Chuyên đề 15: Đề xuất các giải pháp phòng tránh và giảm thiểu thiên tai lũ lụt, hạn hán tỉnh Quảng Nam doc - Pdf 15

Đề xuất các giải pháp phòng tránh và giảm thiểu thiên tai lũ lụt, hạn hán tỉnh Quảng Nam
Phòng Tài nguyên nước mặt, Viện Địa Lý
1
VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN ĐỊA LÝ
   DỰ ÁN P1-08-VIE

Chuyên đề 15
ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP PHÒNG TRÁNH
VÀ GIẢM THIỂU THIÊN TAI LŨ LỤT, HẠN HÁN
TỈNH QUẢNG NAM Chủ trì nhiệm vụ: TS. Vũ Thị Thu Lan
Tham gia : TS. Nguyễn Lập Dân
ThS. Hoàng Thanh Sơn
KS. Bùi Anh Tuấn
CN. Nguyễn Minh Thành
CN. Nguyễn Thanh Hoàng

Hà Nội - 2011


Bảng 25: Mức tăng độ dài mùa hạn do biến đổi khí hậu 36
Bảng 26: Đánh giá dung tích các hồ chứa thủy lợi lớn ở Quảng Nam 38
Bảng 27: Đánh giá dung tích phòng lũ của một số hồ chứa thủy điện 39
Bảng 28: Danh mục các công trình đã xây dựng (vùng thượng lưu sông Thu Bồn) 42
Bảng 29: Danh mục các công trình đã xây dựng (vùng hạ Vu Gia – Bắc Thu Bồn) 43
Bảng 30: Danh mục các công trình đã xây dựng vùng hạ lưu sông Thu Bồn và sông Ly ly . 43
Bảng 31: Mức bảo đảm cấp nước cho các khu dùng nước hiện trạng 45
Đề xuất các giải pháp phòng tránh và giảm thiểu thiên tai lũ lụt, hạn hán tỉnh Quảng Nam
Phòng Tài nguyên nước mặt, Viện Địa Lý
3
Bảng 32a: Danh sách các trạm khí tượng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam và lân cận 48
Bảng 32b: Các trạm thuỷ văn phục vụ cảnh báo thiên tai lũ lụt và hạn hán 50
Bảng 33: Các chỉ tiêu chống lũ cho lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn 58
Bảng 34: Biến động diện tích ngập với tần suất 1% khi có liên hồ điều tiết 59
Bảng 35: Hiện trạng sử dụng đất của hạ lưu sông Vu Gia – Thu Bồn 59
Bảng 36: Tổng nhu cầu nước phân cho các ngành đến năm 2020 61
Bảng 37: Các công trình thuỷ lợi dự kiến xây dựng 62
Đề xuất các giải pháp phòng tránh và giảm thiểu thiên tai lũ lụt, hạn hán tỉnh Quảng Nam
Phòng Tài nguyên nước mặt, Viện Địa Lý
4
DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Bản đồ hình thể tự nhiên tỉnh Quảng Nam 5
Hình 2: Bản đồ ngập lụt tỉnh Quảng Nam (ứng với lũ 1% tháng 11/2007) 18
Hình 3: Bản đồ chỉ số hạn tỉnh Quảng Nam 21
Hình 4: Bản đồ dự báo ngập lụt năm 2020 31
Hình 5: Bản đồ dự báo ngập lụt năm 2050 32
Hình 6: Bản đồ dự báo ngập lụt năm 20100 32
Hình 7: Sơ đồ các công trình thủy lợi, thủy điện tỉnh Quảng Nam 38
Hình 8: Sơ đồ phân vùng sử dụng nước 41
Hình 9: Sơ đồ tổ chức của Ban Chỉ huy phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn 47

