Kinh Tế Du Lịch GVGD: Th.S Nguyễn Duy Phương
Tiểu luận
Đề tài: Nâng cao chất lượng
hệ thống cơ sở vật chất – kĩ
thuật của vùng du lịch
phía Nam
SVTH: Nhóm 11 Lớp 11LCVNH01
1
Kinh Tế Du Lịch GVGD: Th.S Nguyễn Duy Phương
Mục lục
Tiểu luận 1
Đề tài: Nâng cao chất lượng hệ thống cơ sở vật chất – kĩ thuật của vùng du lịch phía Nam 1
Mục lục 2
LỜI MỞ ĐẦU 3
1.Khái quát chung về vùng du lịch Nam Bộ 4
2.Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch tại các tỉnh phía Nam 5
2.1. Các công trình đầu mối giao thông 5
2.2.Cơ sở lưu trú 11
3.Cơ sở phục vụ ăn uống 14
3.1 Các dịch vụ bổ sung 16
4.Giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật vùng du lịch
Nam Bộ 19
KẾT LUẬN 24
SVTH: Nhóm 11 Lớp 11LCVNH01
2
Kinh Tế Du Lịch GVGD: Th.S Nguyễn Duy Phương
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển mình để vươn lên một tầm cao mới ,
tìm một vị thế mới để từng bước khẳng định mình cùng bạn bè khu vực và thế
giới. Hòa mình cùng không khí hội nhập, Việt Nam đã có những bước chuyển
mình đáng kể trong trong việc phát triển nền kinh tế của cả nước . Cùng song
các vùng khác trong cả nước, có khả năng thu hút mạnh đầu tư nước ngoài.
Vùng đồng bằng sông Cửu Long hay còn gọi là Tây Nam Bộ hoặc Miền
Tây , có 12 tỉnh ( Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, An Giang, Bến Tre, Vĩnh
Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau) và 1
thành phố ( thành phố Cần Thơ) . Đây là vùng đồng bằng châu thổ rộng lớn nhất
nước, trù phú và đông dân, được coi là vựa lúa của của cả nước. Vùng đồng
bằng sông Cửu Long còn được coi là một trong những vùng giàu tiềm năng du
lịch Việt Nam,được thiên nhiên ưu đãi: tài nguyên rừng, biển, sinh vật dồi
dào.Nguồn nước dồi dào của hệ thống sông Mê Công , khi vào Việt Nam chia
thành hai nhánh Tiền Giang và Hậu Giang ra biển bằng chính cửa sông , mạng
lưới kênh rạch chằng chịt cắt xẻ đồng bằng thành những ô vuông thuận lợi vê
giao thông , sản xuất và sinh hoạt của người dân. Đây là một vùng lãnh thổ rộng
lớn,
Những năm qua cùng với sự phát triển của du lịch cả nước, du lịch vùng
đồng bằng sông Cửu Long cũng đã được quan tâm khai thác phát triển và đạt
được nhiều thành quả đáng khích lệ. Năm 2008, vùng ĐBSCL đón trên 1,2 triệu
lượt khách quốc tế và trên 8 triệu lượt khách nội địa. Những kết quả này thể hiện
nỗ lực lớn của các địa phương trong vùng, tuy nhiên vẫn chưa phản ánh đúng
tiềm năng to lớn của du lịch vùng đồng bằng sông Cửu Long.
SVTH: Nhóm 11 Lớp 11LCVNH01
4
Kinh Tế Du Lịch GVGD: Th.S Nguyễn Duy Phương
2. Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch tại các
tỉnh phía Nam
2.1. Các công trình đầu mối giao thông
2.1.1. Sân bay
* Vùng du lịch phía Nam bao gồm 6 sân bay . Trong đó có 3 sân bay nội địa
và 3 sân bay quốc tế với diện tích va công suất tiếp nhận khách lớn.Cụ thể :
- Sân bay Côn Đảo ( diện tích 13.320 m²) thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
+ Theo thống kê 2010 công suất khách giờ cao điểm tại nhà ga hành khách là
+ Theo thống kê năm 2010 nhà ga nội địa đã phục vụ 8 triệu lượt khách nội
địa.Nhà ga quốc nội công suất phục vụ hành khách đi lại vào giờ cao điểm là
2.100 hành khách.
+ Nhà ga quốc tế có công suất tối đa 15-17 triệu lượt khách hành khách / năm
+ Ước tính đến năm 2015 tiếp đón khoảng 23,5 triệu lượt khách/ năm.
