÌNH HỆ THỐNG
CANH TÁC BỀN VỮNG TRONG CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU
CÂY TRỒNG NƠI ĐẤT CAO NHIỀU CÁT
THUỘC VÙNG BẢY NÚI AN GIANG
Chủ nhiệm đề tài: NGUYỄN VĂN MINH
thị Minh Châu đọc và sữa bản thảo
- Các sinh viên ĐH2PN Đại Học An Giang Võ Thịnh Vượng, Lê Văn Nam, Lê Phước
Sang đã cùng tôi phỏng vấn nông hộ tại các điểm nghiên cứu, tổng kết số liệu và trình bày bản
thảo.
- Các sinh viên ĐH2PN và ĐH3PN đã hợp tác trong các cuộc phỏng vấn nông hộ.
3
LỜI NÓI ĐẦU
dụng phân bón từ nguồn gốc hữu cơ bảo vệ môi trường bền vững nhằm khuyến cáo nông dân
4
TÓM TẮT
Nhằm mục đích tìm hiểu về tình hình kinh tế hộ và hiệu quả kinh tế-môi trường của mô
hình hệ thống canh tác trên vùng đất xám nhiều cát 2 xã và 1 thị trấn điểm tại khu vực Núi Dài
thuộc huyện Tri Tôn An Giang, cuộc nghiên cứu đã được thực hiện trong vòng 2 năm 2004-2005
để giải đáp vấn đề trên.
Bằng cách dùng các công cụ của phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của
nông dân (PRA), phương pháp phỏng vấn nông hộ, phỏng vấn nhóm am hiểu sự việc (KIP) và
bằng quan sát trực quan, cuộc nghiên cứu đã tiến hành 3 hội thảo với qui mô trung bình 20 nông
dân đại diện ở 3 điểm xã, thị trấn cùng với 4 cuộc phỏng vấn các cấp lãnh đạo nông nghiệp
huyện, xã để tìm hiểu tổng quan về vùng nghiên cứu. Phỏng vấn 273 hộ nông dân gồm 3 nhóm
giàu, nghèo , trung bình theo tiêu chuẩn đánh giá của địa phương, được phân phối đều về các ấp,
khóm thuộc 3 điểm nghiên cứu với khoảng cách tối thiểu là 10 hộ. Tổng hợp và phân tích số liệu
thống kê mô tả bằng chương trình Excel với các số trung bình, tối đa, tối thiểu.
Kết quả cho thấy nguồn lực nông hộ đáp ứng tương đối tốt cho nhu cầu sản xuất.
Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên, vùng nghiên cứu chia thành 2 tiểu vùng rõ rệt. Vùng ruộng
trên chỉ dựa vào nguồn nước mưa để tưới nên hàng năm chỉ sản xuất được 1 vụ nên kinh tế hộ
khó khăn. Trái lại, hộ nào có đất ở ruộng bưng hoặc có đất ở 2 nơi thì cuộc sống khá giả hơn. Cơ
cấu thu nhập hộ do sản xuất nông nghiệp chiếm trên 85% so với phi nông nghiệp, trong đó trồng
trọt 84%, chăn nuôi xấp xỉ 16%. Thu nhập của nhóm hộ nghèo dưới ngưỡng nghèo
200.000đ/tháng. Nhóm hộ trung bình có thu nhập khá hơn nhưng phần dư không nhiều trong khi
đó nhóm giàu cách biệt xa với 2 nhóm kia với thu nhập và phần dư cao hơn 10 lần.
Mô hình HTCT ruộng trên hiện nay chỉ 1 vụ với các loại cây trồng như lúa mùa, lúa Hè-
ĐBSCL Đồng Bằng Sông Cửu Long
ĐX Đông Xuân
HT Hè Thu
HQKT Hiệu quả kinh tế
HTCT Hệ thống canh tác
KHKT Khoa học kỹ thuật
MHCT Mô hình canh tác
MBCR Marginal Benefit Cost Rate: Thu nhập biên hay Lợi tức biên
MRCR Marginal Revenue Cost Rate: Doanh thu biên
M Mùa
NN Nông nghiệp
PRA Participatory Rural Appraisal: Phương pháp đánh giá nông thôn có sự
tham gia của nông dân
PTNT Phát triển nông thôn
RAVC Return above variable cost: Thu nhập trên biến phí
SALT1 Sloping Argicultural Land Technology: kỹ thuật canh tác nông nghiệp đất dốc
SALT2 Simple Agro-livestock Technology: kỹ thuật canh tác nông súc đơn giảnSALT3 Sustainable Agroforest Land
Technology: kỹ thuật canh tác nông - lâm kết hợp
bền vữngSALT4 Small
Agro-fruit Livelihood Technology: kỹ thuật sản xuất nông nghiệp kết hợp
hộ lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế. Do vậy, tìm giải pháp để phá thế độc canh cây lúa
đồng thời tăng thu nhập cho các hộ nông dân là thực sự cần thiết.
Theo xu thế chung của đất nước, yêu cầu chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nông thôn mà
trong đó sự chuyển đổi cây trồng sang một hệ thống canh tác mới đa canh bền vững, có hiệu quả
là một yêu cầu khách quan và bức xúc. Điều này cũng nhằm mục đích tránh bị động vào giá lúa
gạo và cũng nhằm nâng cao mức sống cho nông hộ. Tỉnh đã triển khai một số chương trình hệ
thống canh tác cho 2 huyện miền Núi nhằm vào mục đích chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo
hướng có lợi cho người nông dân.
A. MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I. MỤC TIÊU
Đề tài” Điều tra và thiết kế xây dựng mô hình hệ thống canh tác bền vững trong
chuyển đổi cơ cấu cây trồng nơi đất cao nhiều cát thuộc vùng Bảy Núi An Giang.” được
thực hiện nhằm các mục tiêu tổng quát là tập trung vào nghiên cứu các mô hình tiên tiến có
hiệu quả kinh tế so với mô hình trồng đại trà là 1 hoặc 2 vụ lúa để làm cơ sở cho việc thiết kế
xây dựng các mô hình hiệu quả hơn.
Mục tiêu cụ thể gồm có:
- Đánh giá tình hình kinh tế hộ và hiệu quả kinh tế-tài chính của các hộ đang thực hiện các
mô hình canh tác đại trà và tiên tiến.
- So sánh và tìm ra những mô hình tiên tiến hiện có mang tính bền vững và hiệu quả cao.
- Thiết kế xây dựng ít nhất 2 mô hình canh tác đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi cơ cấu
cây trồng của vùng nghiên cứu.
II. NỘI DUNG
7
- Dùng các phương pháp nghiên cứu hệ thống canh tác như phiếu phỏng vấn nông hộ,
PRA, SWOT, phỏng vấn chuyên gia, quan sát thực tế … để điều tra và đánh giá tình hình kinh tế
hộ, phân loại thành 3 nhóm hộ giàu, trung bình, nghèo nhằm phân tích thu nhập và phần dư tài
chính của nông hộ và nhân khẩu, phản ảnh một cách trung thực mức sống của nông dân tại điểm
nghiên cứu.
hội khác biệt.
Định nghĩa của Đào Công Tiến (2003) về kinh tế nông hộ như sau:
Kinh tế nông hộ là đơn vị sản xuất và tiêu dùng của nền kinh tế nông thôn. Kinh tế nông
hộ dựa chủ yếu vào lao động gia đình để khai thác đất và các yếu tố sản xuất khác nhằm đạt thu
nhập thuần cao nhất. Kinh tế nông hộ là đơn vị kinh tế tự chủ, căn bản dựa vào sự tự tích lũy, tự
8
đầu tư để sản xuất kinh doanh nhằm thoát khỏi cảnh nghèo đói và vươn lên giàu có, từ tự túc tự
cấp rồi lên sản xuất hàng hóa gắn với thị trường.
1.2. Vì sao hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ
Là đơn vị kinh tế tự chủ có nghĩa là mỗi hộ nông dân tự quyết định mục tiêu và quá trình
sản xuất kinh doanh, trực tiếp quan hệ thị trường nếu có sản phẩm hàng hóa, tự hạch toán, lời ăn
lỗ chịu (Lâm Quang Huyên, 2003). Hoặc theo Đào Công Tiến (2003) đơn vị kinh tế tự chủ “ là
tự chịu trách nhiệm cao về sản xuất và tiêu dùng, căn bản dựa trên sự cân bằng giữa nguồn lực
sản xuất và nhu cầu tiêu dùng của gia đình.”
2. Thực trạng kinh tế nông hộ Việt nam
2.1. Tình hình nông hộ ở nông thôn
Lâm Quang Huyên (2003) cho rằng, nước ta hiện nay và nhiều năm tới vẫn còn là một
nước nông nghiệp. Dân số và lao động ở nông thôn vẫn chiếm tỷ lệ cao trong tổng số dân và lao
động cả nước (từ 70 – 80%).
Tỷ trọng số hộ nông dân trong tổng số hộ gia đình ở vùng nông thôn cao nhất là miền
núi và trung du Bắc Bộ chiếm 91,2%. Đồng bằng Sông Hồng chiếm 91,13% rồi đến khu 4 cũ
chiếm 83,16%; Tây Nguyên chiếm 76,78%; Duyên hải miền Trung chiếm 74,37%; ĐBSCL
chiếm 69,94% và thấp nhất là miền Đông Nam Bộ chiếm 48,42% (Lâm Quang Huyên, 2003).
Bảng 1: Số nông hộ ở các vùng (1994) Đvt: hộ
Khu vực Số lượng (%)
Miền núi và Trung Du Bắc Bộ 1.892.900 9,88
Đồng Bằng Sông Hồng 2.558.100 13,36
Khu 4 cũ 1.522.500 7,95
2
. Thấp
nhất là Hải Phòng – 1.997 m
2
, Hà Nội – 2.117 m
2
và Thái Bình – 2.179 m
2
.
Bảng 2: Diện tích đất nông nghiệp bình quân nông hộ (1994) Đvt: 1.000m
2
Khu vực Diện tích (%)
Miền núi và trung du Bắc Bộ 4,31 9,49
Đồng bằng Sông Hồng 2,28 5,02
9
Khu 4 cũ 3,00 6,60
Duyên hải Miền Trung 4,13
9,09
Tây Nguyên 7,41 16,31
Đông Nam Bộ 9,17
20,18
Đồng Bằng Sông Cửu Long 10,15
22,34
Cả nước 4,98
10,96
Tổng 45,43
100,00
Về năng lực và trình độ sản xuất, kinh tế hộ nông dân hiện nay đã và đang hình thành 4
loại hộ (Lâm Quang Huyên, 2003):
* Loại hộ nông dân nghèo: Thiếu đất, thiếu vốn, thiếu vật tư kỹ thuật và công cụ sản
xuất, thiếu kiến thức và năng lực quản lý sản xuất nông nghiệp, đôi khi thiếu cả lao động nên
trình độ sản xuất thấp kém. Kết quả là năng suất cây trồng vật nuôi thấp, làm không đủ ăn.
Nhóm này chiếm khoảng 15 – 20% tổng số hộ nông dân.
* Loại hộ nông dân trung bình: Có quỹ đất khá hơn nhưng thiếu vốn và vật tư kỹ thuật,
quản lý sản xuất khá hơn loại trên nhưng cũng còn hạn chế nên năng lực sản xuất cũng chỉ đóng
khung ở mức sản xuất tự túc là chủ yếu, sản lượng và tỷ suất nông sản hàng hóa chưa đáng kể.