giải là khi có thiên tai lớn xảy ra trong lúc nền kinh tế đang phát triển mạnh hơn thời gian
trước mà chúng ta không có một giải pháp quản lý rủi ro thiên tai hiệu quả thì thiệt hại về
kinh tế sẽ lớn hơn, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
Thiệt hại do các thiên tai liên quan đến dòng chảy trên lưu vực sông lũ trên sông Vu
Gia - Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam có đặc tính riêng. Trong mùa lũ, vấn đề chống ngập lụt
không cấp thiết bằng chống mất mát tài sản, chống hư hỏng công trình do nước chảy quá
mạnh. Số người chết do ở Quảng Nam chủ yếu do nước chảy cuốn trôi người và động vật,
vì vậy cần tổ chức các tuyến và cụm dân cư tránh ở các nơi tốc độ nước chảy lớn, tránh bị
bất ngờ khi lũ tràn về. Vào mùa kiệt, nguồn nước sông Vu Gia - Thu Bồn phong phú, tuy
nhiên sự phân chia nguồn nước vào các phân lưu thay đổi đã tạo ra thiếu nguồn nước tại
một số khu vực phát triển kinh tế mạnh, đặc biệt khu vực Nam Đà Nẵng, Bắc Quảng Nam.
Vấn đề thiên tai, cụ thể là thiên tai lũ lụt và hạn hán ở Quảng Nam đã và đang hạn chế
sự phát triển nền kinh tế của tỉnh đồng thời tàn phá môi trường, môi sinh tác động mạnh
đến đời sống xã hội của tỉnh. Đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu, khi lượng mưa được
dự báo tăng nhưng tập trung chủ yếu là mùa mưa lũ và giảm đi vào mùa kiệt là nguyên
nhân gia tăng các thiên tai liên quan đến dòng chảy: lũ lụt, hạn hán.
Nhận thức được vấn đề này, trong chiến lược phòng tránh thiên tai của tỉnh Quảng
Nam đến năm 2020 đã nêu rõ phương châm trong công tác phòng chống thiên tai là: “Chủ
động phòng, tránh, thích nghi để phát triển”. Vì vậy, việc nghiên cứu đề xuất các giải
Đề xuất các giải pháp phòng tránh và giảm thiểu thiên tai lũ lụt, hạn hán tỉnh Quảng Nam
Phòng Tài nguyên nước mặt, Viện Địa Lý
6
pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực tài nguyên nước, đặc biệt những giải
pháp thích ứng với dòng chảy cực đoan (lũ, kiệt) do phân mùa dòng chảy là hết sức cấp
thiết.
Với mục tiêu Đề xuất các giải pháp giảm thiểu và thích nghi với các thiên tai lũ
lụt và hạn hán tỉnh Quảng Nam trong bối cảnh biến đổi khí hậu, trên cơ sở báo cáo
chuyên đề 5 “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến các thiên tai liên quan đến
dòng chảy (lũ lụt, khô hạn) tỉnh Quảng Nam, Việt Nam”, báo cáo đánh giá hiện trạng
quản lý rủi ro thiên tai lũ lụt và hạn hán, xác định các năng lực thích ứng với biến đổi khí

1.1. Đặc điểm phân phối tài nguyên nước tỉnh Quảng Nam
1.1.1. Đặc điểm mạng lưới sông suối trong tỉnh
Địa hình tỉnh Quảng Nam có đầy đủ các kiểu cảnh quan địa hình từ kiểu núi cao
phía Tây, kiểu trung du ở giữa, dải đồng bằng và cồn cát ven biển. căn cứ vào đặc điểm
chung, có thể phân ra 03 vùng địa hình như sau:
- Địa hình vùng núi: Địa hình vùng này có độ cao trung bình từ 700 - 800m, hướng
thấp dần từ Tây sang Đông; bao gồm 06 huyện: Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang,
Phước Sơn, Nam Trà My, Bắc Trà My. Với diện tích chiếm 72% đất tự nhiên với nhiều
ngọn cao trên 2.000m như Lum Heo (2.045m), Tion (2.032m), Gole – Lang (1.855m) và
cao nhất là đỉnh Ngọc Linh (2.598m) - đây cũng là đỉnh núi cao nhất của dãy Trường Sơn.
- Địa hình vùng gò đồi, trung du là vùng chuyển tiếp giữa vùng núi phía Tây và
vùng đồng bằng ven biển, độ cao trung bình từ 100 - 200m, độ dốc trung bình từ 15 – 20
0
,
địa hình đặc trưng có dạng hình bát úp và lượn sóng; bao gồm chủ yếu của các huyện Tiên
Phước, Hiệp Đức, Nông Sơn và phần phía Tây huyện Quế Sơn.
- Vùng đồng bằng ven biển có địa hình tương đối bằng phẳng, ít biến đổi, có độ cao
dưới 30m gồm những dải đồng bằng nhỏ hẹp phía Đông và vùng cồn cát, bãi cát ven biển;
bao gồm chủ yếu các huyện Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, TP. Hội An, vùng đông huyện
Quế Sơn, Thăng Bình, TP. Tam Kỳ, Núi Thành. Vùng ven biển phía đông sông Trường
Giang là dải cồn cát chạy dài từ Điện Nam, Điện Bàn đến Tam Quan, Núi Thành.
Bề mặt địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi khá phát triển, tập trung trong 2
hệ thống sông chính là Vu Gia - Thu Bồn (10.350km
2
) và sông Tam Kỳ (1.040km
2
) và hai
hệ thống sông này được nối với nhau bởi sông Trường Giang (bảng 1).
Hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn: Đây là lưu vực sông lớn thứ 2 so với các lưu
vực nằm phía sườn Đông dãy Trường Sơn. Bắt nguồn vùng núi cao nhất dãy Trường Sơn -