* Như vậy có thể thấy các sân bay ở khu vực phía Nam có quy mô về số
lượng và đảm bảo về chất lượng phục vụ du khách. Trong đó phải kể đến sân
bay Tân Sơn Nhất là sân bay lớn nhất nước với lưu lượng hàng chục triệu khách
hằng năm. Các sân bay quốc tế tại miền Nam được trang bị các thiết bị hiện đại
tối tân, nhà ga hành khách có sức tải lớn , đường bay rộng là những điều kiện vô
cùng thuận lợi để phát triển du lịch, đưa du khách đến gân hơn với các điểm du
lịch trong vùng .
Tuy nhiên tại những sân bay quốc nội ( Cà Mau, Rạch Giá ) tình trạng thiếu
vắng khách vẫn diễn ra trong khi đó tại các sân bay lớn ( Tân Sơn Nhất ) tại
đang quá tải, với sự xuất hiện của các hãng hàng không giá rẻ gây nên tình trạng
trì hoãn hàng giờ.
2.1.2. Nhà ga
Hệ thống đường sắt Bắc –Nam đi qua 3 tỉnh thành phía Nam với các nhà ga
sau:
+ Tỉnh Đồng Nai : Ga Gia Ray , Bảo Chánh , Long Khánh, Dầu Giây, Trảng
Bom, Hố Nai, Biên Hòa
+ Tỉnh Bình Dương : Ga Dĩ An , Sóng Thần.
+ Sài Gòn : Ga Bình Triệu, Gò Vấp , Sài Gòn.
Trong thời gian tới , thành phố Hồ Chí Minh sẽ triển khai xây dựng nhà ga
Bến Thành với vị trí trung tâm có chức năng phức hợp, phục vụ kết nối giữa các
tuyến đường sắt đô thị với nhiều phương thức vận tải hành khách, kết hơp các
hoạt động dịch vụ đô thị thương mại đa dạng và phục vụ du lịch tại trung tâm
thành phố
Tính tới thời điểm hiện tại trong 17 tỉnh thành phía Nam chỉ có duy nhất 3
tỉnh là có các nhà ga.13 tỉnh thành đồng bằng sông Cửu Long vẫn chưa xây
có những quy hoạch thuộc trục xương sống mà các dự án giao thông đường bộ
hiện đại cũng đang được xây dựng. Cụ thể là các đường cao tốc TP.HCM –
Long Thành – Dầu Dây, Biên Hoà – Vũng Tàu, Bến Lức - Trung Lương dài
37km, 8 làn xe, tổng mức đầu tư 14.970 tỉ đồng và đoạn Dầu Giây- Long Thành
dài 43km, 6 - 8 làn xe, tổng vốn đầu tư 16.340 tỉ đồng.
Tuyến đường bộ Long An – Nhơn Trạch – Đồng Nai – Bà Rịa Vũng Tàu
cũng đã được triển khai rầm rộ và đồng bộ. Những lợi thế này đã tạo đà cho hoạt
động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước đang rất sôi nổi. .
SVTH: Nhóm 11 Lớp 11LCVNH01
7
Kinh Tế Du Lịch GVGD: Th.S Nguyễn Duy Phương
Những lợi thế này đã tạo đà cho hoạt động kinh tế trong vùng cũng như giao
thương với cả nước đang rất sôi nổi.
Phương tiện di chuyển chủ yếu là các xe du lịch của các hãng xe lớn ( xe du
lịch 45 chỗ, 16 chỗ…), xe taxi với những hãng danh tiếng như Mai Linh ,
Vinasun ,Khối lượng xe phục vụ du lịch dày đặc với số lượng lớn.
Các tỉnh, thành phố vùng ÐBSCL huy động mọi nguồn lực để đầu tư phát
triển hệ thống hạ tầng giao thông. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội của khu vực
ÐBSCL năm 2007 đạt hơn 86 nghìn tỷ đồng, tăng 34% so năm 2006, chiếm
khoảng 44,3% GDP, trong đó vốn đầu tư phát triển từ ngân sách địa phương
quản lý là 11.360 tỷ đồng. Có thể nói rằng giao thông đường bộ ở thành phố hồ
Chí Minh là trọng điểm
Với khối lượng lớn các phương tiện vận chuyển trên đường phố , thực trạng
hiện nay là mật độ xe lưu thông cao, nhiều công trình triển khai thi công, bố trí
giao thông không hợp lý, xe buýt lạm dụng quyền ưu tiên, tình trạng "đại công
trường" là những nguyên nhân khiến cho bức tranh giao thông thành phố xấu
hơn. Nạn ùn tắt giao thông vào giờ cao điểm hàng nghìn phương tiện lưu thông
ken chật cứng, tràn lên cả lề đường kéo dài hàng trăm mét, có hôm kẹt xe
nghiêm trọng gần 3 giờ liền.Vấn đề vấn đề về tai nạn giao thông và ùn tắc giao
thông, đặc biệt là giao thông đường bộ, số vụ giao thông không ngừng tăng cả
biến rõ rệt theo hướng tích cực từ loại phương tiện, dịch vụ kèm theo đến cung
cách phục vụ, thì ngược lại, chất lượng tàu hỏa và những dịch vụ đi kèm
dường như vẫn không thay đổi, thậm chí còn thụt lùi so với trước.
