Luận án: trách
nhiệm xã hội
của doanh
nghiệp
MỤC LỤC
Luận án: trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 1
MỤC LỤC 2
Một công ty phải làm gì để có thể được xã hội đánh giá là một công ty tốt và phát
triển bền vững?Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhàn nước tới đâu?Luật nên quy định
trách nhiệm của doanh nghiệp đến mức độ nào thì hợp lý?Và phải chăng người tiêu dùng
ở những nước đang phát triển như Việt Nam có quá ít quyền lực,dễ bị tổn thương,hoặc họ
không ý thức được đầy đủ và sử dụng hết các quyền và phương tiện của mình để bảo vệ
lợi ích chính đáng của họ?Nhằm góp phần giải đáp các câu hỏi trên,chúng tôi tiếp cận từ
góc độ kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực này với suy nghĩ rằng nền kinh tế phát triển
đều đã từng đối mặt với vấn đề chúng ta gặp phải ngày hôm nay,do đó những cuộc tranh
luận và giải pháp của họ rất đáng để chúng ta tham khảo.
Kể từ khi xuất hiện khái niệm Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp(corporate social
responsibility – CSR)lần đầu tiên vào năm 1953,chủ đề này đã gây ra cuộc tranh luận sôi
nổi giữa hai trường phái chính trị “đại diện” và “đa bên” trong quản trị công ty;trên bình
diện lớn hơn,đây là sự tranh chấp giữa chủ nghĩa tư bản tự do(bảo thủ,cánh hữu) và chủ
nghĩa tư bản xã hội(dân chủ,cánh tả).Nội dung chính của cuộc tranh luận xoay quanh hai
vần đề then chốt trong CSR là: bản chất của doanh nghiệp hiện đại,và mối quan hệ ba
bên:doanh nghiệp – xã hội – nhà nước.
Trong tình Công ty Cổ phần Cơ Khí Luyện Kim – SADAKIM có những bước phát
triển nhất định cũng gặp không ít khó khăn vừa cạnh tranh với nền kinh tế thị trường, vừa
có sự xâm nhập của các mặt hàng nước ngoài . Từ đó, vấn đề là làm thế nào để có thể
cung cấp thông tin kịp thời về tình hình tiêu thụ hàng hóa trong mạng lưới tiêu thụ của
Công Ty, cũng như xác định kết quả kinh doanh của từng kênh phân phối là vấn đề có ý
nghĩa thiết thực đới với doanh nghiệp, nhất là trong điều kiện cạch tranh mạnh mẽ trong
những mặt hàng kinh doanh như hiện nay.
Xuất phát từ sự cần thiết về cách quản lí Công Ty một cách hiệu quả, từ ý tưởng đó,
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. Khái quát về tình hình hoạt động sản xuấtt kinh doanh của công ty.
1. 1 Vài nét sơ lược về công ty.
Tên giao dịch : Công ty cổ phần cơ khí luyện kim
Tên viết tắt :SADAKIM
Địa chỉ trụ sở chính : Đường số 2, KCN Biên Hòa 1, Biên Hòa, Đồng Nai
Điện thoại :0613836170
Fax :0613836774
Thành lập :03/1997.
1. 2 Đặc điểm sản xuất kinh doanh.
- Ngoài những mặt hàng truyền thống phục vụ luyện gang thép như nhửng đặt hàng
từ các công ty trực thuộc Tổng công ty Thép Miền Nam và một số công ty thuộc khu vực
Đà Nẵng và miền Bắc. Công ty còn sản xuất những mặt hàng phục vụ các công ty trong
ngành mía đường như Nhà máy đường Sóc Trăng, Nhà máy đường Hiệp Hòa ( Long An )
… và một số trang thiết bị phục vụ ngành xi măng cốt thép.
- Công ty đang đưa vào hoạt động đúc một số mặt hang xuất khẩu như má phanh xe
lửa, dao cào tuyết xuất khẩu qua Canada, đúc các mặt hang vò động cơ cho hang
Toshiba, Nhật Bản.
- Hiện nay, Công ty cổ phần cơ khí luyện kim là thành viên của Tổng công ty thép
Việt Nam, cơ quan đại diện cho ngành gang thép Việt Nam, cung ứng đa dạng các mặt
hàng cho thị trường trong nước và xuất khẩu.
