LUẬN VĂN
Đề tài: Nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn tại
Chi nhánh NHCT khu vực Chương Dương
thật sự trở thành vấn đề đang rất được quan tâm.
Do phạm trù nghiên cứu chất lượng tín dụng của hệ thống
ngân hàng rất rộng nên với thời gian và năng lực có hạn, em chỉ tập
trung vào nghiên cứu vấn đề chất lượng tín dụng ngắn hạn. Qua đó
tìm hiểu thực trạng, những kết quả đạt được và những hạn chế tồn
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
tại. Từ đó để tìm ra những nguyên nhân của hạn chế đó cũng như
tìm ra những biện pháp để khắc phục hạn chế đó.
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu cùng với việc được
xem xét, tìm hiểu, quan sát tình hình thực tế tại Chi nhánh NHCT
khu vực Chương Dương trong thời gian thực tập vừa qua. Đặc biệt
với sự giúp đỡ, tạo điều kiện của ban lãnh đạo ngân hàng, các cô
chú, anh chị ở các phòng ban đã giúp em hoàn thành bản chuyên đề
tốt nghiệp với đề tài “Nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn tại
Chi nhánh NHCT khu vực Chương Dương”
Em xin gửi lời cám ơn tới các thầy cô giáo trường Đại học
Kinh Tế Quốc Dân - những người đã cung cấp cơ sở kiến thức về
kinh tế và xã hội, Tới ThS. Phan Hữu Nghị, người đã trực tiếp
hướng dẫn để em có thể hoàn thành bản đề án tốt nghiệp này.
Kết cấu chuyên đề gồm 3 chương:
- Chương I: Tín dụng NHTM và chất lượng tín dụng ngắn hạn
NHTM trong nền kinh tế thị trường.
- Chương II: Thực trạng chất lượng hoạt động tính dụng ngắn
hạn tại Chi nhánh NHCT khu vực Chương Dương.
- Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt
động tín dụng ngắn hạn tại Chi nhánh NHCT khu vực Chương
Dương.
phát triển cao nhất là tín dụng ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng là một quan hệ vay mượn dựa trên nguyên
tác hoàn trả (cả vốn và lãi) sau một thời gian nhất định.
Tín dụng ngân hàng đã thực sự mở rộng các mối quan hệ, thay
thế quan hệ giữa các cá nhân với nhau bằng mối quan hệ giữa các
cá nhân với tổ chức, giữa các tổ chức với nhau và cao nhất là quan
hệ tín dụng quốc tế.
Tuy tín dụng ngân hàng là hình thức phát triển cao của quan hệ
tín dụng nhưng nó vẫn giữ nguyên được những bản chất ban đầu
của quan hệ tín dụng. Vẫn là quan hệ vay mượn lẫn nhau theo
nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi vào một thời gian nhất định
trong tương lai nhưng trong đó một bên là ngân hàng thương mại
và một bên là các cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã
hội hay là tổ chức tín dụng hoặc ngân hàng thương mại khác.
1.1.2. Đặc điểm của tín dụng ngắn hạn ngân hàng thương mại.
Tín dụng ngân hàng là một hình thức phát triển cao của tín
dụng. Nó cơ bản giữ được những bản chất chung của tín dụng,
ngoài ra còn có một số đặc điểm sau:
Rủi ro tín dụng ngắn hạn thấp. Do khoản vay chỉ cung cấp
trong thời gian ngắn vì vậy ít chịu ảnh hưởng của sự biến động
không thể lường trước của nền kinh tế như các khoản tín dụng
trung và dài hạn. Ngoài ra, các khoản vay được cung cấp cho các
đơn vị sản xuất kinh doanh theo hình thức chiết khấu các giấy tờ có
giá, dựa trên tài sản bảo đảm, bảo lãnh chắc chắn sẽ có khoản thu
bù đắp trong tương lai vì vậy rủi ro mang đến thường thấp.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Lãi suất thấp: lãi suất cho vay được hiểu là khoản chi phí
người đi vay trả cho nhu cầu sử dụng tiền tạm thời của người khác.