Nếu xe khách chất lượng cao hiện nay đa phần được trang bị điều hòa không
khí suốt tuyến, ghế ngồi rộng rãi, xe chạy đúng tốc độ quy định, an toàn, bao ăn,
nước uống miễn phí, cung cách phục vụ chu đáo, thân thiện thì những thứ vừa
nêu đối với đường sắt dường như vẫn còn là thứ xa xỉ mà còn lâu hành khách
mới có được.
Có trực tiếp đi lại bằng tàu hỏa, mới thấy hết cảnh nhếch nhát, tệ hại, khủng
khiếp của tình trạng đường sắt hiện nay. Nào là chỗ ngồi chật như nêm, bán
hàng rong lên xuống toa tàu như đi giữa chợ. Hành khách đứng nằm la liệt trên
toa, xe bán hàng lưu động của tàu kéo qua, kéo lại không biết bao nhiêu lần
trong một ngày. Tình trạng người say xỉn, đánh bài ngay trên toa tàu thường
xuyên diễn ra. Thái độ phục vụ đanh đá, vô văn hóa của nhân viên trên tàu.
Nếu như trước đây khi đi tàu khách được phục vụ ăn uống miễn phí thì hiện
nay tất cả đều được bán với giá cắt cổ, trong khi thực phẩm trên tàu quá dở,
thậm chí nước uống miễn phí được đựng trong những can to và được đặt ngay
trong nhà vệ sinh
Bên trong các chuyến tàu đã vậy mà bên ngoài cũng chẳng khá gì hơn. Tình
trạng tai nạn tàu hỏa vẫn xảy ra thường xuyên do chất lượng máy tàu, đường ray
đã quá lỗi thời, cơ sở vật chất phần lớn đã hư hỏng. Đặc biệt nhất, hiện trạng
đường sắt và đường bộ giao nhau, thậm chí cùng chạy trên một tuyến đường vẫn
đang là nỗi ám ảnh thường trực của người tham gia giao thông. Tai nạn thảm
SVTH: Nhóm 11 Lớp 11LCVNH01
9
Kinh Tế Du Lịch GVGD: Th.S Nguyễn Duy Phương
khốc mới đây trên cầu Ghềnh tại Đồng Nai đã phần nào phản ánh thực trạng
đáng buồn này của ngành đường sắt.
2.1.6. Đường thủy
Hầu hết khách du lịch đến với đồng bằng sông Cửu Long thì phương tiện đi
sông ngòi ngày càng bị thu hẹp, nhất là các địa phương đang đô thị hóa nhanh.
SVTH: Nhóm 11 Lớp 11LCVNH01
10
Kinh Tế Du Lịch GVGD: Th.S Nguyễn Duy Phương
Hầu hết các cảng, bến TNĐ đều lợi dụng địa hình tự nhiên để hoạt động, tự gia
cố bến theo kinh nghiệm, không theo thiết kế và loại hình phương tiện thủy
làm cho hoạt động cảng, bến rất phức tạp.
Trong khi đó, các địa phương vẫn chưa có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ
quan quản lý chuyên ngành về giao thông thủy để kiểm tra, xử lý tình trạng
cảng, bến không phép. Một dẫn chứng cụ thể là trong các tỉnh ở khu vực phía
Nam chỉ mới có TP.HCM và Đồng Nai đã thực hiện xong việc quy hoạch hệ
thống GTĐT, các địa phương còn lại hoặc chưa thực hiện hoặc đang triển khai.
Một thực tế khác là các cơ quan quản lý chuyên ngành về giao thông ĐTNĐ
như Cảnh sát đường thủy, các cảng vụ, đoạn quản lý ĐTNĐ chỉ có thể quản lý
kiểm tra kiểm soát trong một giới hạn hẹp và khó có thể thực hiện thường
xuyên, trong khi hệ thống sông, kênh rạch tại các tỉnh phía Nam rất chằng chịt.