Loại hộ này chiếm khoảng trên dưới 50% tổng số hộ nông dân.
10
* Loại hộ nông dân khá: Có quỹ đất nhiều hơn trung bình, có vốn để mua vật tư kỹ
thuật và ứng dụng khoa học công nghệ mới, có kinh nghiệm và năng lực quản lý kinh tế khá, có
khả năng đi vào thâm canh, tăng năng suất sản xuất nông sản để tự túc và sản xuất nông sản
hàng hóa với khối lượng khá, chiếm khoảng 50% tổng sản lượng nông sản làm ra. Nhóm hộ này
chiếm khoảng 25 – 30% tổng số hộ nông dân trong cả nước. Riêng vùng ĐBSCL chiếm 45 –
50% và đang có xu thế tăng lên.
* Loại hộ nông dân giàu: Có quỹ đất nhiều, có vốn lớn, có trình độ quản lý kỹ thuật
khá, có năng lực sản xuất mạnh, ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào quản lý sản xuất,
đã trở thành hộ nông dân sản xuất nông sản hàng hóa là chủ yếu với khối lượng nhiều, tỷ suất
hàng hóa cao. Loại hộ này chưa nhiều, mới chỉ 10% tổng số hộ nông dân cả nước nhưng đang
có xu thế tăng lên trong quá trình đi lên CNH đất nước.
2.5. Thực trạng sản xuất nông nghiệp của nông dân ở nước ta
Theo Lâm Quang Huyên (2003), loại hộ nông dân khá và giàu sản xuất nông sản hàng
hóa theo mô hình trang trại hiện nay rải rác ở các vùng đều có nhưng tập trung ở những nơi sản
xuất lúa hàng hóa như vùng lúa Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên (ĐBSCL), vùng trồng
cây công nghiệp xuất khẩu như: cà phê, cao su, chè ở vùng đồi núi Đông Nam Bộ, Tây Nguyên,
miền núi và Trung du Bắc Bộ và vùng nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản ở ven biển.
Lâm Quang Huyên (2003) cho rằng, ở vùng đồng bằng, kinh tế hộ nông dân đã sản xuất
(i) Đất xám trên phù sa cổ.
(ii) Đất xám đọng mùn gley
(iii) Đất xám trên đá granit (Phạm Quang Khánh, 1995).
Đặc điểm hình thành và loại hình đất: Theo Phan Liêu (1992), phân chia đất xám thành 6
loại:
1). Đất xám trên phù sa cổ 2). Đất xám trên phù sa cổ có tầng kết von đá ong
3). Đất xám trên granit 4). Đất xám mùn
5). Đất xám gley 6). Đất xám đọng mùn gley
Theo Phạm Quang Khánh (1995) chia đất xám ra 3 loại hình chính:
1). Đất xám trên granit 2). Đất xám trên phù sa cổ
3). Đất xám trên phù sa cổ đọng mùn gley
Theo FAO/UNESCO chia đất xám (ACRISOLS ) làm 5 loại hình:
1). Haplic Acrisols: Đất xám điển hình 2). Chromic Acrisols:Đất xám vàng
3). Ferric Acrisols: Đất xám có kết von 4). Gleyic Acrisols: Đất xám gley
5). Arenic Acrisols: Đất xám cơ giới nhẹ Bảng 4: Hàm lượng mùn, đạm, lân, kali trên đất xám (Phạm Quang Khánh, 1995)
3.3. Tính chất đất xám
3.3.1. Đất Đông nam bộ
Đất xám trên phù sa cổ có tầng thường rất dày, cơ giới nhẹ, dễ thoát nước, thuận lợi cho
cơ giới hóa và thích hợp với các loại cây trồng cạn. Tuy vậy, rất nghèo các chất dinh dưỡng, nên
khi sản xuất yêu cầu đầu tư cao về phân bón.
Tính chất hóa học hạn chế chính trên đất xám (Haplic Acrisols) là P và K (Công Doãn
Sắt, 1997). Ngoài ra, đối với đậu phộng trồng trên đất xám, yếu tố hạn chế năng suất là P, K,
Mg, S và Mo.
3.3.2. Đất đồi núi ở Tịnh Biên, Tri Tôn – An Giang
Tầng đất Mùn Tổng số (%) Dễ tiêu (mg/100g đất)
hàm lượng cát chiếm trên 60% như ở xã An Hảo, An Cư (Tịnh Biên). Đất hầu như không có độc
tố nhưng hàm lượng chất hữu cơ thường rất thấp từ 1,08 – 0,2% ở tầng bên dưới. Đất đồi núi tại
đây được phân thành các loại sau:
• Đất sườn tích tại chỗ
Đất sườn tích tại chỗ là đất phong hóa của đá mẹ rồi trầm tích tại chỗ dọc theo các sườn
núi. Bề dày tùy theo dốc đứng hay thoải, nhưng không quá 5 m. Đất phong hóa ở núi Cấm, núi
Phú Cường, Tà Pạ tương đối giàu dinh dưỡng và thành phần cơ giới lớn, tỷ lệ giữa cát và sét
khoảng 1,25–1,8. Tuy nhiên, phần lớn ở các núi khác như Cô Tô, núi Trà Sư, núi Két…thì nghèo
dinh dưỡng và tỷ lệ cát/ sét từ 2,5–2,8; gồm các hỗn hợp đá từ đá tảng, cuội, dăm đến cát.
• Đất yếm phù
Đây là đất phong hóa từ các nơi được dòng lũ mang đến tích tụ ở nơi có địa hình thấp hơn.
Loại đất này phân bố thành vành đai thấp chạy từ chân đồi Tức Dụp đến Ba Chúc (Tri Tôn).