1.3. Sơ đồ tổ chức bộ máy.
2. Cơ sở lý luận và thực tiễn.
2.1. Cơ sở lý luận.
XƯỞNG GIA
CÔNG KẾT CẤU
XƯỞNG ĐÚC XƯỞNG CƠ KHÍ
TỔ VẬN TẢI
BAN KCS
xã hội còn hạn chế; năng suất bị ảnh hưởng khi phải thực hiện đồng thời nhiều bộ quy tắc
ứng xử; thiếu nguồn tài chính và kỹ thuật để thực hiện các chuẩn mực trách nhiệm xã hội
(đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ); sự nhầm lẫn do khác biệt giữa qui định
của bộ quy tắc ứng xử và Bộ Luật Lao động; và những quy định trong nước ảnh hưởng
tới việc thực hiện các bộ quy tắc ứng xử. Như vậy, việc thực hiện trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp là một vấn đề không dễ dàng. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, các
doanh nghiệp cần phải quan tâm và thực hiện trách nhiệm xã hội, vì người tiêu dùng, nhà
đầu tư, nhà hoạch định chính sách và các tổ chức phi chính phủ trên toàn cầu ngày càng
quan tâm hơn tới ảnh hưởng của việc toàn cầu hoá đối với quyền của người lao động, môi
trường và phúc lợi cộng đồng. Những doanh nghiệp không thực hiện trách nhiệm xã hội
có thể sẽ không còn cơ hội tiếp cận thị trường.
Ngày nay, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao hàm nhiều khía cạnh hơn.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, một doanh nghiệp hiện đại chỉ được xem là có trách
nhiệm xã hội khi: đảm bảo được hoạt động của mình không gây ra những tác hại đối với
môi trường sinh thái, tức là phải thể hiện sự thân thiện với môi trường trong quá trình sản
xuất của mình, đây là một tiêu chí rất quan trọng đối với người tiêu dùng; Phải biết quan
tâm đến người lao động, người làm công cho mình không chỉ về mặt vật chất mà còn về
mặt tinh thần, buộc người lao động làm việc đến kiệt sức hoặc không có giải pháp giúp
họ tái tạo sức lao động của mình là điều hoàn toàn xa lạ với trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp; Phải tôn trọng quyền bình đẳng nam nữ, không được phân biệt đối xử về mặt giới
tính trong tuyển dụng lao động và trả lương mà phải dựa trên sự công bằng về năng lực
của mỗi người; Không được phân biệt đối xử, từ chối hoặc trả lương thấp giữa người
bình thường và người bị khiếm khuyết về mặt cơ thể hoặc quá khứ của họ; Phải cung cấp
những sản phẩm có chất lượng tốt, không gây tổn hại đến sức khoẻ người tiêu dùng, đây
cũng là một tiêu chí rất quan trọng thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người
tiêu dùng; Dành một phần lợi nhuận của mình đóng góp cho các hoạt động trợ giúp cộng
đồng. Vì cộng đồng và san sẻ gánh nặng với cộng đồng đang là một mục tiêu mà các
doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội đang hướng tới bên cạnh mục tiêu phát triển lợi
nhuận của mình, như các chương trình hỗ trợ châu Phi, châu Á trong lĩnh vực chăm sóc
sức khỏe của nhà tỷ phú Bill Gates là một ví dụ tiêu biểu. Quả thực, sẽ có nhiều trẻ em
ngưỡng, dân tộc thiểu số, người nước ngoài, tuổi tác, giới tính. Tiêu chuẩn SA8000
không cho phép có sự phân biệt đối xử.
Kỷ luật lao động: Các vấn đề liên quan đến các hình thức kỷ luật được phép và
không được phép (đánh đập, roi vọt, xỉ nhục, đuổi việc, hạ bậc lương, quấy rối tình dục
v.v)
Thời gian làm việc: Nói chung được đưa ra tương thích với các tiêu chuẩn trong
bộ Luật lao động của từng quốc gia cũng như các tiêu chuẩn của ILO về thời gian làm
việc thông thường, lao động thêm giờ, các ưu đãi về thời gian làm việc đối với lao động
nữ (trong hay ngoài thời kỳ thai sản và nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi).
Lương và các phúc lợi xã hội khác (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế v.v)
Quản lý doanh nghiệp: Các vấn đề về quản lý của giới chủ, bao gồm các vấn đề
liên quan đến quyền được khiếu nại của người lao động và nghĩa vụ phải trả lời hay giải
đáp khiếu nại của chủ.