Sông Tam Kỳ: bắt nguồn từ vùng núi Tiên Phước đổ ra biển tại Vụng An Hòa với
chiều dài 70km. Nằm ở ven biển có địa hình chủ yếu là gò đồi và đồng bằng nên độ cao
bình quân lưu vực chỉ đạt 84m và độ dốc bình quân đạt 9,4%. Lưu vực sông có dạng dài với
mật độ lưới sông trung bình đạt 0,5km/km
2
. Do nằm trong vùng thấp nên hệ số uốn khúc
sông đạt tới 2,33. Năm 1980, hồ Phú Ninh (diện tích lưu vực 235km
2
) được xây dựng trên
nhánh sông Tam Kỳ đã khống chế và điều tiết một phần dòng chảy của hệ thống sông này.
Sông Trường Giang chạy dọc bờ biển theo hướng gần bắc nam với chiều dài 44km
nối 02 sông Vu Gia - Thu Bồn và sông Tam Kỳ và là sông tiêu thoát lũ ở khu vực vùng
đồng bằng. Đoạn phía nam chạy cạnh bờ biển cách khoảng 2km trở lại, đoạn phía bắc
khoảng cách rộng hơn, đoạn lớn nhất cách bờ biển khoảng 7km. Đầu sông phía nam đổ ra
biển tại cửa Hòa An (hay An Hoà), huyện Núi Thành, đầu sông phía bắc đổ ra biển tại cửa
Đại, thị xã Hội An. Ở giữa là huyện Thăng Bình và TP. Tam Kỳ
Có thể thấy rằng, trong suốt chiều dài gần 125km bờ biển, lưu vực sông Vu Gia -
Thu Bồn chỉ có 3 cửa sông thoát ra biển là cửa Hàn (sông Vu Gia), cửa Đại (sông Thu Bồn)
và cửa Lở (Trường Giang, Tam Kỳ). Các cửa sông này hiện đang trong tình trạng biến
động lớn, luôn dịch chuyển và bị bồi lấp, khả năng thoát lũ kém vì vậy tình trạng ngập lụt ở
vùng đồng bằng tỉnh Quảng Nam rất nghiêm trọng
Ngoài mạng lưới sông suối ở trên, trong tỉnh Quảng Nam còn có nhiều hồ, đầm tự
nhiên và hồ chứa. Một số hồ tương đối lớn như hồ Thạch Bàn, hồ Vĩnh Trinh (thể hiện ở
hình 1)
Đề xuất các giải pháp phòng tránh và giảm thiểu thiên tai lũ lụt, hạn hán tỉnh Quảng Nam
Phòng Tài nguyên nước mặt, Viện Địa Lý
5

Hình 1: Bản đồ hình thể tự nhiên tỉnh Quảng Nam
Phòng Tài nguyên nước mặt, Viện Địa Lý

(km/km
2
)

Hệ số
uốn khúc

1. Thu Bồn – Vu Gia

Biển Đông 1600 205 148 10350 552 25,5 70 0,47 1,86
1.1 Đắc Công Thu Bồn T 2000 25 21 142 1390 26,6 6,8 0,42 1,47
1.2 Đắc Mê A Thu Bồn P 850 16 16 114 1000 23,4 7,1 0,23 1,28
1.3 Đắc Rô Rơ Thu Bồn P 1200 16 15 80,5 5,3 1,33
1.4 Đắc Se Thu Bồn T 3500 34 33 297 790 19,3 9,0 0,2 1,39
1.5 Giang Thu Bồn T 1000 62 55 496 670 23,7 9,0 0,27 1,48
1.6 PL số 6 Thu Bồn T 100 10 11 28 2,5 1,33
1.7 PL số 7 Thu Bồn T 300 14 12 47 3,9 1,52
1.8 PL số 8 Thu Bồn P 100 20 15 58,5 3,9 2,35
1.9 Bung Thu Bồn T 1300 131 74 2530 816 37 34 0,31 2,02
1.10

PL số 10 Thu Bồn P 700 15 12 78 6,5 2,14
1.11

Kôn Thu Bồn T 800 47 34 627 527 31 18,4 0,66 1,62
1.12

PL số 12 Thu Bồn T 1000 11 8 48 6,0 1,83
1.13


(%)
Độ rộng
(km)
Mật độ


ới sông
(km/km
2
)

Hệ số
uốn khúc

1.16

PL số 16 Thu Bồn P 500 16 13 55 4,2 1,60
1.17

PL số 17 Thu Bồn P 500 15 11 38 3,5 1,86
1.18

Ly Ly Thu Bồn P 525 38 21 279 204 5,7 9,0 0,26 1,38
1.19

Tuý Loan Thu Bồn P 900 30 25 309 271 15 10,3 0,57 1,30
1.20

Đắc Non Đắc Công T 1900 15 11 68 6,2 1,18
1.21


Chênh Tĩnh Yên T 700 22 27 195 811 13,8 7,2 0,17 1,38
1.32

Ta Vi Tĩnh Yên P 600 15 14 55 3,9 1,15
1.33

Vang Tĩnh Yên P 300 24 28 249 400 23,3 8,9 0,29 1,26
Đề xuất các giải pháp phòng tránh và giảm thiểu thiên tai lũ lụt, hạn hán tỉnh Quảng Nam
Phòng Tài nguyên nước mặt, Viện Địa Lý
8
TT Sông Đổ vào
Độ cao
nguồn sông

(m)
Chiều dài
sông
(km)
Chiều dài
lưu vực
(km)
Diện tích
lưu vực
(km
2
)
Đặc trưng trung bình lưu vực
Độ cao
(m)

