Luận văn tốt nghiệp: NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM potx - Pdf 15

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
 TIỂU LUẬN NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
GVHD: Hồ Thị Hồng Minh
SV: Trần Thị Thanh Nhàn
MSSV: K105041667
Lớp Luật tài chính ngân hàng chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2012.
1

2

Lời Mở Đầu

Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô quan
trọng trong quá trình điều hành các hoạt động của nền kinh tế. Tuy nhiên,
chính sách tiền tệ thực sự có ý nghĩa và thể hiện đúng vai trò vị trí của
mình hay không lại phụ thuộc vào quá trình sử dụng các công cụ để thực
thi chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương. Để thực hiện vai trò và
trách nhiệm đã được quy định tại Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã sử dụng các công cụ tái cấp vốn, lãi
suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở.
Sau một thời gian dài chuẩn bị về hàng lang pháp lý, trang thiết bị,
nhân lực, … nghiệp vụ thị trường mở đã được Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam chính thức khai trương vào ngày 12/7/2000. Trải qua hơn 10 năm hoạt
động, nghiệp vụ thị trường mở đã được thực hiện an toàn, góp phần quan
trọng vào việc điều tiết và kiểm soát lượng tiền cung ứng của Ngân hàng
Nhà nước. Tuy nhiên, cũng như các công cụ chính sách tiền tệ khác của
Ngân hàng nhà nước, nghiệp vụ thị trường mở đã bộc lộ những hạn chế
nhất định. Số lượng các tổ chức tín dụng tham gia ít, doanh số giao dịch
nhỏ, hàng hoá giao dịch chưa nhiều, các quy định về quy trình, xử lý thông
tin còn chưa hoàn thiện. Vì vậy, nhu cầu đổi mới và hoàn thiện công cụ
nghiệp vụ thị trưởng mở là hết sức cấp bách và cần thiết.


NHTW bán ra. Trường hợp người mua là các khách hàng của ngân hàng thì
số tiền mua GTCG sẽ làm giảm số dư tiền gửi của họ tại hệ thống ngân
hàng. Kết quả là dự trữ của hệ thống ngân hàng giảm sút tương ứng với
NHTW
bán
GTCG
Dự trữ
NH
giảm
Dự trữ mở
rộng cho
vay giảm
Khối
lượng TD
giảm
MS
giảm
4

khối lượng GTCG mà NHTW bán ra. Sự giảm sút dự trữ của hệ thống ngân
hàng sẽ làm giảm khả năng cho vay của ngân hàng và vì thế khối lượng tín
dụng giảm dẫn đến cung tiền sẽ giảm. Ngược lại, khi NHTW thực hiện
mua GTCG trên thị trường mở, kết quả làm dự trữ của các ngân hàng tăng
lên. Như vậy, khi NHTW thực hiện nghiệp vụ thị trường nó sẽ tác động đến
dự trữ của các ngân hàng, làm ảnh hưởng đến khối lượng tín dụng, từ đó
ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng.
1.2.2. Về mặt giá - Tác động qua lãi suất
Hành vi mua bán GTCG của NHTW trên thị trường mở có thể ảnh
hưởng gián tiếp đến mức lãi suất thị trường thông qua 2 con đường sau:
Thứ nhất, khi dự trữ của ngân hàng bị ảnh hưởng sẽ tác động đến cung