Quan hệ cộng đồng: Bao gồm quan hệ với các tổ chức, cơ quan khác hay dân cư
trong khu vực.
Chi phí giám định để có thể cấp chứng chỉ cho một doanh nghiệp, trang tại hay
văn phòng nào đó dao động theo quy mô và lực lượng lao động được sử dụng. Nó có thể
lên tới 10.000-12.000 USD cho các xí nghiệp lớn (thời giá 2005).
Năm 2005, Clean Clothes Campaign thông báo đã phát hiện các chứng cứ cho
thấy có sự vi phạm lặp lại các tiêu chuẩn SA8000 tại một số xí nghiệp đã có chứng chỉ
SA8000 do tổ chức kiểm tra các tiêu chuẩn xã hội trung gian cấp.
b. Bộ tiêu chuẩn ISO 14000.
Dân số, tài nguyên và môi trường trong những năm gần đây đã trở thành mối quan
tâm của nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế. Quá trình hoạt động công nghiệp đã ngày
càng làm cho cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường và hiệu quả cuối cùng là làm suy
thoái chất lượng sống của cộng đồng. Do đó, bảo vệ môi trường đã trở thành một vấn đề
hết sức quan trọng, một trong những mục tiêu chính nằm trong các chính sách chiến lược
của các quốc gia. Nhất là sau Hội nghị thượng đỉnh về trái đất tại Rio De Janeiro-Brazil
tháng 6/1992 thì vấn đề môi trường đã nổi lên như một lĩnh vực kinh tế, được đề cập đến
trong mọi hoạt động của xã hội, trong phạm vi quốc gia, khu vực và quốc tế.
5. Kiểm tra và hành động khắc phục
6. Xem xét lại của ban lãnh đạo
Các bước áp dụng ISO14001:2004
1. Chuẩn bị và lập kế hoạch tiến hành dự án.
2. Xây dựng và lập văn bản hệ thống quản lý môi trường
3. Thực hiện và theo dõi hệ thống quản lý môi trường
4. Đánh giá và xem xét
5. Đánh giá, xem xét và chứng nhận hệ thống
6. Duy trì cải tiến hệ thống.
c. Bộ quy tắc ứng xử CoC
1. Tuân thủ pháp luật
Tuân theo tất cả các luật và quy định được áp dụng, các tiêu chuẩn công nghiệp tốI
thiểu, các thỏa thuận Tổ chức lao động quốc tế và Liên Hiệp Quốc, và những yêu cầu
tương ứng khác do luật pháp quy định, áp dụng luật nào nghiêm ngặt hơn.
2. Tự do lập Hội và Quyền Thương lượng Tập thê
Quyền của mọi cá nhân để hình thành và tham gia các tổ chức đoàn thể theo ý họ
và để thương lượng tập thể cũng sẽ được tôn trọng. Trong những tình huống hoặc tại
những quốc gia mà các quyền về tự do lập hội và thương lượng tập thể bị luật pháp giới
hạn, các biện pháp tương đương của tổ chức độc lập và tự do cũng như việc thương lượng
sẽ được hỗ trợ cho mọi cá nhân. Các đại diện của cá nhân sẽ được đảm bảo tham gia vào
vai trò thành viên của họ tại nơi làm việc.
- Phù hợp với các Công ước ILO 87, 98, 135 và 154.
3. Cấm Phân biệt
Không cho phép một hình thức phân biệt nào trong việc thuê mướn, trả thù lao,
được tham gia đào tạo, đề bạt, chấm dứt hợp đồng hoặc nghỉ hưu dựa trên giới tính, tuổi
tác, tôn giáo, chủng tộc, địa vị xã hội, bối cảnh xã hội, sự tàn tật, nguồn gốc dân tộc và
quốc gia, quốc tịch, thành viên trong tổ chức của người lao động, bao gồm các hiệp hội,
sự gia nhập chính trị, định hướng giới tính hoặc bất cứ một đặc điểm cá nhân nào khác.
- Phù hợp với các Công ước ILO 100, 111, 143 158 và 159.
4. Đền bu
Hiệp Quốc và/hoặc luật pháp quốc gia. Trong số các tiêu chuẩn khác nhau này, tiêu
chuẩn nào nghiêm ngặt nhất sẽ được tuân thủ. Cấm bất cứ hình thức bóc lột trẻ em nào.