Thành phần chủ yếu là sét, pha sét với hàm lượng chất hữu cơ thường cao. Đất có màu xám đen.
• Đất thềm cao
Đất thềm cao là loại đất cát, quanh chân núi hay còn được gọi là đất “ruộng trên”. Đất chủ
yếu là cát mịn, hàm lượng độc tố thấp, nhưng chất hữu cơ nghèo, có màu nâu xám lẫn một ít
thực vật. Phân bố tương đối rộng ở các chân núi của hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên.
Việc sử dụng đất tập trung trong mùa mưa, khi có nước; cây trồng chủ yếu là lúa một
vụ/năm, một số nơi có trồng thêm đậu xanh, màu, khoai mì.
• Đất dọc theo các rãnh, khe núi
Đất dọc theo các rãnh núi, khe núi gồm cát, sạn sỏi bở rời từ trên núi do mưa lũ kéo
xuống. Đất hầu như chủ yếu là cát, có lẫn một ít hữu cơ; loại này có diện tích không nhiều (Địa
Chí An Giang, 2003).
3.3.3. Kiến nghị sử dụng đất xám
Chỉ nên khai thác đất xám trên phù sa cổ cho sản xuất nông nghiệp. Trong đó ưu tiên
cho việc trồng các loại cây như cao su, điều vì nó có khả năng bảo vệ cải tạo đất tốt. Trong sử
dụng đất phải chú ý:
- Biện pháp chống xói mòn và rửa trôi, tăng cường bón phân bổ sung dinh dưỡng nhất là
các loại phân hữu cơ (Phạm Quang Khánh, 1995).
- Thế mạnh của đất xám là thích hợp cho cây công nghiệp và hoa màu, trở ngại là thiếu
Giữa các băng cây còn được trồng xen những hàng cây cố định đạm để giữ đất chống xói
mòn, làm phân xanh và lấy củi đun. Cây cố định đạm được trồng dày theo hàng đôi ngang dốc
để tạo thành rào xanh. Khi cây cao 1,5 – 2 m, chừa lại một phần gốc cao 40 – 50 cm để tiếp tục
đâm chồi, cắt phần trên xếp vào gốc vừa chặn dòng chảy vừa bón lại cho đất. Cây cố định đạm
thường được dùng là cây keo dậu, muồng hoa pháo, muồng ba lá dài.
Cơ cấu cây được sử dụng để đảm bảo được sự ổn định và có hiệu quả nhất là 75% cây
nông nghiệp và 25% cây lâm nghiệp. Trong cây nông nghiệp thì 50% là cây hằng năm và 25% là
cây lâu năm.
Hằng năm, người nông dân thu thập được một lượng hàng hóa tăng gấp rưỡi so với cách
trồng sắn độc canh của họ. Thu nhập bình quân của một gia đình bằng mô hình này ở phía Nam
Philippin được hơn 50 đô la Mỹ trong 1 tháng. Đó là chưa kể những lợi ích thu được về nhiều
mặt khác nhờ có tác dụng phòng chống xói mòn giữ đất, giữ nước tăng 4 lần, tăng được năng
suất cây trồng gấp 5 lần, hoàn trả và duy trì được độ phì đất, đa dạng hơn được sản phẩm thu
hoạch, tăng thêm được việc làm, tận dụng được mọi nguồn lao động trong gia đình.
Đây là mô hình sử dụng đất dốc tổng hợp nhưng đơn giản, cần vốn ít, đầu tư thấp. Các
hộ gia đình chỉ cần một số vốn nhỏ để mua giống và phân bón với công cụ cuốc xẻng thông
thường và một số hiểu biết về cây trồng và kỹ thuật canh tác là có thể thực hiện được.
4.2. Mô hình kỹ thuật nông – súc kết hợp đơn giản (SALT2)
Đây là một mô hình sử dụng đất tổng hợp dựa trên cơ sở phát triển mô hình kỹ thuật
canh tác nông nghiệp đất dốc (SALT1) nói trên bằng cách dành một phần đất trong mô hình đó
để chăn nuôi theo phương thức nông – lâm – súc kết hợp.
Ở Philippin, người ta chú trọng ứng dụng việc nuôi dê trong hệ thống để lấy thịt và sữa.
Một phần tư héc ta đất trồng được dành để trồng cây lương thực có hàng rào xanh và hàng cây
ngang dốc theo cách làm mô hình kỹ thuật canh tác nông nghiệp đất dốc để chống xói mòn, bảo
vệ đất và ngăn chặn súc vật phá hoại hoa màu. Một phần tư héc ta đất trồng khác trồng cây cỏ
14
làm thức ăn cho dê. Bằng cách đó, mỗi nhà nuôi 14 con dê, mỗi ngày mỗi con dê có thể cho 2 lít
sữa nếu có đầy đủ thức ăn.
Cơ cấu sử dụng đất thích hợp ở mô hình này là 40% dành cho sản xuất nông nghiệp,
dành 3000–4000 m
2
hoặc 5000–7000 m
2
để trồng cây ăn quả như đu đủ, chuối, cam, chanh,
xoài, dứa, dừa ...và cả một số cây công nghiệp có giá trị như cà phê, ca cao, chè .... Đối với các
loại cây này đòi hỏi đất đai phải tốt và có sự đầu tư thâm canh cao hơn về các biện pháp cày
cuốc, làm đất, bón phân, chọn giống, chăm sóc. Tuy nhiên, đây cũng là những loại cây gần gũi
quen thuộc với người nông dân, chỉ cần giúp họ hiểu biết về khoa học kỹ thuật bằng cách cho họ
tham gia trình diễn là họ có thể ứng dụng được.