1.37

Ngọn Thu Bồn
Tĩnh Yên T
900 35 30 488 324 22,7 16,2 0,68 1,46
1.38

Khê Cẩu
Tĩnh Yên T
300 19 18 130 217 14,0 7,2 0,72 1,19
Phân lưu sông

a
Yên (Cẩm Lệ) 29
b
Vĩnh Điện 24
c
Trường Giang 44
2.
Ba Kỳ Biển Đông 500 70 70 1040 84 9,4 14,8 0,5 0,21
2.1

trung vào 2 tháng (tháng 10, 11) với lượng mưa trong 2 tháng này chiếm 40 - 50% lượng
mưa cả năm.
Nguồn ẩm gây mưa của tỉnh Quảng Nam rất đa dạng nhưng lượng mưa do các
nhiễu động thời tiết như bão, áp thấp nhiệt đới, không khí lạnh hoạt động đơn lẻ hoặc kết
hợp chiếm tỷ trọng rất lớn so với lượng mưa cả năm, cá biệt có những trận mưa chiếm tới
(20 - 30)% lượng mưa cả năm. Trong những thập kỷ gần đây, các nhiễu động thời tiết
(bão, áp thấp nhiệt đới), không khí lạnh ảnh hưởng tới dải ven biển Trung Bộ nói chung
và tỉnh Quảng Nam nói riêng lớn vượt hơn hẳn so với những thập kỷ trước đó. Theo
thống kê, lượng bão, áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến địa bàn tỉnh Quảng Nam thường
chiếm tới 30,7% số cơn bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào bờ biển Việt Nam. Cùng với
sự gia tăng của số cơn bão là sự gia tăng của lượng mưa bình quân năm và mức độ tập
trung mưa càng cao, lượng mưa mùa kiệt càng giảm. Chế độ mưa thất thường đã quy
định cho sự phân bố tài nguyên nước sông suối trong vùng và cũng là nguyên nhân gây ra
các hiện tượng lũ, ngập lụt và hạn hán ở khu vực.
Hàng năm trên địa bàn tỉnh Quảng Nam tiếp nhận 30,2 tỷ m
3
nước mưa và đã sinh
ra 21,5 tỷ m
3
chảy vào mạng lưới sông suối, nếu tính trung bình cho toàn diện tích vùng
nghiên cứu sẽ được một lớp dòng chảy 2060mm tương ứng với moduyn dòng chảy
65,6l/s.km
2
có hệ số dòng chảy () đạt khá cao tới 0,70 – so với toàn lãnh thổ Việt Nam
đây là khu vực có tiềm năng nguồn nước mặt vào loại phong phú. Dưới tác động của điều
kiện địa hình, tương tự như biến đổi lượng mưa theo không gian trong tỉnh, đặc biệt là sự
dịch chuyển dần mùa mưa bão từ bắc vào nam dọc theo bờ biển đã kéo theo sự biến động
Đề xuất các giải pháp phòng tránh và giảm thiểu thiên tai lũ lụt, hạn hán tỉnh Quảng Nam
Phòng Tài nguyên nước mặt, Viện Địa Lý
10


(10
9
m
3
)
Vu Gia Thạnh Mỹ 1.850 2.770 1.943 114 61,6 3,60
Ái Nghĩa 5.180 2.420 1.650 271 52,3 8,55
Thu Bồn Nông Sơn 3.150 3.300 2.393 254 80,6 7,54
Giao Thuỷ 3.825 3.300 2.390 308 75,8 9,15
Ái Nghĩa - Giao Thuỷ đến cửa ra 2.000 1.224 1,65
Tam Kỳ An Hoà 1.040 2.720 1740 57,5 55,2 1,81
Ly Ly Vu Gia 275 2.200 1.390 12,3 44,7 0,39

1.1.3. Phân bố tài nguyên nước mặt theo thời gian
Chịu tác động của các nhiễu động thời gây mưa nên biến động dòng chảy qua các
năm rất lớn. Theo số liệu quan trắc nhiều năm (1977 – 2007), hệ số dòng chảy (Cv) tại
các trạm quan trắc thủy văn trên sông tỉnh Quảng Nam vượt trên 0,3 như Cv
Nông Sơn
=
0,35, Cv
Thạnh Mỹ
= 0,32.
Bên cạnh đó trong từng năm, dòng chảy có sự phân mùa rất rõ rệt:
- Mùa lũ bắt đầu từ tháng 10 và kết thúc vào tháng 12 với lượng nước mùa lũ đạt
62,5 - 69,2% lượng nước cả năm, Tháng có lượng nước lớn nhất là tháng 11 đạt
26,5 - 30,9% lượng nước cả năm.
- Mùa kiệt có lượng nước đạt 21,8 - 38,5% lượng nước cả năm và tháng có lượng
nước nhỏ nhất là tháng 4 và chỉ đạt 2,1 - 2,6% lượng nước cả năm.
a) Dòng chảy lũ