2.2. Cơ sở lưu trú
Sau 05 năm thực hiện các quy định tại Luật Du lịch, tính đến nay trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh có 1.461 cơ sở lưu trú du lịch với 34,092 phòng đã được
phân loại, xếp hạng. Số khách sạn được công nhận hạng sao tăng hơn 5 lần so
năm 2005, trong đó loại khách sạn 1 sao tăng đột biến từ 48 khách sạn (cuối
năm 2005) lên 558 khách sạn (cuối năm 2010 cao lên gấp 10 lần). Hầu hết các
khách sạn này đều do những tập đoàn quốc tế như Accor, Furama, Mariot hay
Sheraton quản lý và tập trung nhiều nhất tại Quận 1.
Đối với vùng đồng bằng Sông Cửu Long trong giai đoạn 2000 - 2008, hệ
thống cơ sở lưu của vùng vùng đồng bằng sông Cửu Long đã phát triển với tốc
độ khá nhanh. Tốc độ tăng trưởng trung bình cho giai đoạn 2000 - 2006 về hệ
thống cơ sở lưu trú là 16,2%/năm. Đặc biệt là từ sau năm 2004 trở lại đây, sự
phát triển hệ thống cơ sở lưu trú của vùng tăng nhanh về số lượng. Đến 2008,
toàn vùng có 809 cơ sở lưu trú với tổng số 16.384 buồn, tập trung nhiểu nhất ở
1.912 phòng và đến nay có 132 cơ sở lưu trú, trong đó có 3 khách sạn 2 sao, 32
khách sạn 1 sao, 97 nhà nghỉ du lịch. Các khách sạn trên địa bàn tỉnh đều tập
trung tại TP. Mỹ Tho, số ít tại TX. Gò Công và huyện Cái Bè. Các doanh nghiệp
Nhà nước hoặc công ty cổ phần có vốn lớn tập trung đầu tư xây mới hoặc nâng
cấp các khách sạn lớn như: Chương Dương, Sông Tiền, Công Đoàn Bên
cạnh đó, nhiều doanh nghiệp đầu tư xây dựng mới các khách sạn tương đối khá
như: Rạng Đông, Phương Tín, Vân Phúc, Vọng Các, Yến Ngân, Yến Nga,
Thanh Tân Ngoài ra, còn xây dựng các nhà trọ, góp phần đáp ứng yêu cầu
phục vụ khách du lịch có thu nhập thấp và khách lẻ. Điều này chứng tỏ việc kinh
doanh dịch vụ lưu trú đang có xu hướng phát triển mạnh trong những năm gần
đây.
Với tiện nghi, tiện ích thì phần lớn khách sạn, nhà nghỉ chỉ phục vụ khách
quốc tế bình dân. Trong khi đó khách sạn tương đối đạt chuẩn phục vụ khách
du lịch hạng sang thì chỉ có thể kể tên: Chương Dương, Sông Tiền, Rạng Đông,
Minh Quân và nhà khách Tiền Giang. Ít địa chỉ cho lựa chọn và hiệu suất khai
SVTH: Nhóm 11 Lớp 11LCVNH01
12
Kinh Tế Du Lịch GVGD: Th.S Nguyễn Duy Phương
thác của các khách sạn còn thấp. Do công suất sử dụng phòng thấp, chi phí đầu
tư lại cao, nên hiệu quả kinh doanh khách sạn rất hạn chế. Đa số khách sạn
không tổ chức phục vụ ăn uống tại chỗ cho khách lưu trú. Đây cũng là điều bất
tiện cho khách và kém hiệu quả kinh tế.
Ngoài loại hình khách sạn, nhà khách, nhà nghỉ, dịch vụ lưu trú còn có mô
hình nghỉ đêm ở nhà dân (homestay), đã chính thức đi vào hoạt động từ năm
2006 và được chọn khu vực cù lao Thới Sơn, thị trấn Cái Bè và xã Đông Hòa
Hiệp (Cái Bè). Trong thời gian qua, mô hình lưu trú homestay ở Cái Bè đã có
sức thu hút mạnh đối với khách du lịch quốc tế có nhu cầu tham quan, hòa nhập
tìm hiểu cuộc sống người dân Nam bộ. Từ đó, mô hình homestay đã được nhân
rộng ra trên các địa bàn khác như: Vĩnh Kim, Ngũ Hiệp, Bình Ninh và TP. Mỹ
Tho để phục vụ khách du lịch lưu trú, nâng tổng số lên 15 điểm. Tuy nhiên hiện
trú xả nước thải trực tiếp ra môi trường, và 60% cơ sở chỉ sử dụng hệ thống xử
lý nước thải bằng bể lắng lọc,chính điều này làm cho môi trường tại các nơi lưu
trú không đảm bảo, không thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch khi họ muốn tận
hưởng một không khí trong lành,thoáng mát tại các khu du lịch.