Chính vì rủi ro mang lại của khoản vay thường không cao do đó lãi
suất người đi vay phải trả thông thường nhỏ.
kinh tế thì các NHTM phải nâng cao chất lượng các khoản tín
dụng.
1.2.1. Khái niệm về chất lượng tín dụng ngắn hạn.
Ở phần trên ta đã có khái niệm chung về “Tín dụng ngân hàng
thương mại”. Căn cứ vào thời hạn của khoản tín dụng- kể từ khi
cấp tín dụng đến thời điểm hoàn trả ta có thể chia thành hai hình
thức tín dụng. Đó là tín dụng ngắn hạn và tín dụng trung, dài hạn.
Do khả năng và thời gian có hạn nên trong bản Đề án tốt nghiệp
này em chỉ đề cập đến vấn đề “Tín dụng ngắn hạn”.
Ở mỗi quốc gia, thời hạn để xác định khoản tín dụng ngắn hạn
là khác nhau. Ở Mĩ người ta quan niệm những khoản tín dụng ngắn
hạn là những khoản cho vay có thời hạn dưới 3 năm. Nhưng ở Việt
Nam, theo Quyết định số 324 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam tín dụng ngắn hạn là hình thức mà tổ chức tín dụng cho
khách hàng vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ và đời sống. Thời hạn đối với tín dụng ngắn
hạn được tổ chức tín dụng khách hàng thoả thuận tối đa là 12
tháng, được xác định phù hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh và
khả năng trả nợ của khách hàng.
Từ đó ta có thể hiểu chất lượng tín dụng ngắn hạn là sự đáp
ứng yêu cầu trước mắt (thường là một năm) của khách hàng phù
hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại, phát
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
triển của NHTM. Để có được chất lượng tín dụng thì hoạt động tín
dụng ngắn hạn này phải có hiệu quả và quan hệ tín dụng phải được
thiết lập trên cơ sở sự tin cậy và uy tín.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Chất lượng tín dụng ngắn hạn được thể hiện:
Đối với khách hàng: tín dụng ngắn hạn phải phù hợp với mục
đích sử dụng trong ngắn hạn của khách hàng, với lãi suất và kì hạn
hạn ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường thì hoạt động tín dụng là kênh dẫn
vốn chủ yếu để thúc đẩy tiến trình phát triển của cả xã hội. Với đòi
hỏi nền kinh tế xã hội phát triển ngày càng mạnh mẽ thì vấn đề
chất lượng tín dụng nói chung và chất lượng tín dụng ngắn hạn nói
riêng luôn và sẽ dành được sự quan tâm lớn.
1.2.2.1. Đối với nền kinh tế xã hội:
Tín dụng ngắn hạn và nền kinh tế xã hội có mối quan hệ mật
thiết hai chiều. Tín dụng ngắn hạn góp phần làm lành mạnh hóa
nền kinh tế xã hội, tạo điều kiện cho kinh tế xã hội phát triển,
ngược lại để hoạt động tín dụng ngắn hạn có chất lượng thì đỏi hỏi
nền kinh tế xã hội phải ổn định, phải có cơ chế phù hợp, có sự phối
hợp nhịp nhàng và hiệu quả giữa các cấp các ngành.
- Chất lượng tín dụng ngắn hạn được bảo đảm và nâng cao là
điều kiện cho Ngân hàng làm tốt vai trò trung gian tín dụng- cầu
nối giữa tiết kiệm và đầu tư- trong nền kinh tế, Từ đó điều hoà
nguồn vốn cho đầu tư ngắn hạn hợp lý, làm xã hội bớt được lãng
phí ở những nơi thừa vốn, giảm được khó khăn cho những nơi thiếu
vốn.