Cấm những điều kiện làm việc như nô lệ hoặc có hại cho sức khỏe trẻ em. Quyền của các
lao động trẻ tuổi phải được bảo vệ. Trong trường hợp nhận thấy những trẻ em làm việc
trong những tình huống đúng với định nghĩa về lao động trẻ em ở trên, công ty cung ứng
đó cần phải thiết lập và lưu lại các chính sách và thủ tục để bù đắp cho những trẻ em phải
làm việc như vậy. Hơn nữa, công ty cung ứng đó cần phải cung cấp hỗ trợ thích hợp để
cho phép những trẻ em đó được tiếp tục đi học cho đến khi nào đủ lớn.
- Phù hợp với các Công ước ILO 79, 138, 142 và 182 và Khuyến cáo ILO 146.
8. Cấm Cưỡng bức Lao động và các Biện pháp Kỷ luật
Tất cả các hình thức lao động cưỡng bức, chẳng hạn như phải nộp tiền đặt cọc
hoặc các hồ sơ nhận diện của cá nhân đối với việc thuê mướn lao động đều bị cấm và
xem như là lao động của tù nhân vi phạm các quyền cơ bản của con người. Cấm sử dụng
các hình phạt về thể xác, tinh thần hoặc ép buộc về thân thể cũng như việc lạm dụng bằng
lời nói.
- Phù hợp với các Công ước ILO 29 và 105.
9. Các vấn đề an toàn và môi trường
Các thủ tục và tiêu chuẩn xử lý chất thảI, xử lý các chất thảI hóahọc và các chất có
hạI khác, các xử lý phát ra hoặc thảI ra phảI đạt đến hoặc vượt quá yêu cầu tốI thiểu mà
phát luật quy định.
10. Các Hệ thống Quản lý
Công ty cung ứng sẽ đặt ra và thực hiện một chính sách đối với khả năng chịu
trách nhiệm về mặt xã hội, một hệ thống quản lý để đảm bảo rằng các yêu cầu của Bộ
luật Ứng xử BSCI có thể được đáp ứng cũng như thiết lập và tuân thủ chính sách chống
hối lộ/chống tham nhũng trong tất cả các hoạt động kinh doanh của họ. Ban quản lý phải
chịu trách nhiệm về việc thực hiện đúng và cải thiện liên tục bằng cách thực hiện các biện
pháp sửa chữa và đánh giá định kỳ về Bộ luật Ứng xử cũng như việc trao đổi thông tin về
các yêu cầu của Bộ luật Ứng xử cho mọi người lao động. Cũng cần phải chỉ rõ những
mối quan tâm về việc không tuân thủ Bộ luật Ứng xử này của người lao động.
2. 2. Cơ sở thực tiễn.
Có thể nói CSR đã có chỗ đứng khá vững chắc trong nhận thức của giới doanh
nghiệp.Một số trung tâm,viện nghiên cứu về trách nhiệm doanh nghiệp đã được các
trường đại học ở Mỹ thành lập.78% sinh viên ngành quản trị doanh nghiệp cho rằng chủ
đề CSR nên được đưa vào các chương trình giảng dạy.Trong cuộc khảo sát của công ty
McKinsey năm 2007, 84% số quản trị viên cao cấp được hỏi cho rằng đóng góp vào các
mục tiêu xã hội của cộng đồng cần được tiến hành song song với việc gia tăng giá trị cổ
đông,trong khi chỉ có 16% cho rằng lợi nhuận là mục tiêu duy nhất.51% và 48% ý kiến
lần lượt cho rằng môi trường(trong số 15 vấn đề chính trị-xã hội khác nhau) là vấn đề
hàng đầu tập trung sự chú ý của công luận và có ảnh hưởng tiêu cực hoặc tích cực đối với
giá trị cổ đông trong 5 năm tới.Khi được hỏi về ảnh hưởng xấu mà các công ty có thể gây
ra cho cộng đồng,65% trả lời-ô nhiễm môi trường,40% - đặt lợi nhuận lên trên sức khỏe
con người,30%-gây áp lực chính trị.Về các ảnh hưởng tích cực mà doanh nghiệp đem lại
thì tạo việc làm được xếp cao nhất(65%),tiến bộ khoa học công nghệ(43%),cung cấp sản
phẩm-dịch vụ cho nhu cầu con người(41%),nộp thuế(35%).(Với sự tham gia của 2687
quản tri viên cao cấp trong đó 36% là tổng giám đốc của các công ty lớn trên khắp thế
giới.)