Hầu hết các cơ sở lưu trú tập trung nhiều tại các trung tâm du lịch lớn
của phía Nam dẫn đến việc phân bố không đồng đều các cơ sở lưu trú gây ảnh
hưởng không nhỏ đến các hoạt động du lịch của du khách. Ví dụ: Khách du lịch
tham gia các hoạt động du lịch tại Bình Dương nhưng lại phải trở về thành phố
Hồ Chí Minh lưu trú.
Chất lượng nguồn nhân lực tại các cơ sở kinh doanh lưu trú, đặc biệt là
lao động trực tiếp tại các khách sạn, nhà nghỉ, Resort Việt Nam hiện nay đều
chưa đáp ứng được nhu cầu và hoàn toàn chưa đạt chuẩn quốc tế. Nguồn nhân
lực làm việc trong lĩnh vực quản lý và phục vụ ở các khách sạn còn yếu về
nghiệp vụ, năng suất không cao; thiếu kỹ năng quản lý, ngoại ngữ và khả năng
sử dụng cũng như kiến thức, hiểu biết về máy tính, internet, thương mại điện tử.
Nhiều khách sạn cũng chưa thật chú trọng công tác tiếp thị, dẫn đến hiệu quả
kinh doanh thấp.
Các cơ sở lưu trú thiếu vốn và mặt bằng để mở rộng cơ sở lưu trú, nâng
cấp tiện nghi, mở mang dịch vụ.
Thực trạng công tác vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm trong cơ sở
lưu trú du lịch vẫn chưa được chú trọng đặc biệt là ở các cơ sở nhỏ, tư nhân
chưa nghiêm túc hoặc cố tình không thực hiện các quy định, quy chế và các văn
bản pháp luật về quản lý vệ sinh môi trường, chất lượng an toàn thực phẩm.
3. Cơ sở phục vụ ăn uống
Khu vực phía Nam là vùng kinh tế phát triển năng động nhất nước ta với các
trung tâm là TPHCM, Đồng Nai, tp Cần Thơ., Bình Dương…hàng năm thu hút
hàng triệu lượt khách du lịch tham quan. Các cơ sở kinh doanh ăn uống của
vùng ngày càng nhiều , và đáp ứng được nhu cầu của du khách tham quan.
SVTH: Nhóm 11 Lớp 11LCVNH01
14
cho việc phục vụ khách.
Có thể nói nhiều loại nhà hàng ra đời, ngày càng trở nên chuyên môn hóa
với nhiều thương hiệu khác nhau như: nhà hàng tiệc cưới, nhà hàng hải sản, nhà
hàng Buffet, nhà hàng Lẩu, nhà hàng Nhật, nhà hàng Hàn Quốc…Và cũng có
nhiều nhà hàng khu vực này được xây dựng và trang trí đẹp, bắt mắt tạo ấn
tượng tốt cho du khách.
SVTH: Nhóm 11 Lớp 11LCVNH01
15
Kinh Tế Du Lịch GVGD: Th.S Nguyễn Duy Phương
Vệ sinh an toàn thực phẩm ngày càng được chú trọng, đảm bảo sức khỏe của
người tiêu dùng. Rất nhiều các nhà hàng trong vùng đã đạt chứng nhận về vệ
sinh ATTP như: NH Cơm lam Gà Sa Lửa, NH Sanouva Hotel, NH Miss Sai
Gòn, NH Á Đông…tại TP HCM.
Nhân viên phục vụ tại các nhà hàng hầu hết đầu đã trài qua trình độ đào tạo
mang tính chuyên nghiệp cao, bộ phận phục vụ thân thiện, vui vẻ, nhiệt tình.
Các món ăn ngày càng đa dạng hóa, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Đặc
biệt là các món an mang hương vị đồng quê như:canh cá cua đồng, cá kho tộ,
thịt vịt xào húng quế, cá lóc nướng.
Bên cạnh đó cũng còn tồn tại nhiều mặt hạn chế như sau:
Có một số tỉnh tại khu vực vì du lịch không phải là ngành kinh tế trọng điểm
nên những cơ sở vật chất phục vụ ăn uống lại chưa được quan tâm nhiều. Hệ
thống nhà hàng tại những tỉnh này còn hạn chế. Đội ngũ nhân viên không
chuyên nghiệp, chậm chạp trong cung cách phục vụ thực khách.