Lãi suất thị
trường tăng
Giá TPKB
giảm
LS thị trường
tăng
tăng

5

Thứ hai, việc mua bán GTCG sẽ làm ảnh hưởng ngay đến quan hệ
cung cầu về loại GTCG đó trên thị trường và giá cả của nó. Khi giá chứng
khoán thay đổi, tỷ lệ sinh lời của chúng cũng thay đổi. Nếu khối lượng
chứng khoán này chiếm tỷ trọng lớn trong các giao dịch trên thị trường tài
chính thì sự thay đổi tỷ lệ sinh lời của nó sẽ tác động trở lại lãi suất thị
trường, và vì thế mà tác động đến tổng cầu AD và sản lượng.
Khi NHTW bán tín phiếu kho bạc sẽ làm giảm dự trữ của hệ thống
ngân hàng. Điều này làm giảm cung quỹ cho vay và sẽ ảnh hưởng đến lãi
suất ngắn hạn, làm lãi suất ngắn hạn có xu hướng tăng lên và tác động vào
làm tăng các lãi suất thị trường. Bên cạnh đó khi NHTW thực hiện bán tín
phiếu kho bạc trên thị trường mở sẽ làm tăng cung tín phiếu kho bạc trên
thị trường, từ đó làm giảm giá của tín phiếu kho bạc. Điều này làm ảnh
hưởng đến tỷ suất sinh lời của tín phiếu kho bạc theo hướng tăng lên, dẫn
đến sự chuyển dịch vốn đầu tư sang tín phiếu kho bạc. Để cân bằng lãi suất
và hạn chế sự dịch chuyển vốn đầu tư, lãi suất thị trường sẽ tăng lên. Khi
lãi suất thị trường tăng lên thì hoạt động đầu tư của các chủ thể đối với nền
kinh tế sẽ giảm xuống do tỷ suất sinh lời giảm. Từ đó tổng cầu trên thị
trường giảm xuống và góp phần làm giảm sản lượng, ảnh hưởng đến lượng
tiền cung ứng.
1.3. Vai trò của nghiệp vụ thị trường mở

tiền từ lưu thông, trong khi công cụ TCV chỉ có thể bơm thêm tiền vào lưu
thông. Mặt khác, với công cụ OMO, NHTW có thể chủ động hơn trong
việc điều tiết lưu thông, không phụ thuộc nhiều vào ý muốn chủ quan của
NHTM như trong công cụ TCV. Qua việc tính toán và dự báo vốn khả
dụng cũng như lượng tiền cung ứng, NHTW có thể biết chính xác được
khối lượng tiền cần bơm thêm hoặc rút về từ lưu thông.
1.3.2. Đối với các đối tác của ngân hàng trung ương
Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng trong cơ chế thị trường ngày
càng đa dạng dẫn đến hoạt động quản lý và sử dụng vốn khả dụng cần phải
7

chủ động và linh hoạt hơn. Hiện nay trong cơ cấu nguồn vốn của các ngân
hàng, tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn với thời gian dưới 12 tháng
thường chiếm tỷ trọng từ 60-70%. Vì vậy, vấn đề cấp bách hiện nay đối với
các ngân hàng là làm thế nào để sử dụng vốn linh hoạt hiệu quả và giải
quyết được khó khăn tạm thời về vốn khả dụng trong thời gian ngắn, không
gây ách tắc trong thanh toán cũng như đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín
dụng.
Thị trường mở là nơi các đối tác của NHTW được chủ động tham gia
mua bán GTCG với NHTW và lãi suất thực sự là mang tính thị trường. Các
thành viên tham gia thị trường mở thường là các đối tác có độ tin cậy cao,
nên việc mua bán GTCG trên thị trường mở có độ an toàn rất cao. Bên
cạnh đó, những điều kiện về chủng loại và chất lượng các GTCG được giao
dịch trong OMO sẽ gián tiếp làm thay đổi danh mục đầu tư GTCG của các
ngân hàng, từ đó cải thiện theo hướng tích cực cơ cấu sử dụng vốn của
ngân hàng, làm giảm dự trữ không sinh lợi và cải thiện bảng tổng kết tài
sản của ngân hàng.
Ngoài ra, OMO góp phần đa dạng hoá các nghiệp vụ kinh doanh của
các TCTD. Các TCTD không chỉ đơn thuần thực hiện các nghiệp vụ kinh
doanh truyền thống như cho vay, bảo lãnh, dịch vụ … mà còn sử dụng một