Cũng như các mô hình trên, trong mô hình này, cây cố định đạm cũng được đặc biệt chú
ý, ngoài các tác dụng đã biết, nó còn có tác dụng che bóng và phủ đất cho cây ăn quả và cây
công nghiệp. Có 9 tiêu chuẩn để chọn lựa cây hàng rào xanh cố định đạm là: dễ gieo trồng; cho
năng suất sinh khối cao; nguồn giống dễ kiếm; khả năng hoai mục các cành khô, lá rụng nhanh;
15
có khả năng cố định đạm; có thể làm củi; làm thức ăn cho gia súc; chịu hạn và chống chịu được
sâu bệnh hại.
Ở Philippin người ta đã chọn được 5 loại cây đáp ứng được các tiêu chuẩn trên là cây
Phomingia macrophyla, Desmodium rensonii, Glyricidia sepium, keo dậu chịu đất chua và
muồng hoa pháo. Những cây này tuy không có ở nước ta nhưng cũng đã có những khảo nghiệm
bước đầu có một số cây có triển vọng phát triển tốt ở một số vùng như cây muồng hoa pháo ở
Hòa Bình, Sơn La; cây Gliricidia trồng ở Bắc Thái, Đồng Nai (Nguyễn Xuân Quát, 1999). Các
cây hoa màu được trồng trong hệ thống gồm rau đậu, ngũ cốc và rau cải.
4.5. Các mô hình khác
Các tài liệu sau đây có liên quan đến mô hình canh tác đất dốc tại Philippin, Thái Lan,
Đài Loan, Inđônêsia gần giống với điều kiện canh tác của Việt Nam.
Theo Chiu và Chen (2000) tại Indonesia, các hệ thống canh tác trên cơ sở bảo tồn đất
được áp dụng nhiều để chống xói mòn đất do mưa, chảy tràn và mất đất làm tăng năng suất cây
trồng, bảo đảm an ninh lương thực. Các thí nghiệm đưa ra hệ thống canh tác thích hợp như bắp -
-Lúa mùa+Củ sắn ĐX+Dưa leo HT 11.328 36.200 24.872 2,20 Rất cao
-Lúa mùa+Củ sắn XH 5.544 15.890 10.347 1,87 Cao
-Lúa mùa+Lạc xen đậu xanh ĐX 5.376 8.543 3.166 0,59 Thấp
+Không được tưới 16
-Điều 1.512 5.200 3.688 2,12 Rất cao
-Khoai mì 870 2.000 1.130 1,30 Trung bình
-Bắp HT+ Khoai mì mùa 2.845 5.417 2.572 0,90 Thấp
-Bắp HT+ Đậu xanh mùa 2.908 4.617 1.709 0,59 Thấp
-Bắp HT+ Đậu phộng mùa 3.074 4.750 1.676 0,55 Thấp
-Đậu phộng HT+Đậu xanh mùa 2.324 5.750 3.426 1,47 Trung bình
-Đậu phộng HT+Lạc xen đậu xanh mùa 5.250 8.750 3.500 0,67 Thấp
Theo báo cáo của Nguyễn Duy Cần (1996) trong hệ thống canh tác của nông dân tiên
tiến Phạm Văn Nhỏ tại xã Lê Trì đã cho biết hình thức xen canh ở đất dốc là khoai mì + đậu
xanh cho năng suất khoai mì là 30 t/ha và đậu xanh là 500 kg/ha.
Theo Nguyễn Bảo Vệ (2001) đã đề xuất một mô hình chung cho vùng đất xám cao vùng
đất cát Bảy Núi, vùng chân núi là hệ thống canh tác tổng hợp bao gồm trồng cỏ chăn nuôi bò và
trồng rau màu (lúa, đậu, bắp) và hệ thống cây chắn gió (cây lâm nghiệp hoặc cây ăn trái phân
tán) cộng với cỏ ngăn dòng chảy (trồng cỏ Vetiver phân tán chống xói mòn).
Trong bài tham luận tại Đại hội Đại Biểu Nông Dân Sản Xuất Kinh Doanh Giỏi Lần I
Huyện Tri Tôn của ông Nguyễn Thành An là nông dân xã Tân Tuyến – Tri Tôn – An Giang. Mô
hình 2 Dưa Hấu + 1 Lúa trên đất ruộng trong điều kiện đủ nước tưới rất có hiệu quả: vụ lúa
Đông Xuân đạt năng suất 8 tấn/ha/vụ; vụ dưa hấu tết đạt năng suất 25 tấn/ha/vụ, giá bán từ 1.600
- 2.500đ/kg trong khi giá thành sản xuất chỉ 700 – 850 đ/kg. Với diện tích đất 1 ha mỗi năm ông
An thu nhập gần 120 triệu đồng (Hội nông dân huyện Tri Tôn, 2004)
6. Hệ thống nông nghiệp bền vững
6.1. Định nghĩa
- Nền nông nghiệp lựa chọn (alternative agriculture)
- Thỏa mãn nhu cầu lương thực và chất xơ cho con người.
- Tăng cường chất lượng môi trường và nền tảng của nguồn tài nguyên thiên nhiên mà
nền kinh tế nông nghiệp dựa vào.
- Sử dụng tổng hợp có hiệu quả nhất các nguồn tài nguyên không hồi phục và nguồn tài
nguyên trong nông trại một cách thích đáng, tự nhiên.
- Áp dụng các chu trình sinh học và kiểm soát.
- Làm bền vững khả năng tồn tại và phát triển quá trình hoạt động của nông trại.
- Tăng cường chất lượng cuộc sống cho nông dân và xã hội nói chung.