Các món ăn giữa các nhà hàng hầu hết là giống nhau, rất ít các nhà hàng tạo
được thương hiệu nổi tiếng với món ngon, độc đáo của riêng nhà hàng
Dù đã phân loại nhà hàng nhưng vẫn không có sự phân biệt rõ rệt. vd như:
NH Hải sản vẫn có thể làm tiệc cưới chính điều đó đã không thể tạo nên được
thương hiệu riêng của các nhà hàng ở miền nam nói riêng cũng như cả nước nói
chung
3.1 Các dịch vụ bổ sung
dịch vụ bổ sung chiếm tỉ trọng nhỏ khoảng 7 % nhưng lợi ích mà nó mang lại là
23% doanh thu của ngành. Hệ thống cơ sở vật chất bổ sung nằm nhiều trên các
vùng có nền kinh tế phát triển mạnh chẳng hạn Bình Dương Sân golf Sông Bé,
sân Golf Phú Mỹ Twin Doves, Mekong Golf Villas, CLB sân Golf và nghỉ
dưỡng đảo Hồ Điệp,Khu du lịch lạc cảnh Đại Nam Văn Hiến, công viên nước
Bình Dương, khu du lịch Phương Nam, khu du lịch Dìn Ký…Bà Rịa – Vũng
Tàu, Đồng Nai, hay như Thành phố Cần Thơ có rất nhiều loại hình giải trí như:
Về phim ảnh, ca múa nhạc: Rạp chiếu phim Ninh Kiều, rạp Bãi Cát, Nhà hát
Hậu Giang và hiện đang có dự án xây dựng Trung tâm Điện ảnh Kịch trường
TP Cần Thơ ở đường Nguyễn Thái Học, Q. Ninh Kiều.
Về những nơi thư giãn: Khu du lịch Hương Phù Sa, Khu du lịch Mỹ Khánh,
Khu du lịch Chợ Nổi Cái Răng-Phong Điền, CV Lưu Hữu Phước, CV Văn Hóa
Miền Tây, Khu Vui Chơi Sấu Con, Khu Vui Chơi Sân Vận Động Cần Thơ. Và
sắp tới đang quy hoạch xây dựng Khu du lịch Cồn Cái Khế và Cồn Khương.
Về điện tử, tin học, trò chơi: nơi giao lưu của nhiều bạn trẻ Cần Thơ và nhiều
dịch vụ cung cấp chơi games trên đường truyền băng thông rộng ADSL trong
nội thành. Tuyến đường có đông dịch vụ Internet nhất là đường Nguyễn Việt
Hồng .Ngoài ra có các quán ăn, quán nhậu trải khắp nơi trong nội ô trung tâm
thành phố:Quán ăn: Nhà hàng Hoa Sứ, Nhà hàng Ninh Kiều, Nhà Hàng Golf
Quán nhậu: Đường Trần Văn Hoài và đường XVNT nối dài là 2 tuyến đường
tập trung nhiều quán nhậu nhất tại trung tâm Quận Ninh Kiều, sau đó còn đường
SVTH: Nhóm 11 Lớp 11LCVNH01
17
Kinh Tế Du Lịch GVGD: Th.S Nguyễn Duy Phương
Nguyễn Văn Cừ nối dài và nhiều đường khác Nơi giải trí về đêm: night-club:
Xeloi club-được xem là hộp đêm vui nhất tại vùng sông Mekong, XK club và
Golf Discotheque.Còn rất nhiều quán nước, quán kem, đặc biệt là tuyến đường
Đại lộ Lê Lợi ở cồn Cái Khế tập trung nhiều quán Trái Cây Dĩa, các quán cà phê
đẹp và sang trọng.