M (l/s/km
2
) 162 233
TGXH 10 - 12 10 - 12
% so với năm 62,6 68,2
Tháng lớn nhât
Q (m
3
/s) 385 978
M (l/s/km
2
) 208 310
TGXH 11 11
% so với năm 26,7 30,3
Điều kiện địa hình dốc, mạng lưới sông suối phát triển hình tỏa tia, mức độ tập
trung mưa lớn cả về lượng lẫn về cường độ trên phạm vi rộng nên lũ trên các sông suối
của lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn mang đậm tính chất lũ núi với các đặc trưng: cường
suất lũ lớn, thời gian lũ ngắn (cả thời gian lũ lên lẫn thời gian lũ xuống), đỉnh lũ nhọn,
biên độ lũ lớn. Bờ của nhiều sông nhánh dốc tới mức mực nước có thể lên tới vài mét
trong 1 giờ. Lũ quét ở thượng du luôn diễn ra hàng năm là mối đe doạ thường xuyên ở
sông Vu Gia - Thu Bồn. Hàng năm trên hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn xuất hiện từ 4 -
5 trận lũ, năm nhiều nhất có tới 7 - 8 trận lũ. Lũ lớn nhất trong năm thường xuất hiện
trong tháng 10 và 11, do nhiều hình thái thời tiết như: bão, áp thấp nhiệt đới, không khí
lạnh, gió mùa Đông Bắc gây ra những đợt mưa lớn kéo dài ngày, trong khi đó mặt đất đã
đạt đến mức bão hòa do mưa lũ sớm tạo nên, mực nước các sông suối đã được nâng lên ở
mức cao. Lũ lớn xảy ra với tần suất cao trên lưu vực sông Vu Gia -Thu Bồn, có tới 50%
số năm quan trắc xuất hiện những trận lũ vượt báo động III (tại Câu Lâu) và moduyn đỉnh
lũ trung bình tại trạm quan trắc đạt từ 1,6 - 1,7m
3
/s.km

3
/s)
Cv Cs
Qmax
qtrac
TGXH
Qp (m
3
/s)
0,1% 0,5% 1% 5%
Thạnh Mỹ
(Vu Gia)
1.850 3459 0,49 0,98
7000
20/11/1998

11.171 9.372 8.574 6.628
Nông Sơn
(Thu Bồn)

3.150 6036 0,38 0,76
10815
12/11/2007

15.707 13.579 12.620

10.233

Ngoài lũ chính vụ, do tác động của gió mùa Đông Nam nên trên các sông suối ở
địa bàn tỉnh Quảng Nam thường xuất hiện lũ tiểu mãn vào tháng 5 hoặc tháng 6, có năm

thì tháng có dòng chảy nhỏ nhất vào tháng 6
Dòng chảy mùa kiệt phụ thuộc vào trữ lượng nước trong sông và lượng mưa trong
mùa khô. Có thể chia mùa kiệt thành 2 thời kỳ:
+ Thời kỳ dòng chảy ổn định: dòng chảy thời gian này chủ yếu là do lượng nước trữ
trong lưu vực sông cung cấp nên xu hướng giảm dần theo thời gian và sau đó ổn định
(thường từ tháng 1 đến tháng 4 hàng năm)
Đề xuất các giải pháp phòng tránh và giảm thiểu thiên tai lũ lụt, hạn hán tỉnh Quảng Nam
Phòng Tài nguyên nước mặt, Viện Địa Lý
13
+ Thời kỳ dòng chảy không ổn định: từ tháng 5 đến tháng 7 hàng năm dòng chảy
thường không ổn định do nguồn cung cấp nước cho dòng chảy thời kỳ này ngoài nước
ngầm còn có lượng mưa trong mùa cạn (chủ yếu là mưa tiểu mãn tháng 5 và tháng 6) do
đó các sông suối trong năm xảy ra 2 lần có dòng chảy kiệt nhất, lần thứ nhất vào tháng 3,
4 và lần 2 vào tháng 7, 8.
Bảng 6: Đặc trưng dòng chảy kiệt trên sông tỉnh Quảng Nam
Đặc trưng
Thạnh Mỹ - Vu Gia
(1850 km
2
)
Nông Sơn - Thu Bồn
(3155km
2
)
Mùa Các đặc trưng thể hiện
Mùa kiệt
Q (m
3
/s) 59,9 114
M (l/s/km

kiệt chỉ còn 10l/s.km
2
(bảng 7)
Bảng 7: Dòng chảy nhỏ nhất ứng với tần suất trên các sông tỉnh Quảng Nam
Trạm
Flv
(km
2
)
Q
(m
3
/s)
Cv Cs
Q
kp
(m
3
/s)
75% 90%
Thạnh Mỹ 1850 30,8 0,28 0,60 24,7 20,5
Nông Sơn 3150 49,0 0,30 0,60 38,5 21,4
Đề xuất các giải pháp phòng tránh và giảm thiểu thiên tai lũ lụt, hạn hán tỉnh Quảng Nam
Phòng Tài nguyên nước mặt, Viện Địa Lý
14
Do tác động của các cơ chế gây mưa khác nhau nên trong mùa kiệt thường xuất
hiện lũ tiểu mãn vào tháng 5, 6 nhưng không thường xuyên, do vậy thời kỳ xuất hiện ba
tháng có dòng chảy nhỏ nhất cũng như tháng có dòng chảy nhỏ nhất trong năm không ổn
định. Nếu có lũ tiểu mãn, lượng dòng chảy ba tháng nhỏ nhất xuất hiện vào tháng 2 - 4 và
tháng 4 có dòng chảy nhỏ nhất. Khi không có lũ tiểu mãn dòng chảy ba tháng nhỏ nhất rơi