2.2.2 Vấn đề CSR ở Việt Nam.
Tại Việt Nam, Chính phủ đã nâng cao nhận thức của doanh nghiệp và các bên liên
quan về CSR, coi CSR là một nội dung quan trọng trong chương trình nghị sự về phát
triển bền vững. Các tổ chức phát triển quốc tế tại Việt Nam đã nỗ lực rất nhiều trong thúc
đẩy và triển khai CSR. Các chương trình và dự án liên quan tới CSR tập trung vào một số
nội dung quan trọng của CSR tùy thuộc vào mục tiêu của dự án, nguồn lực và kinh
nghiệm sẵn có.
Các nội dung đó bao gồm: điều kiện làm việc, an toàn vệ sinh lao động, môi
trường, chất lượng và năng suất, quan hệ lao động và quản lý nguồn nhân lực. Dịch vụ tư
vấn và cấp chứng chỉ cho các hệ thống quản lý đang phát triển và mở rộng, ví dụ như Hệ
thống quản lý chất lượng (ISO9000), Hệ thống quản lý môi trường (ISO14000), Lao
động và trách nhiệm xã hội (SA8000)
Tuy nhiên còn một số trở ngại trong việc thực hiện CSR tại Việt Nam như: Khái
niệm CSR vẫn còn mới đối với rất nhiều doanh nghiệp trong cộng đồng doanh nghiệp
chưa qua xử lý ra sông Thị Vải, cùng các hành vi gây ô nhiễm môi trường có hệ thống
của nhiều công ty khác. Như vậy, đối với trường hợp Vedan, việc kinh doanh của họ là
không có đạo đức và hành xử vô trách nhiệm với môi trường, người lao động và ngay cả
với xã hội đang nuôi dưỡng công ty.
CSR được giới thiệu vào nước ta thông qua hoạt động của các công ty đa quốc gia
đầu tư vào Việt Nam.Các công ty này thường xây dựng được các bộ quy tắc ứng xử và
chuẩn mực văn hóa kinh doanh có tính phổ biến để có thể áp dụng trên nhiều địa bàn thị
trường khác nhau.Do đó,nội dung CSR được các công ty nước ngoài thực hiện có bài bản
và đạt hiệu quả cao.Có thể lấy một số ví dụ nổi bật như chương trình “Tôi yêu Việt Nam”
của công ty Honda- Việt Nam;chương trình giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ em tại các
tỉnh miền núi của công ty Unilever;chương trình đào tạo tin học Topic của
Microsoft,Qualcomm và HP;chương trình hỗ trợ phẫu thuật dị tật tim bẩm sinh và ủng hộ
nạn nhân vụ sập cầu Cần Thơ của VinaCapital,Samsung;chương trình khôi phục nghị lực
cho trẻ em nghèo của Western Union;…
Đối với doanh nghiệp trong nước,các công ty xuất khẩu có lẽ là đối tượng đầu tiên
tiếp cận với CSR.Hầu hết các đơn hàng từ châu Âu – Mỹ - Nhật đều đòi hỏi các doanh
nghiệp may mặc,giày dép phải áp dụng chế độ lao động tốt (tiêu chuẩn SA8000)hay đảm
bảo an toàn vệ sinh thực phẩm (đối với các xí nghiệp thủy sản)… Ngoài ra nhiều công ty
tư nhân trong nước nắm bắt vấn đề CSR rất nhạy bén.Một số công ty chủ động thực hiện
CSR và tạo được hình ảnh tốt đối với công chúng như các tập đoàn:Mai Linh,Tân
Tạo,Duy Lợi,Kinh Đô,ACB,Sacombank,…
Nhận thức của cộng đồng và phương tiện thông tin đại chúng với CSR trong thời
gian gần đây có những phát triển tích cực và nhanh chóng;một phần cũng xuất phát từ
bức xúc của công luận qua những vụ ô nhiễm môi trường;nhiễm độc thực phẩm và gian
lận thương mại nghiêm trọng.Đã có một số cuộc hội thảo đáng chú ý về chủ đề CSR như
Diễn đàn châu Á về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp lần thứ 6,được tổ chức ngày
13/10/2007 tại TP Hồ Chí Minh;và hội thảo “nâng cao khả năng cạnh tranh của Việt Nam
thông qua trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” được VCCI phối hợp cùng Đại sứ quán
Đan Mạch tổ chức ngày 08/01/2008.Ngoài ra,Việt Nam cũng đã có diễn đàn chính thức
dành riêng giới thiệu và thảo luận về CSR tại địa chỉ:http://www.vietnamforumcsr.net do
doanh nghiệp sản xuất bao bì lớn của Ba Lan đã tiết kiệm được 12 triệu Đô la Mỹ trong
vòng 5 năm nhờ việc lắp đặt thiết bị mới, nhờ đó làm giảm 7% lượng nước sử dụng, 70%
lượng chất thải nước và 87% chất thải khí.