Bên cạnh đó Miền Nam còn có hệ thống các công ty du lịch, lữ hành đông
18
Kinh Tế Du Lịch GVGD: Th.S Nguyễn Duy Phương
chơi điện tử, Sân khấu cổ tích, Lâu đài cổ tích, Sân khấu quảng trường, Hồ Tây
thu nhỏ, Nam tú thượng uyển , Khu Du lịch Văn hóa Suối Tiên là một khu liên
hợp vui chơi giải trí :kiểu cách kiến trúc và các thể loại vui chơi được gắn lồng
vào các hình ảnh lịch sử và truyền thuyết Việt Nam như tượng Lạc Long Quân,
Âu Cơ, Vua Hùng, sự tích trăm trứng, Sơn Tinh Thủy Tinh, chính tầng địa ngục,
công viên khủng long, tứ linh hội tụ. Khu du lịch Văn Thánh có diện tích 7,7 ha
trong đó có 2 ha là hồ nước. Tại đây có các khu vực giải trí, nhà hàng hài hòa
với cảnh vườn hoa cây cảnh. Song song với sự phát triển một số vùng thì một số
vùng như Kiên Giang, Vĩnh Long, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau
hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật bổ sung chưa được đầu tư mạnh mẽ, dịch vụ còn
nghèo nàn, du khách đến đây thật sự chưa hài lòng về các dịch vụ mang lại. Mức
độ tiện nghi của các hệ thống cơ sở vật chất – kĩ thuật chưa đồng bộ, chẳng hạn
như : Bến Tre, Hậu Giang, Kiên Giang Tính thẩm mĩ trong các hệ thống này
không theo một chuẩn mực nào, chủ yếu là được xây dựng phù hợp với tài
nguyên. Vấn đề vệ sinh tại các cơ sở này đáng lên án báo động, theo thống kê
lượng rác thải mà khu vực này mang lại là 45 % so với lượng rác thải cả nước,
trong đó cơ sở vật chất- kĩ thuật bổ sung chiếm 9% toàn hệ thống.
Qua 17 tỉnh khu vực phía Nam có thể thấy rằng tình trạng thiếu các dịch vụ
bổ sung tại các khu vưc Phía Nam hiện nay là khá phổ biến, đặc biệt là khu vực
Tây Nam Bộ dịch vụ bổ sung chủ yếu là hoạt động vào ban ngày trong khi phần
lớn là khách du lịch và ban tối dịch vụ bổ sung hầu như chưa được khai thác và
chỉ bó hẹp ở dịch vụ karaoke. Cách tổ chức các dịch vụ bổ sung thiếu tính khoa
học, thiếu sự đồng bộ, mang tính tự phát mà không có một quy mô hay hệ thống,
tiêu chuẩn kiểm định chất lượng. Chi phí đầu tư nghiên cứu khai thác các loại
hình dịch vụ bổ sung còn rất hạn chế, chủ yếu là các dịch vụ bổ sung bắt buộc
nhằm đáp ứng nhu tối thiểu của khách hàng. Trong khi đó rất nhiều các loại hình
dịch vụ bổ sung cần thiết khác mang tính cạnh tranh lại chưa được đưa vào khai
thác
muốn cấm cũng không được). Có vậy mới tránh tình trạng xả rác, chen chúc,
mất mĩ quan, tệ nạn, băng qua lại đường ray 1 cách bát nháo Ga chỉ là nơi đi
và đến của hành khách. Phạt nặng hành vi xả rác, khạc nhổ, phóng uế. Không thì
tàu điện chỉ 1 năm là xuống cấp. Ý thức dân mình còn kém nên chế tài phải
mạnh tay. Tôi cảm thấy xấu hổ, buồn thậm chí là đau đớn vì ý thức giữ gìn tài
sản chung của dân mình. Cấm lửa, ăn uống , mang thức ăn, hút thuốc và tất cả
thức ăn có mùi. Phải thực sự ý thức như ở Singapore hay Hồng Kong về việc
cấm hút thuốc lá tại những nơi sau: lớp học, nhà trẻ, cơ sở y tế, thư viện, rạp
chiếu phim, nhà hát, nhà văn hoá, vũ trường, bến xe, phòng đợi nhà ga, bến
cảng, khu sản xuất và nơi làm việc trong nhà, nơi có nguy cơ cháy nổ cao,
phương tiện giao thông công cộng… trên toàn quốc nâng cao chất lượng phục
vụ. Cải tạo hệ thống điện nước, lắp đặt đường dốc cho xe lăn, cầu thang cuốn,
SVTH: Nhóm 11 Lớp 11LCVNH01
20
Kinh Tế Du Lịch GVGD: Th.S Nguyễn Duy Phương
cầu thang máy và hàng rào an toàn, cải tạo hệ thống sưởi ấm và quạt thông gió,
cải tiến hệ thống biển báo, biển chỉ dẫn. Mở dịch vụ taxi với phí cố định, cung
ứng dịch vụ gửi hành lý bán tự động, nâng cấp phòng khách.
Hiện trạng nhà ga ở các tỉnh Đồng Nai , Bình Dương và Sài Gòn vấn để nổi
trội nhất vẫn là khâu vệ sinh ven đường ray. Rác thải từ những hộ dân sinh sống
tại đó ứ ngập và gây mấy mỹ quan. Tình trạng chèo kéo khách mua hàng vẫn
tiếp tục diễn ra
1.1.3. Đường ôtô
Lập lại trật tự hành lang giao thông đường bộ bị lấn chiếm và mở thêm các
bãi đỗ xe công cộng. Xây dựng thêm các chợ xanh.