triển, trong đó có yêu cầu về cải cách hệ thống ngân hàng và nâng cao tính
minh bạch trong các hoạt động của NHTW. Tại các quốc gia phát triển hay
các quốc gia trong khu vực Đông Nam á đều sử dụng OMO trong điều
hành CSTT để đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Chính vì vậy, việc sử
dụng OMO là một điều kiện cần thiết để hội nhập nền kinh tế vào khu vực
và thế giới.
1.4. Thành viên nghiệp vụ thị trường mở
1.4.1. Ngân hàng trung ương
NHTW là người tổ chức, xây dựng và vận hành hoạt động của thị
trường mở theo các mục tiêu CSTT. NHTW là người quyết định lựa chọn
9

sử dụng các loại OMO và tần suất sử dụng OMO. NHTW tham gia thị
trường thông qua việc mua bán các GTCG nhằm tác động đến dự trữ của
hệ thống ngân hàng để đảm bảo khả năng thanh toán và gián tiếp tác động
đến các lãi suất thị trường theo mục tiêu CSTT. NHTW cũng là người can
thiệp thị trường khi cần thiết thông qua thực hiện chức năng người cho vay
cuối cùng nhằm kiểm soát tiền tệ, đảm bảo đủ phương tiện thanh toán cho
các TCTD cũng như nhu cầu tín dụng của nền kinh tế.
Như vậy, NHTW tham gia thị trường mở không phải vì mục tiêu kinh
doanh mà để quản lý, chi phối, điều tiết thị trường làm cho CSTT được
thực hiện theo các mục tiêu xác định của nó.
1.4.2. Các đối tác của ngân hàng trung ương
1.4.2.1. Các ngân hàng thương mại
Các NHTM là thành viên chủ yếu tham gia OMO của NHTW và là
đối tác quan trọng của NHTW xét trên 2 phương diện độ tin cậy và tính
hiệu quả. Các NHTM tham gia thị trường nhằm điều hoà vốn khả dụng để
đảm bảo khả năng thanh toán và đầu tư các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để
hưởng lãi.
Sự tham gia của các NHTM trong các giao dịch OMO có ý nghĩa quan

định. Khi NHTW bán tín phiếu kho bạc thay cho việc phát hành tín phiếu
NHTW để thực hiện CSTT thắt chặt thì gánh nặng về thực hiện CSTT sẽ
chuyển sang ngân sách và được thể hiện rõ ràng trên số liệu ngân sách. Mặt
khác khi thị trường tiền tệ chưa phát triển, số dư tín phiếu kho bạc lại khá
lớn thì việc sử dụng tín phiếu kho bạc để thực hiện CSTT sẽ giảm rủi ro
của việc phân tách thị trường.
1.5.2. Tín phiếu ngân hàng trung ương
Tín phiếu NHTW là loại GTCG ngắn hạn do NHTW phát hành để làm
công cụ cho OMO. Việc sử dụng tín phiếu NHTW làm hàng hoá trên thị
trường mở có một số ưu điểm như tăng cường tính độc lập của NHTW
trong việc thực thi CSTT và là công cụ linh hoạt cho việc quản lý vốn khả
dụng
11

Tuy nhiên, việc phát hành tín phiếu NHTW để thực thi CSTT sẽ làm
cho chi phí hoạt động của NHTW tăng lên, mặc dù NHTW hoạt động
không vì mục tiêu lợi nhuận. Việc sử dụng tín phiếu NHTW đòi hỏi phải có
sự phối hợp nhất định với Bộ Tài chính. Khi NHTW và Bộ Tài chính đồng
thời phát hành tín phiếu NHTW và tín phiếu kho bạc, nếu lãi suất chênh
lệch thì các đối tác trên thị trường mở sẽ tập trung mua loại tín phiếu có lãi
suất cao hơn. Khi đó sẽ có sự phân khúc giữa thị trường tín phiếu kho bạc
và thị trường tín phiếu NHTW, làm cho mục đích phát hành các GTCG này
không đạt được và có thể làm giảm hiệu quả tác động của 2 loại hàng hoá
này.
1.5.3. Trái phiếu Chính phủ
Trái phiếu chính phủ là giấy nhận nợ dài hạn do Chính phủ phát hành
nhằm mục đích huy động vốn cho ngân sách. Mặc dù là GTCG dài hạn có
thời hạn lên đến 10-30 năm nhưng trái phiếu Chính phủ được sử dụng khá
rộng rãi trong các giao dịch OMO ở một số nước bởi tính an toàn, ổn định
trong phát hành và khối lượng phát hành thường lớn, có khả năng tác động