Theo Võ-Tòng Xuân (2005) khuyến cáo không nên làm 3 vụ lúa đại trà ở ĐBSCL như
sau:
Quan điểm phát triển nền nông nghiệp bền vững là không nên phát triển đại trà lúa 3 vụ ở
ĐBSCL. Hãy cho đất nghỉ, đưa lũ tràn vào để lấy phù sa, diệt trừ sâu bệnh. Nông dân còn có
nguồn lợi tự nhiên để khai thác, đa dạng loại hình kinh tế, tăng thu nhập. Còn nếu canh tác vụ ba
trong đê bao thì nên hướng đến canh tác lúa giống, cây màu nhưng đặc biệt cũng cần xen lẫn
những vụ nghỉ để lũ vào đồng. Ngay cả trồng màu, các địa phương cũng phải chú ý đến vấn đề
đầu ra. Đó là cái khó của ĐBSCL, không giải quyết được nó thì người dân vừa cực vừa nghèo
thêm…
Hiện nay, nhiều địa phương có đê bao đang chạy theo thành tích báo cáo lên trên để nông
dân ồ ạt sản xuất lúa vụ 3. Thậm chí còn làm 7 vụ/2 năm. Tôi biết chắc những nông dân này
không thể nào làm giàu từ mảnh ruộng của mình trong khi phân bón thuốc men phải dồn dập đổ
xuống dẫn đến suy thoái đất vì mất cân bằng dưỡng chất.
Xây dựng đê bao, bờ bao đã khó, đã tốn kém (chưa nói đến đúng hay sai), nhưng làm sao
để các công trình đó hoạt động theo đúng thiết kế xem chừng còn khó hơn. Tôi biết có đê bao
làm xong một, hai năm được bữa ra cho lũ vào, nhưng sau đó kiên cố luôn để không cho một
giọt lũ nào vào đồng. Lý do địa phương đưa ra là không còn đất, còn cừ để hàn lại đê bao nếu cứ
làm như vậy, nhưng còn có lý do không nói ra là áp lực của cái lợi trước mắt. Thậm chí, nhiều
đê bao được thiết kế cống bọng để chủ động điều tiết lũ vào đồng, nhưng suốt nhiều năm liền
không thấy giọt lũ nào vào đồng, ngoài chuyện làm giảm năng suất, ô nhiễm môi trường sinh
hoạt sống và đất đai nông nghiệp cũng đến mức báo động.
6.2. Vai trò cây phân xanh đối với HTCT bền vững trên đất dốc
hôi (Cassia hirsita), Quì dại (Tithonia diversifolia)
Đến những năm 2000-2005, Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền nam trong
chương trình hợp tác với Đại Học Công giáo Leuven, Vương quốc Bỉ về làm giàu quỹ lân cho
đất Đông nam bộ và Tây nguyên trên các điểm thí nghiệm xã Đà Loan (Lâm Đồng), xã Đak
Nhau (Bình Phước) và xã Nghĩa Hòa, xã Iablang (Gia Lai) kết luận:
• Cây tóp mỡ (Flemigia sp), đậu mèo (Mucuna pruriens), sắn dây dại (Pueraria
phaseoloides) và quì dại (Tithonia diversifolia) có tiềm năng cho năng suất thân lá cao và ổn
định (trên 10 tấn/ha). Năng suất thân lá tươi trung bình của tóp mỡ, đậu mèo và sắn dây dại qua
các điểm nghiên cứu đạt từ 11,0- 12,5 t/ha/năm. Đặc biệt đối với cây quì dại đạt trên 20 t/ha/năm
(Phan Thị Công, Roel Merckx, Công Doãn Sắt, Nguyễn Quang Chơn, Nguyễn Bình Duy, 2005).
7. Sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng
Theo Võ-Tòng Anh (2005) định nghĩa :
Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi là tập trung vào việc chuyển đổi từ cây trồng có
giá trị thấp sang cây có giá trị cao hơn, sang chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản. Mặc dù “cây có giá
trị thấp” được xác định băng giá trị của nó trên một đơn vị trọng lượng, song hợp lý hơn cả có
thể xác định đó là những cây trồng mang lại lợi ích kinh tế cao trên một đơn vị diện tích ruộng
đất hoặc công lao động.
19
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi là thực hiện một bước chuyển từ trạng thái cơ cấu
cây trồng vật nuôi cũ sang trạng thái cơ cấu cây trồng, vật nuôi mà mình mong muốn để có thể
đáp ứng được những yêu cầu của chuyển đổi. Thực chất của việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng,
vật nuôi là thực hiện một loạt các biện pháp chính sách nhằm thúc đẩy phát triển cơ cấu cây
trồng, vật nuôi mới có triển vọng về thị trường.
Theo chủ trương chuyển cơ cấu nông nghiệp nông thôn của tỉnh cho hai huyện miền núi
Tri Tôn và Tịnh Biên là: vùng đất ruộng bưng trũng chịu một mùa lũ kéo dài năm tháng nên phát
triển diện tích trồng tràm, trồng khoai mì hoặc một vụ lúa mùa + một vụ rẫy đông xuân; vùng
ruộng trên có thể áp dụng một trong bốn hệ thống: đồng cỏ chăn nuôi, đậu xanh Hè Thu + lúa
mùa (KDM 105), chuyên rẫy màu Hè Thu – màu Thu Đông, chuyên rẫy khoai mì (Sở nông
nghiệp và phát triển nông thôn An Giang, 2001).
20
- Nội dung và hình thức điều tra: điều tra theo phiếu điều tra đã thiết kế sẵn theo mẫu của
Viện Hệ Thống Canh Tác Đại học Cần Thơ.
- Tổng hợp và phân tích mẫu điều tra: Hoàn chỉnh các phiếu điều tra và tiến hành nhập
số liệu (bảng biểu đã thiết kế sẵn).
- Xử lý số liệu: Số liệu được xử lý bằng Microsoft Excel. Các giá trị được tính là: Giá trị
trung bình (mean), giá trị lớn nhất (max), giá trị nhỏ nhất (min), giá trị phần trăm (%).