Tuyên truyền đến người dân về luật an toàn giao thông . Thành lập đội cảnh
sát mô tô giao thông cơ động nhằm xử lý đối với các trường hợp vượt đèn đỏ,
chở hàng cồng kềnh…thường xuyên kiểm tra để chấn chỉnh và hoàn thiện các
phương tiện kỹ thuật, dịch vụ trên đường nhằm phục vụ việc đi lại an toàn,
thuận lợi hơn. - - Chính quyền các quận, huyện, phường, xã cần phối hợp chặt
đãi cho các nhà kinh doanh trong lĩnh vực lưu trú một cách hợp lý nhằm thu hút
vốn đầu tư vào các cơ sở lưu trú cao cấp góp phần đáp ứng nhu cầu ngày càng
cao của khách du lịch.
Hiện đại hóa các cơ sở lưu trú, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ trong đó
cần sửa chữa và nâng cấp các cơ sở lưu trú, đặc biệt chú trọng tới việc cung cấp
các dịch vụ bổ sung nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu và những nhu cầu
phát sinh của khách du lịch trong suốt quá trình diễn ra hoạt động du lịch.
Quy hoạch trong xây dựng các cơ sở lưu trú một cách tổng thể, hài hòa và có
sự phân bố đều khắp giữa các vùng du lịch, các trung tâm du lịch tạo điều kiện
thuận lợi trong lưu trú đối với khách du lịch.
Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra việc thực hiện các tiêu chuẩn về vệ
sinh môi trường và an toàn thực phẩm tại các cơ sở lưu trú để đảm bảo độ tin
cậy và an toàn cho khách du lịch. Nghiêm khắc xử lý các trường hợp vi phạm tại
các cơ sở lưu trú.
Phát triển các cơ sở lưu trú gắn với nhu cầu và xu hướng phát triển. Tập
trung phát triển các khách sạn thương mại cao cấp.khách sạn kết họp nghỉ
dưỡng, khách sạn kết hợp với hội thảo.
Thực hiện nghiêm việc sử dựng đất, quản lý và cấp phép xây dựng cơ sở lưu
trú đặc biệt phải đảm bảo yêu cầu về mục tiêu phát triển, sự cân đối về vùng
miền, chất lượng.
Chú trọng đến việc phát triển cơ sở lưu trú du lịch đặt trong mối quan hệ hài
hòa và phù hợp với xu hướng phát triển du lịch xanh hiện nay.
Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, nhân viên phục vụ du lịch đảm bảo đúng
trình độ, chuyên môn và tác phong công nghiệp để đáp những những yêu cầu
của khách du lịch trong nước và quốc tế. Đặc biệt cần phải đào tạo kỹ năng,
nghiệp vụ về lễ tân, buồng phòng và các kiến thức bổ trợ cần thiết như ngoại
ngữ,tin học.
SVTH: Nhóm 11 Lớp 11LCVNH01
22
Kinh Tế Du Lịch GVGD: Th.S Nguyễn Duy Phương
mặt mạnh mà hệ thống cơ sỏ vật chất kĩ thuật nơi đây đạt được vẫn còn tồn tại
những mặt hạn chế cần khắc phục để đẩy mạnh hoạt động du lịch của vùng du
lịch Nam Bộ nói riêng cũng như du lịch lịch Việt Nam nói chung lên một tầm
cao hơn.Muốn làm được điều đó cần sự phối hợp chặt chẽ của địa phương , các
sơ ban ngành , bộ phận lãnh đạo du lịch… và đặc biệt cần chú trọng hơn nữa
đến sự thu hút đầu tư trong nước nước ngoài . Có được hệ thống cơ sở vật chất
kĩ thuật tốt nhất phục vụ du lịch, đẩy mạnh kinh tế vùng , quôc gia là một bài
toán khó nhưng không phải không có lời giải đáp. Và chặng đường tìm đến lời
giải đáp hoàn hảo nhất tuy còn nhiều thử thách nhưng chắc chắn với sự nỗ lực
của toàn dân cũng như chính phủ Việt Nam thì không gì là không thể.
Bài tiểu luận của nhóm chúng em xin phép được dừng tại đây . Để phù hợp
với lưu lượng thời gian chuẩn bị tài liệu và thuyết minh trên lớp, chúng em chỉ
tập trung vào những mảng khái quát nhất và những định hình chung nhất về đề
tài này.
SVTH: Nhóm 11 Lớp 11LCVNH01
24