Nông Sơn Thu Bồn 3.150 8,98 4/1983 4,63 17/8/1977
Tóm lại: Tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Quảng Nam phong phú nhưng sự phân
bố không đều theo không gian và thời gian thường gây nên các thiên tai về nước: hạn hán
trong mùa khô, lũ lớn kèm theo ngập lũ trong mùa mưa gây nên những tổn thất to lớn cả
về người và của cải đồng thời gây ô nhiễm môi trường và bất ổn định đời sống của người
dân.
1.2. Các thiên tai liên quan đến tài nguyên nước (lũ lụt và hạn hán) tỉnh Quảng Nam
1.2.1. Tổng quan về các dạng thiên tai ở tỉnh Quảng Nam
Tỉnh Quảng Nam là địa bàn thường xuyên chịu ảnh hưởng của các loại thiên tai
địa động lực ngoại sinh như: bão, áp thấp nhiệt đới, lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, gió
lốc, sét, gió Tây Nam khô nóng, gió mùa Đông Bắc, sạt lở núi, sạt lở bờ sông, bờ biển,
sương mù và mưa đá. Thiên tai bão, lũ chủ yếu xảy ra từ tháng 9 đến tháng 12. Hạn hán,
xâm nhập mặn thường xảy ra từ tháng 4 đến tháng 7. Các loại thiên tai khác xảy ra quanh
năm. Các tai biến tự nhiên gây ra các tổn thất về người và của cải vật chất và làm xáo trộn
các hoạt động của con người trên phạm vi rộng. Căn cứ vào phạm vi ảnh hưởng, mức độ
thiệt hại và tần suất xuất hiện các loại thiên tai ở tỉnh Quảng Nam có thể xếp theo thứ tự ở
bảng 9.
Qua bảng 9 cho thấy, đối với Quảng Nam, các thiên tai liên quan đến dòng chảy
(lũ lụt, hạn hán) có mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng nhất và có sức tàn phá lớn nhất về
môi trường, gây ra thiệt hại về nhiều mặt trên địa bàn tỉnh. Theo thống kê những năm gần
đây, thiên tai đã gây thiệt hại trên địa bàn tỉnh ước tính trung bình gần bằng 6,26% tổng
GDP và những năm mưa lũ lớn, thiệt hại có thể lên đến 18 - 20% GDP. Những trận lũ lớn
trong các năm 1990, 1996, 1998, 1999, 2004, 2007 và 2009 thiệt hại đến hàng nghìn tỷ
Đề xuất các giải pháp phòng tránh và giảm thiểu thiên tai lũ lụt, hạn hán tỉnh Quảng Nam
Phòng Tài nguyên nước mặt, Viện Địa Lý
15
đồng và sinh mạng hàng trăm người. Đặc biệt đợt lũ năm 2007 và tiếp đến trận lũ năm
2009 là thiên tai gây hậu quả nặng nề nhất kể từ 100 năm nay ở Quảng Nam với tổng thiệt
hại của 2 năm lũ lớn lên tới 5700 tỷ đồng.
Bảng 9: Mức độ ảnh hưởng của thiên tai