- Bổ sung số liệu: Các phiếu còn thiếu thông tin hoặc thông tin sai lệch thì tiến hành
phỏng vấn lại và nhập số liệu bổ sung.
3. Phân tích thống kê mô tả các chỉ tiêu
Tính trung bình tất cả các chỉ tiêu của các nông hộ như:
- Phân tích nguồn lực nông hộ
+ Nguồn lực về lao động.
+ Nguồn lực về đất đai.
+ Nguồn lực về phương tiện sinh hoạt gia đình: phương tiện giao thông, tài sản
gia đình phục vụ cho hoạt động vui chơi giải trí, công cụ lao động phục cho hoạt động sản xuất
nông nghiệp,…
+ Nguồn lực về việc sử dụng nước.
- Cơ cấu thu nhập của nông hộ
+ Thu nhập từ sản xuất nông nghiệp: trồng lúa, trồng màu, chăn nuôi,…
+ Thu nhập từ phi nông nghiệp và dịch vụ.
+ Chi tiêu gia đình trong một năm.
+ Tích lũy (hay tiền để dành) hàng năm.
- Phân tích sản xuất các mô hình canh tác (mùa vụ, cây trồng, lợi nhuận,…)
+ Cơ cấu mùa vụ sản xuất lúa 2 vụ.
+ Cơ cấu mùa vụ trồng màu.
+ Cơ cấu mùa vụ trong chăn nuôi.
+ Tương hỗ giữa chăn nuôi và trồng trọt.
+ Những thuận lợi và khó khăn chung của nông dân.
( Lãi/vốn)
(TVCE: Total Variable Cost Efficiency)
Mục đích: Tính được 1 đồng vốn biến phí mang lại bao nhiêu đồng lãi
4.1.3. Lợi tức/nhân tố đầu tưAFACTOR
TVCGR
..
−
. Trong đó: nhân tố A (factor A) là lao động hoặc vật tư
Mục đích: Đánh giá mức sử dụng đồng vốn và công lao động so với lợi nhuận thu được
từ các mô hình sản xuất.
4.2. Các chỉ tiêu so sánh giữa 2 mô hình
Các chỉ tiêu sau dùng để so sánh hiệu quả kinh tế giữa mô hình HTCT đang được trồng
đại trà (mô hình phổ biến) với mô hình có hiệu quả cao (mô hình tiên tiến) tại vùng nghiên cứu
(Kay, 1988).
4.2.1. Tỉ số lợi nhuận mô hình tiên tiến/ phổ biến
là tỉ số suy ra từ phép
phân tích điểm hòa vốn (Break-even budgeting analysis) trong phân tích kinh tế toàn nông trại
(Whole Farm Analysis).
Theo phương pháp tính nầy, trước hết là năng suất sau đó là sản lượng và giá đầu ra của
mô hình mới phải cao hơn mô hình hiện đang canh tác thì nông dân mới chấp nhận chuyển đổi
sang mô hình mới. Do đó, phải thỏa mãn điều kiện của hệ phương trình:
RAVC
n
= 0 (1)
Trong đó: - RAVC
4.2.2.. Tỉ
số
doanh thu/chi phí biên
(MRCR: Marginal Revenue Cost Rate)
là tỉ số giữa mức thu tăng thêm và mức chi tăng thêm trên một đơn vị diện tích 1 ha của mô hình
tiên tiến so với mô hình phổ biến. Ý nghĩa: nếu mức chi tăng thêm 1 đồng thì mức thu sẽ tăng
thêm A lần/1 đồng.
12
12
TVCTVC
GRGR
MRCR
−
−
=
Trong đó:
GR
2
: Tổng thu mô hình sản xuất có hiệu quả cần so sánh (tiên tiến).
GR
1
: Tổng thu mô hình sản xuất được trồng đại trà (phổ biến).
TVC
2
RAVC
1
: Lợi nhuận mô hình sản xuất phổ biến.
TVC
2
: Tổng phí mô hình sản xuất tiên tiến.
TVC
1
: Tổng phí mô hình sản xuất phổ biến
Mục đích so sánh: Tính được lợi nhuận tăng thêm khi chi phí gia tăng của các mô hình
tiên tiến so với mô hình phổ biến.
5. Lựa chọn mô hình hiệu quả tài chính cao
Dùng các chỉ tiêu tài chính như hiệu quả đồng vốn, lợi nhuận, tỉ số lợi nhuận, MBCR,
MRCR trong đó 2 chỉ tiêu lợi nhuận so sánh và MBCR cao có tính quyết định là mô hình tiên
tiến hiệu quả hơn hay không so với mô hình phổ biến. Nếu hai chỉ tiêu nầy bằng nhau mới xét
đến các chỉ tiêu kế tiếp.
6. Đề xuất mô hình HTCT có hiệu quả cao và bền vững
Dùng các tiêu chí của Phân viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp để chọn lựa các mô
hình HTCT gồm có:
1. Gia tăng lợi nhuận nông hộ
2. Thỏa mãn mục tiêu Nhà nước
3. Thúc đẩy tiềm năng sản xuất vùng
4. Bảo vệ môi trường bền vững
Mỗi tiêu chí được đánh giá bằng thang điểm 1 đến 3 .
Điểm 1: *** Hiệu quả cao
Điểm 2: ** Hiệu quả trung bình
Điểm 3: * Hiệu quả thấp
Mô hình nào đạt được ít nhất 2 tiêu chí với hiệu quả cao thì được chọn. Từ các
mô hình được chọn sẽ thiết kế được ít nhất 2 mô hình có hiệu quả cao và bền vững để khuyến
cáo nhân rộng cho toàn vùng nghiên cứu.
cần cù sáng tạo của người dân trong xã thể hiện rất cao. Từ đó việc triển khai kế hoạch
Kinh tế -
Xã hội
luôn đạt hiệu quả cao nhưng tốc độ còn chậm, nhất là sự phát triển các ngành nghề tiểu
thủ công nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và vật nuôi của tỉnh đề ra.