Một hệ thống quản lý nhân sự hiệu quả cũng giúp cắt giảm chi phí và tăng năng
suất lao động đáng kể. Lương thưởng hợp lý, môi trường lao động sạch sẽ và an toàn, các
cơ hội đào tạo và chế độ bảo hiểm y tế và giáo dục đều góp phần tăng lợi nhuận cho
doanh nghiệp bằng cách tăng năng suất lao động, giảm tỷ lệ nhân viên nghỉ, bỏ việc, và
giảm chi phí tuyển dụng và đào tạo nhân viên mới.
3.2 Tăng doanh thu
Đầu tư hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương có thể tạo ra một nguồn lao động tốt
hơn, nguồn cung ứng rẻ và đáng tin cậy hơn, và nhờ đó tăng doanh thu. Hindustan Lever,
một chi nhánh của tập đoàn Unilever tại ấn Độ, vào đầu những năm 1970 chỉ hoạt động
được với 50% công suất do thiếu nguồn cung ứng sữa bò từ địa phương, và do vậy đã lỗ
trầm trọng. Để giải quyết vấn đề này, công ty đã thiết lập một chương trình tổng thể giúp
nông dân tăng sản lượng sữa bò. Chương trình này bao gồm đào tạo nông dân cách chăn
nuôi, cải thiện cơ sở hạ tầng cơ bản và thành lập một ủy ban điều phối những nhà cung
cấp địa phương. Nhờ chương trình này, số lượng làng cung cấp sữa bò đã tăng từ 6 tới
hơn 400, giúp cho công ty hoạt động hết công suất và đã trở thành một trong những chi
nhánh kinh doanh lãi nhất tập đoàn.
Rất nhiều công ty sau khi có được chứng chỉ về CSR đã tăng được doanh thu đáng
kể. Ví dụ, Aserradero San Martin, một công ty sản xuất đồ gỗ ở Bolivia, sau khi có chứng
chỉ bảo vệ rừng bền vững (FSC) đã tiếp cận được thị trường Bắc Mỹ và bán sản phẩm với
giá cao hơn từ 10-15%.
3.3 Nâng cao giá trị thương hiệu và uy tín của công ty
CSR có thể giúp doanh nghiệp tăng giá trị thương hiệu và uy tín đáng kể. Uy tín
giúp doanh nghiệp tăng doanh thu, hấp dẫn các đối tác, nhà đầu tư, và người lao động.
Những tập đoàn đa quốc gia như The Body Shop (tập đoàn của Anh chuyên sản xuất các
sản phẩm dưỡng da và tóc) và IKEA (tập đoàn kinh doanh đồ dùng nội thất của Thụy
Điển) là những ví dụ điển hình. Cả hai công ty này đều nổi tiếng không chỉ vì các sản
phẩm có chất lượng và giá cả hợp lý của mình mà còn nổi tiếng là các DN có trách nhiệm
dụng Bộ tiêu chuẩn này.
Về sản xuất: khi công ty áp dụng Bộ tiêu chẩn SA 8000 thì giúp công ty có điều
kiện thuận lợi hơn trong việc sản xuất các mặt hàng xuất sang các nước mà có yêu cầu
nghiêm ngặt về bộ tiêu chuẩn này. Trong quá trình hội nhập trên thị trường thì công ty
không ngừng nâng cao sản xất đề tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu trong
nước củng như ngoài nước.
Về Quản lý lao động trong doanh nghiệp: Từng bước được cải thiện và giảm tối đa
chi phí cho việc tuyển dụng và đào tạo lao động lành nghề. Người lao động an tâm sản
xuất thu nhập từng bước được cải thiện và nâng cao.