các cán bộ Ban Chỉ huy phòng chống lụt bão tỉnh Quảng Nam, dòng chảy tại trạm Câu
Lâu có mối tương quan tỷ lệ thuận với tình hình lũ và ngập lụt của toàn tỉnh. Với thời
gian mùa lũ ngắn, các đợt lũ thường liên tiếp xẩy ra trong thời gian ngắn tạo nên đường
quá trình lũ có dạng nhấp nhô nhiều đỉnh, thể hiện qua các năm lũ lớn điển hình như sau:
Năm 1964 (4 – 10/11/1964): Do mưa kéo dài nhiều ngày nên lũ xảy ra trên diện
rộng với mực nước rất cao. Theo số liệu điều tra vết lũ cho thấy mực nước tại trạm Nông
Sơn đạt 22,16m; Giao Thuỷ là 10,06m; Ái Nghĩa đạt 10,56m; Câu Lâu là 5,48m và Hội
An là 3,40m
Mùa lũ năm 1996 đã xuất hiện liên tiếp 6 trận lũ từ báo động I trở lên, có 3 trận lũ
vượt báo động cấp III, trong đó trận lũ xẩy ra ngày 2 - 6/11/1996 là lớn nhất.
Năm 1997 có 7 đợt lũ, trong đó có 3 đợt lũ trên báo động cấp II, 2 trận lũ lớn vượt
báo động cấp III xuất hiện trong tháng 9, sớm hơn bình thường.
Đề xuất các giải pháp phòng tránh và giảm thiểu thiên tai lũ lụt, hạn hán tỉnh Quảng Nam
Phòng Tài nguyên nước mặt, Viện Địa Lý
16
Năm 1998, do ảnh hưởng của El-Ninô, đầu năm nắng nóng và hạn hán, mùa lũ
xuất hiện muộn hơn bình thường. Mãi cho đến 12/11/1998 mới có mưa do bão số 4 gây
ra. Sau đó, xuất hiện dồn dập nhiều đợt mưa lớn do ảnh hưởng của các cơn bão số 5, 6, 7,
8 kết hợp với hoạt động mạnh của không khí lạnh đã gây ra 5 đợt mưa lớn, hình thành 3
trận lũ có mực nước đỉnh lũ từ báo động cấp I trở lên, trong đó đợt lũ trong các ngày 19 -
24/11 do bão số 5 kết hợp với không khí lạnh đã gây ra mưa lớn trên diện rộng. Đây là
trận lũ lớn, dạng lũ kép (2 đỉnh), mực nước đỉnh lũ vượt báo động cấp III từ 0,81 - 1,57m.
Sau trận lũ năm 1964, đây là trận lũ lớn nhất đã từng quan trắc trong thời kỳ 1977 – 1998.
Năm 1999, liên tiếp trong vòng 1 tháng, từ đầu tháng 11 đến đầu tháng 12 đã xẩy
ra 2 đợt lũ đặc biệt lớn. Trận lũ đầu tháng 11 là trận lũ kép với 5 đỉnh lũ, trong đó có 4
đỉnh lũ vượt báo động cấp III từ 0,8 - 2,58m (Cẩm Lệ), mực nước đỉnh lũ ở hạ lưu cao
hơn mực nước đỉnh lũ năm 1998. Tiếp theo, đầu tháng 12/1999 lại xẩy ra 1 đợt lũ rất lớn
với 2 đỉnh lũ, mực nước đỉnh lũ cao nhất vượt báo động cấp III từ 0,8 - 1m.
Năm 2007, Do ảnh hưởng của hoàn lưu áp thấp nhiệt đới suy yếu từ bão số 6 kết
hợp với không khí lạnh và trường gió Đông trên cao mạnh, nên từ ngày 10 - 13/11, khu

lưu đổ ra biển cũng như tác động của thuỷ triều, địa hình, địa vật nên lũ lên chậm hơn,
nhưng rút rất chậm nhất là khi gặp triều cường. Tại trạm thuỷ văn Thạnh Mỹ trên sông Vu
Gia, vận tốc dòng chảy lũ lớn nhất đạt 3,77m/s, biên độ lũ lớn nhất là 15,2m, thời gian
truyền lũ từ Thạnh Mỹ đến Ái Nghĩa (40,5km) dài nhất 11giờ, ngắn nhất chỉ có 5giờ. Tại
Đề xuất các giải pháp phòng tránh và giảm thiểu thiên tai lũ lụt, hạn hán tỉnh Quảng Nam
Phòng Tài nguyên nước mặt, Viện Địa Lý
17
trạm thuỷ văn Nông Sơn trên sông Thu Bồn, vận tốc dòng chảy lũ lớn nhất là 3,74m/s, biên
độ lũ lớn nhất 12m, thời gian truyền lũ từ Nông Sơn đến Giao thuỷ (26km) dài nhất 7giờ,
ngắn nhất chỉ có 3giờ. Từ Giao Thuỷ đến Câu Lâu (23km), thời gian truyền lũ trung bình
7,4giờ, dài nhất 11giờ và ngắn nhất là 6giờ. Lũ tập trung nhanh đổ xuống vùng đồng bằng,
vùng đồng bằng sông có độ dốc bé, lòng sông nông, các cửa sông khả năng thoát lũ kém,
sông lại không có đê nên đại bộ phận dòng chảy lũ khi đến Ái Nghĩa và Giao Thuỷ đã chảy
tràn bờ vào đồng gây ngập lụt cho toàn bộ hạ lưu bao gồm các huyện Đại Lộc, Điện Bàn,
Duy Xuyên và Thành phố Hội An.
Nằm trong vùng sụt võng trung sinh đại, dốc theo hướng tây nam - đông bắc, lưu
vực sông Vu Gia - Thu Bồn có dạng hình nan quạt mở rộng, phát triển phụ lưu đến cấp 4
và các phân lưu có chiều dài lớn hơn 10km vì vậy khả năng thoát nước kém. Lòng sông
phần hạ du mở rộng, độ dốc đáy sông giảm dần, độ uốn khúc tăng lên, xuất hiện nhiều bãi
bồi ở giữa sông vì vậy liên tục xảy ra hiện tượng bồi lấp, xói lở bờ và cửa sông. Khi có
mưa lớn thì lũ sông Vu Gia - Thu Bồn tập trung nhanh cùng với mưa lớn ở hạ du gây
ngập lớn các huyện Duy Xuyên, Đại Lộc, Điện Bàn và TP Hội An. Kết quả của mô hình
Mike 11 – GIS (đã được trình bày trong chuyên đề 5) đã xác định diện ngập lụt ở hạ du
tỉnh Quảng Nam trong những năm lũ lớn (bảng 10)
Bảng 10: Diện tích ngập theo các năm lũ lớn
TT Năm
H
max
tại Câu Lâu
Diện tích ngập lụt

48h, ở đồng ruộng có thể kéo dài 2 - 3 ngày, còn ở vùng ven biển 0,5 - 1 ngày.