1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Lương Phi, Lê Trì và thị trấn Ba Chúc có tổng diện tích đất tự nhiên là 15.208 ha, trong
đó diện tích đất nông nghiệp là 10.693 ha, đất lâm nghiệp là 1.973 ha, đất chuyên dùng là 1.021
ha, đất ở là 408 ha, đất chưa sử dụng là 1.123 ha (Niên giám thống kê huyện Tri Tôn, 2003). Ba
xã Lương Phi, Ba Chúc, Lê Trì nằm ở dưới chân núi Dài nối liền nhau qua hương lộ Tri Tôn –
Lương Phi – Ba Chúc – Lê Trì (Hình 1)
Lương Phi là xã miền núi thuộc huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Hướng Đông giáp xã
Châu Lăng; hướng Tây giáp xã Vĩnh Phước, xã Lương An Trà, xã An Tức; hướng Bắc giáp thị
trấn Ba Chúc, xã Lê Trì. Tại xã Lương Phi, diện tích đất tự nhiên là 4.011 ha. Trong đó, diện tích
đất nông nghiệp là 2.414 ha, đất lâm nghiệp là 940 ha, đất chuyên dùng là 222 ha, đất thổ cư là
209 ha, đất hoang hóa (đất chưa sử dụng) là 226 ha. Nếu phân loại diện tích đất theo hệ thống
canh tác thì có 240 ha đất ruộng trên, 210 ha đất vườn tạp, 997 ha đất lâm nghiệp, 10 ha đất núi,
232 ha đất chuyên dùng và 175 ha đất ở (Niên giám thống kê huyện Tri Tôn, 2003).
Thị trấn Ba Chúc thuộc huyện Tri Tôn, cách trung tâm huyện 18 km. Với vị trí địa lí:
hướng Đông giáp xã Lê Trì, hướng Tây giáp xã Lương An Trà, hướng Nam giáp xã Lương Phi
và hướng Bắc giáp xã Lạc Quới. Tổng diện tích tự nhiên 2.056 ha, trong đó diện tích đất núi
chiếm 700 ha, diện tích đất nông nghiệp chiếm 721 ha. Thị trấn có ba dân tộc sinh sống chủ
yếu: Kinh, Khmer và Hoa. Tổng dân số của thị trấn là 3.605 hộ (15.499 khẩu), trong đó hộ dân
tộc Khmer 183 hộ (844 khẩu), dân tộc Hoa 60 hộ (308 khẩu). Dân số sống bằng nghề mua bán
như dịch vụ thương mại, tiểu thủ công
nghiệp chiếm tỷ lệ 30%, còn lại 70% chủ yếu sống bằng
nghề sản xuất nông nghiệp (Báo cáo ĐU-UBND Thị trấn Ba Chúc, 2004). 24
Trung An, Sóc Tức. Hướng Đông giáp xã An Cư – An Nông thuộc huyện Tịnh Biên. Hướng Tây
giáp thị trấn Ba Chúc. Hướng Nam giáp xã Lương Phi, Châu Lăng. Hướng Bắc giáp Lạc Quới.
2. Mặt cắt sinh thái vùng nghiên cứu
Căn cứ vào địa hình, thủy văn, điều kiện đất đai và hiện trạng canh tác mặt cắt sinh thái
của vùng nghiên cứu từ trên núi Dài đi xuống có thể chia thành 4 vùng có đặc điểm tương đối
khác nhau rõ rệt:
- Vùng trên núi: Với độ cao 571 m, nhiệt độ mát hơn nên thích hợp với cây trồng chịu
lạnh như su su, dó bầu, cây ăn trái. Độ sâu tầng đất canh tác rất biến thiên, có nơi rất mỏng nhỏ
hơn 0,3 m ở triền dốc đá, có nơi lại sâu hơn trên 3 m dọc theo triền suối hoặc thung lũng. Nói
chung, đất bạc màu vì bị xói mòn dữ dội trong vài ba chục năm qua nhưng từ 10 năm trở lại đây
nhờ trồng rừng nên đất được bảo vệ tương đối.
-
Vùng chân núi: Đất dốc trên 13
o
nên bị xói mòn mạnh, bị rửa trôi nên đất bạc màu.
Thêm vào đó, do cát từ trên núi bồi tụ, sa cấu chứa rất nhiều cát có nơi lên đến 60-70% nên đất
rất phù hợp với các loại củ như củ sắn, khoai mì, gừng. Vấn đề nước tưới rất nan giải, chủ yếu
nhờ nước trời ngoại trừ những nơi gần suối có thể bơm nước bằng ống dây hoặc mương máng
nổi. Nơi đây tập trung đông đảo nhà ở của đại bộ phận dân cư, có đường nhựa giao thông, hệ
thống ống cấp nước tiêu dùng và đường dây dẫn điện cho toàn vùng.
-
Vùng ruộng trên: Đất dốc dưới 8
o
thuộc loại cát pha thịt, ít bị rửa trôi hơn vùng trên,
nước tưới nhờ vào nước mưa nhưng đã có thể bơm bằng máy bơm dẫn từ các kênh mương thủy
lợi tuy nhiên không phải lúc nào cũng đủ nước tưới. Đặc điểm quan trọng của vùng nầy là nước
lũ hằng năm không ngập tới được. Hoa màu phổ biến là bắp, củ sắn, khoai mì, gừng. Cũng có
những xóm nhà của dân cư ở rải rác.