13

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ THỊ
TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRONG THỜI GIAN QUA
Bắt đầu từ ngày 12/7/2000, NHNN tiến hành đưa công cụ OMO vào
hoạt động. Đây là một bước tiến mới trong điều hành CSTT của NHNN
theo hướng từ sử dụng các công cụ trực tiếp sang các công cụ gián tiếp, để
phù hợp với thông lệ quốc tế và sự phát triển của đất nước. Nó đã mở ra
một kênh cung ứng và điều tiết vốn khả dụng của các TCTD cho NHNN và
tạo điều kiện cho các TCTD sử dụng linh hoạt các loại GTCG của mình.
Công cụ OMO liên tục được NHNN cải tiến trong những năm qua và dần
trở thành một công cụ CSTT chủ yếu của NHNN.
Với chức năng là một bộ phận cấu thành trong cơ cấu hoạt động
nghiệp vụ TTM tại NHNN, hơn 10 năm qua, Sở Giao dịch NHNN (Sở
Giao dịch) đã tổ chức thực hiện thành công các phiên giao dịch nghiệp vụ
TTM theo chỉ đạo của Ban Điều hành, góp phần ổn định thị trường tiền tệ

mới ở giai đoạn đầu ban hành nên vừa thực hiện, vừa phải điều chỉnh, bổ
sung cho hoàn thiện và phù hợp với tình hình thành viên, xu hướng phát
triển của thị trường. Hơn nữa, hệ thống công nghệ thông tin phục vụ cho
nghiệp vụ này còn đơn giản, một số thao tác vẫn phải thực hiện bán thủ
công. Số lượng thành viên tham gia chưa đông, chủ yếu tập trung vào một
số ngân hàng thương mại (NHTM) Nhà nước và NHTM cổ phần lớn, do
lượng nắm giữ GTCG còn ít, khối lượng giao dịch chưa nhiều.
Do điều kiện về công nghệ ứng dụng trong công tác xét thầu, phân bổ
thầu… chưa hiện đại nên một số khâu vẫn còn phải thực hiện thủ công như
việc thông báo kết quả trúng thầu hay hợp đồng mua, bán lại GTCG… vẫn
còn phải thực hiện bằng văn bản, do đó, để đảm bảo việc hạch toán của
thành viên được nhanh chóng, bộ phận nghiệp vụ thường phải gửi qua
đường FAX cho thành viên, bản chính gửi qua đường bưu điện…; việc in
ấn, lưu trữ số liệu lịch sử từ cách chiết xuất các bảng biểu thống kê của các
phiên cũ cũng chưa thuận lợi do khó truy cập khi xuất hiện thông báo đấu
15

thầu của phiên hiện thời; việc tổng hợp số liệu báo cáo còn phải thực hiện
bằng thủ công, tổng hợp số liệu từng phiên qua bảng Excel rất bất tiện,…
Với sự nỗ lực không ngừng của đội ngũ cán bộ trong Sở Giao dịch,
mặc dù nghiệp vụ TTM là một công cụ điều hành chính sách hoàn toàn mới
và được vận hành lần đầu tiên ở Việt Nam đã thu hút đông đảo thành viên
là các TCTD tham gia, Sở Giao dịch đã thực hiện được 700 phiên giao dịch
nghiệp vụ TTM, khối lượng trúng thầu đạt 324.977 tỷ đồng, chiếm hơn
73% khối lượng dự kiến của NHNN. Trong đó, khối lượng trúng thầu của
các phiên mua kỳ hạn chiếm tới 68%/tổng khối lượng giao dịch.
Thời gian từ tháng 11/2007 đến nay
Đây là giai đoạn giao dịch trực tuyến nghiệp vụ TTM giữa Sở Giao
dịch với thành viên thị trường.
Đứng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ của hoạt động ngân hàng và sự