1.Các yêu cầu của tiêu chuẩn SA8000 khi áp dụng tại công ty:
SA 8000 được xây dựng dựa trên các nguyên tắc làm việc trong các công ước của
ILO và Tuyên bố toàn cầu của Liên Hợp Quốc về Quyền con người và Công ước về
Quyền của Trẻ em. Các yêu cầu của tiêu chuẩn bao gồm:
1.1. Điều khoản chung
Tiêu chuẩn này xây dựng dựa trên Bộ Luật lao động và có xem xét đến đặt điểm
tình hình tại đơn vị
1. Thời Gian thử việc: Thực hiện đúng với thời gian thử việc theo quy định đúng
với mọi đối tượng lao động theo bộ luật lao động
2. Lao động trẻ em: Không có công nhân làm việc dưới 15 tuổi, tuối tối thiểu cho
các nước đang thực hiện công ước 138 của ILO là 14 tuổi, ngoại trừ các nước đang phát
triển; cần có hành động khắc phục khi phát hiện bất cứ trường hợp lao động trẻ em nào.
Không lạm dụng sức lao động của người chưa thành niên
3. Lao động bắt buộc: Không có lao động bắt buộc, bao gồm các hình thức lao
động trả nợ hoặc lao động nhà tù, không được phép yêu cầu đặt cọc giấy tờ tuỳ thân hoặc
bằng tiền khi được tuyển dụng vào. Doanh nghiệp không được trực tiếp hỗ trợ việc sử
dụng lao đông cưởng bức.
4. Đối với lao động nữ: Không có những hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc
phạm đến danh dự và nhân phẩm của người phụ nữ
- Không xa thảy và đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ
vì lý do kết hôn, có thai, nghỉ thai sản, nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi.
thể . Công nhân có quyền tự quyết và thỏa thuận với doanh nghiệp khi yêu cầu tăng ca.
5. Phân biệt đối xử: Không được phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, đẳng cấp,
tôn giáo, nguồn gốc, giới tính, tật nguyền, thành viên công đoàn hoặc quan điểm chính trị
. Doanh nghiệp không được trực tiếp hoặc hỗ trợ việc phân biệt đối xử trong thuê mướn,
trả tiền thù lao, huấn luyện, thăng tiến cho nghỉ việc dựa trên chủng tộc, đẳng cấp, quốc
tịch, tín ngưỡng, tàn tật, độ tuổi.
6. Kỷ luật: Không có hình phạt về thể xác, tinh thần và sỉ nhục bằng lời nói.
Doanh nghiệp phải đảm bảo rằng, những khoản khấu trừ vào lương không được thực hiện
với hình thức kỷ luật,
1.4. Chế độ tiền lương
1. Thù lao:
Tiền lương trả cho thời gian làm việc một tuần phải đáp ứng đựoc với luật pháp
và tiêu chuẩn ngành và phải đủ để đáp ứng được với nhu cầu cơ bản của người lao động
và gia đình họ; không được áp dụng hình thức xử phạt bằng cách trừ lương. Có các chế
độ luơng thuởng cho phù họp phải đảm bảo mức thù lao của ngưòi lao động hàng tháng
khi nhận đuợc phải đáp ứng đầu đủ các nhu cầu tối thiểu cơ bản của con nguời. Thuờng
xuyên nâng cao thu nhập cho nguời lao động bằng nhiều hình thức khác nhau
2. Phương pháp tính lương:
- Công ty phải xây dựng thang, bảng lương và có đăng ký với các cơ quan chức
năng quản lý Nhà nước theo đúng quy định.
- Xây dựng và công khai định mức lao động cho toàn công ty
- Áp dụng các chế độ phụ cấp lương theo quy định
3. Các hình thức trả lương:
- Công ty thực hiện các chế độ trả lương như: Lương thời gian, lương sản phẩm
tùy theo từng bộ phận mà công ty áp dụng hình thức lương phù hợp.
- Công ty còn trả lương làm thêm giờ đúng như luật lao động,
4. Chế độ nâng bậc lương:
- Hàng năm công ty đều có nâng lương cho người lao động thông qua hội đồng
lương.
- Công ty có chế độ nâng bậc lương cho công nhân heo đúng thâm niên và thời
Người lao động nghỉ được hưởng nguyên lương theo đúng quy định của Bộ Luật
lao động.
3. Nghỉ phép năm:
Chế độ nghỉ phép năm theo quy định của Bộ Luật lao động.
- Người lao động ở nơi xa xôi, nếu có yêu cầu thì được cộng dồn số ngày nghỉ
phép năm từ 1 đến 2 năm để nghỉ một lần nhưng phải được sự chấp nhận của người sử
dụng lao động tại công ty.