Hình 2: Bản đồ ngập lụt tỉnh Quảng Nam (ứng với lũ 1% tháng 11/2007)
Quốc lộ 1A và tuyến đường sắt chạy song song nhau và cắt ngang đồng bằng sông
Vu Gia - Thu Bồn. Khi lũ lớn, sông Vu Gia - Thu Bồn gây ngập lụt, 2 tuyến đường trên
đã cản trở dòng chảy, làm cho mức độ ngập lụt vùng thượng du cao hơn vùng hạ du và
thời gian ngập kéo dài hơn. Ngoài ra, còn ngập nhiều hệ thống đường sá liên huyện, xã,
thôn.
Đề xuất các giải pháp phòng tránh và giảm thiểu thiên tai lũ lụt, hạn hán tỉnh Quảng Nam
Phòng Tài nguyên nước mặt, Viện Địa Lý
19
1.2.3. Đặc điểm khô hạn và tình trạng hạn hán
Hạn hán đã trở thành dạng thiên tai phổ biến trên thế giới trong những thập niên
gần đây. Theo thống kê trung bình mỗi năm có khoảng 21 triệu ha đất hạn hán biến thành
đất không có năng suất kinh tế. Trong gần 1/4 thế kỷ vừa qua, số dân gặp rủi ro vì hạn
hán trên những vùng đất khô cằn đã tăng hơn 80%. Nguy cơ đói và khát do hạn hán,
hoang mạc hoá uy hiếp 250 triệu con người trên trái đất, kèm theo đó còn ảnh hưởng tới
môi trường khí hậu chung toàn cầu (Yang Youlin - 2007).
Hạn hán là sự thiếu mưa trong một thời gian dài, thường là một mùa hoặc có thể
kéo dài hơn, dẫn đến sự khan hiếm nước cho các ngành hoạt động kinh tế, xã hội và môi
trường (UN/ISDR, 5/2007).
Các nhà nghiên cứu của Trung tâm Giảm nhẹ hạn hán Quốc gia thuộc trường ĐH
Lebrasca-Licoln Mỹ đã phân hạn hán thành 4 loại: (1) hạn khí tượng; (2) hạn thuỷ văn;
(3) hạn nông nghiệp và (4) hạn kinh tế - xã hội (Wilhite và Glantz,1985).Trong các loại
hạn này, hạn khí tượng là hiện tượng tự nhiên có nguyên nhân trực tiếp từ khí hậu và biến
đổi theo vùng; riêng đối với hạn KT – XH tập trung nhiều hơn vào các khía cạnh xã hội
và nhân văn. Chúng thể hiện mối tương tác giữa các tính chất tự nhiên của hạn khí tượng
và các hoạt động của con người. Hạn KT – XH được xác đinh bởi sự tác động liên kết
giữa các yếu tố tự nhiên và hoạt động xã hội. Đây là hiện tượng hết sức phức tạp mà sự
hình thành là do cả hai nguyên nhân: Tự nhiên và con người. Các yếu tố tự nhiên gây hạn

hợp cao với tình hình hạn hán ở từng vùng cụ thể. Đối với vùng Nam Trung Bộ nói chung
và lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn tỉnh Quảng Nam nói riêng, các chỉ tiêu/chỉ số tính toán
chỉ số khô hạn như PDSI, CMI, GMI, SI, Chỉ số khô Penman… hiện không thể áp dụng
được do không đủ tài liệu quan trắc. Trong khuôn khô của chuyên đề này, công thức tính
toán chỉ số khô hạn K (xét theo tiêu chuẩn cán cân nước)
Chỉ số khô hạn:
t
t
t
R
E
K 

Trong đó: E
t
- Lượng bốc hơi (mm)
R
t
- Lượng mưa (mm)
Tháng nào có chỉ số khô hạn nhỏ hơn 1 tháng đó được coi là ẩm ướt, ngược lại
tháng nào có chỉ số khô hạn nhỏ hơn 1 thì được coi là tháng khô hạn, và chỉ số khô hạn
càng lớn thì càng khô hạn và ngưỡng chỉ tiêu khô hạn K được quy định như sau:
K< 0,5 : Rất ẩm
0,5 ≤ K <1,0 : Ẩm
1,0 ≤ K <2,0 : Hơi khô
2,0 ≤ K <4,0 : Khô
K≥ 4,0 : Rất khô
Theo số liệu quan trắc nhiều năm từ 1997 đến 2009 về mưa và bốc hơi của các
trạm trong và lân cận tỉnh Quảng Nam, tính toán chỉ số khô hạn K theo năm của tỉnh
(bảng 12 và hình 3)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status