phiếu Chính quyền địa phương (TP. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh), tín
phiếu NHNN, trái phiếu của các ngân hàng chính sách (Ngân hàng Phát
triển, Ngân hàng Chính sách xã hội).
Về khối lượng giao dịch: Đây là thời kỳ nền kinh tế trong nước chịu
rất nhiều sự tác động tiêu cực bởi sự bất ổn tài chính của các nước trên thế
giới và vấn đề nợ công của khu vực Châu Âu. Đặc biệt là thời điểm những
tháng cuối năm 2008 đầu năm 2009, các ngân hàng gặp khó khăn về thanh
khoản, khi đó, NHNN đã thực hiện cung một khối lượng tiền đáng kể để hỗ
trợ các ngân hàng. Có thời điểm, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng lên
tới hơn 40%/năm, NHNN kịp thời can thiệp thông qua nghiệp vụ TTM
bằng việc tăng lượng cung tiền và áp dụng phương pháp đấu thầu khối
lượng, dường như ngay lập tức, lãi suất liên ngân hàng giảm quanh mức
20%/năm.
Chính vì vậy, NHNN chủ yếu chào thầu đối với các phiên mua kỳ hạn
GTCG để tiếp tục hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng, khối lượng trúng
thầu mua kỳ hạn GTCG là 6.455.551 tỷ đồng, chiếm tới 98,5%/tổng khối
lượng trúng thầu trong giao dịch nghiệp vụ TTM; tần xuất giao dịch các
17

phiên tăng đáng kể bình quân NHNN đã tổ chức gần 384 phiên/năm. Đến
nay, sau hàng loạt giải pháp và biện pháp hỗ trợ từ Chính phủ và NHNN,
tình hình thanh khoản của các ngân hàng đã có sự cải biến rõ rệt, thị trường
tiền tệ không còn “nóng” như trước.
Như vậy, hơn 10 năm qua, với sự chỉ đạo sát sao của Ban Giám đốc
và sự phấn đấu không ngừng của đội ngũ cán bộ làm công tác nghiệp vụ
TTM tại Sở Giao dịch, Sở Giao dịch đã có những đóng góp to lớn vào
thành công chung đối với hoạt động nghiệp vụ TTM của NHNN.
Trong thời gian tới, Sở Giao dịch tập trung đầu tư, đổi mới công nghệ,
sử dụng các trang thiết bị hiện đại vào các giao dịch nghiệp vụ TTM, tổ
chức thành công các phiên giao dịch, đảm bảo đúng quy trình và an toàn tài

trường liên ngân hàng.
Để khắc phục tình trạng này, đề nghị NHNN nghiên cứu việc phân
nhóm thành viên trong đấu thầu nghiệp vụ TTM. Có thể áp dụng chào thầu
riêng cho nhóm TCTD lớn và nhóm TCTD nhỏ theo khối lượng phù hợp
mà không ảnh hưởng tới lượng cung tiền mục tiêu.
Thứ hai: Hiện nay, vẫn còn một số thành viên sử dụng đường truyền
Dial-up trong việc kết nối với NHNN. Công nghệ này thường chậm và hay
gặp sự cố “nghẽn” đường truyền, gây khó khăn trong việc “vào” hệ thống
của NHNN để cập nhật thông báo và đặt đơn thầu. Do đó, kiến nghị các
thành viên này nên chuyển sang sử dụng đường truyền riêng (Leased line)
để khắc phục những nhược điểm trên và tạo sự thông suốt trong việc kết
nối hệ thống giao dịch thị trường tiền tệ với NHNN.
19

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Gíao trình tài chính tiền tệ Đại học Kinh tế TP.HCM ,2006 ,
NXBĐHQGTP.HCM .
2. Website Ngân hàng nhà nước Việt Nam

3. website tạp chí chứng khoán

4. Website Việt báo tim.vietbao.vn/thị_trường_mở/


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status