- Người lao động khi thôi việc thì được thanh toán tiền phép của những ngày chưa
nghỉ,
1.6. An toàn vệ sinh lao động
1. Sức khoẻ và an toàn:
- Đảm bảo một môi trường làm việc an toàn và lành mạnh, có các biện pháp ngăn
ngừa tai nạn và tổn hại đến an toàn và sức khoẻ, có đầy đủ nhà tắm và nước uống họp vệ
sinh. Phải có tiêu chuẩn chính sách An toàn về vệ sinh lao động.
- Công ty phải thành lập hội đồng bảo hộ lao động, mạng lưới an toàn vệ sinh
viên
- Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện công tác an toàn vệ sinh lao động của công ty
cho phù hợp:
- Nâng cấp hệ thống chiếu sáng tại nơi làm việc
- Trang bị đồng bộ các hệ thống trang thiết bị công nghệ, thiết bị phụ trợ kèm theo
hệ thống an toàn lao động, phòng chống cháy nổ, an toàn vệ sinh môi trường.
- Đảm bảo bũa ăn giữa ca cho người lao động.
- Công ty có kế hoạch khám sức khỏe định kỳ cho tất cả các Cán bộ công nhân
viên trong toàn công ty mỗi năm một lần, nếu có phát hiện bện nghề nghiệp thì công ty sẽ
tiến hành lập hồ sơ để nguời lao động điều trị cho phù hợp.
- Công ty phải xây dựng các quy định về phòng chóng cháy nổ tại nơi làm việc.
- Trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động tùy theo từng
nghành nghề mà trang bị lao động cho phù hợp.
- Công ty phải thực hiện đúng các yêu cầu và tiêu chuẩn về hệ thống mạng lưới sử
dụng điện trong công ty, có cán bộ quản lý kỷ thuật về điện có kiến thức chuyên mông
tiêu chuẩn này cho phù hợp với tình hình sàn xuất kinh doanh thực tế tại công ty.
- Đưa kế hoạch hàng năm vào các công việc để thực hiện tốt nội dung của Tiêu
chẩn lao động.
- Tăng cường công tác kiểm tra giám sát để phát hiện và xử lý khắc phục kịp thời
những nội dung chưa phù họp.
- Tiến hành công tác thi đua khen thưởng trong việc thực hiện các nội dung trong
tiêu chuẩn này.
2. Tác động của SA8000 đối với hoạt động kinh doanh của công ty.
2.1 Tác động đến người lao động
Việc thực hiện quản lý theo tiêu chuẩn SA 8000 mang lại lợi ích cho từ người lao
động đến công ty và các bên hữu quan khác có thể phân loại như sau:
Lợi ích đứng trên quan điểm của người lao động, các tổ chức công đoàn và tổ chức phi
chính phủ
Tạo cơ hội để thành lập tổ chức công đoàn và thương lượng tập thể. Đó là công cụ
đào tạo hữu hiệu cho người lao động về quyền lao động khi làm việc.
Nhận thức của công ty về cam kết đảm bảo cho người lao động được làm việc trong môi
trường lành mạnh đảm bảo về an toàn trong làm việc, sức khoẻ và môi trường.
Tăng lòng trung thành và cam kết của người lao động đối với công ty. Tăng năng
suất lao động và đạt kết quả tối ưu hiệu quả công việc trong qúa trình quản lý, cũng như
trong khi làm việc của người lao động trong công ty
2.2 Tác động đến khách hang
Có niềm tin về sản phẩm được tạo ra trong một môi trường làm việc an toàn và
đảm bảo được các đều kiện về an toàn lao động và tính công công bằng. Giảm thiểu tối
đa trong việc thực hiện chi phí quản lý giám sát tại công ty
Cơ hội để đạt được lợi thế cạnh tranh, thu hút nhiều khách hàng hơn và xâm nhập
được vào thị trường mới có yêu cầu cao. Nâng cao hình ảnh công ty, tạo niềm tin cho các
bên trong "Sự yên tâm về mặt trách nhiệm xã hội" của công ty khi áp dụng Bộ tiêu chuẩn
SA8000
Giảm chi phí quản lý, giám sát các yêu cầu xã hội khác nhau. Có vị thế tốt hơn
trong thị trường lao động và thể hiện cam kết rõ ràng về các chuẩn mực đạo đức và xã hội