- Chất lượng tín dụng ngắn hạn được nâng cao cũng sẽ tạo
điều kiện để NHTM làm tốt vai trò trung tâm thanh toán của nền
kinh tế thị trường. Vì khi chất lượng tăng lên nghĩa là các khoản tín
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
dụng được thực hiện đúng theo thời hạn, do đó số vòng quay của
vốn tín dụng tăng lên với một lượng tiền trong lưu thông là không
đổi. Góp phần mở rộng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt.
Qua đó tiết kiệm chi phí phát hành tiền.
- Tín dụng là một trong những công cụ để Đảng và Nhà nước
thực hiện các chủ trương chính sách về phát triển kinh tế xã hội
theo ngành, lĩnh vực. Nhờ chất lượng tín dụng nâng cao nghĩa là sự
kinh doanh cũng như làm lành mạnh hoá tình hình tài chính của
khách hàng.
1.2.2.3. Đối với ngân hàng thương mại:
Nâng cao Chất lượng tín dụng là sự cần thiết khách quan vì sự
tồn tại và phát triển lâu dài của hệ thống Ngân hàng thương mại:
- Nâng cao chất lượng tín dụng tức là tăng khả năng quay vòng
vốn tín dụng, qua đó mở rộng được các hình thức dịch vụ cung cấp
cho khách hàng cũng như mở rộng quy mô vốn tín dụng cho một
khách hàng. Như vậy không những duy trì được mối quan hệ với
nhũng khách hàng truyển thống mà còn mở rộng, thu hút thêm
những khách hàng mới. Đó cũng là cách để các ngân hàng thương
mại mở rộng thị trường, nâng cao được lợi nhuận.
- Chất lượng tín dụng nâng cao sẽ giảm được chi phí nghiệp
vụ, chi phí quản lý, và đặc biệt là giảm được những chi phí, thiệt
hại rất lớn do không thu hồi được khoản tín dụng. Như vậy sẽ gia
tăng khả năng sinh lời của các sản phẩm, dịch vụ mà ngân hàng
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
cung cấp cho khách hàng. Tăng được lợi nhuận cho hệ thống ngân
hàng thương mại.
Qua những phân tích trên ta thấy nâng cao chất lượng tín dụng
có ý nghĩa thật to lớn. Đối với ngân hàng thì đó là vì sự tồn tại,
phát triển. Với khách hàng thì đó là khả năng mở rộng sản xuất.
Xét trên tầm vĩ mô thì nâng cao chất lượng tín dụng là để đảm bảo
cho nền kinh tế xã hội luôn phát triển ổn đinh. Với sự phát triển và
sản xuất lưu thông hàng hoá ngày càng tăng, hoạt động tín dụng
cần phải được phát triển tới mức độ nào đó sao cho phù hợp, nhằm
đáp ứng được những nhu cầu giao dịch cũng ngày càng tăng trong
xã hội. Vì thế, việc nâng cao chất lượng tín dụng không những luôn
được coi là chiến lược hàng đầu của các ngân hàng thương mại mà
còn của các nhà chức trách về kinh tế xã hội.
khủng hoảng dẫn đến khó khăn không trả được nợ tín dụng. Từ đó
cũng tránh được sự giảm thấp chất lượng tín dụng.
Tuy nhiên có một thực tế là hầu hết các quốc gia đều áp dụng
mô hình “ Mở rộng Ngân sách” , tức là các quốc gia này duy trì
một mức lạm phát vừa phải để kích thích đầu tư. Do vậy đây là vấn
đề có tính hai mặt. Một mặt là lạm phát sẽ làm phát sinh những rủi
ro cho việc hoàn trả khoản nợ tín dụng. Nhưng mặt khác, lạm phát
kích thích đầu tư sẽ khiến nhu cầu về vốn tín dụng tăng, tạo điều
kiện kinh doanh tín dụng cho các ngân hàng thương mại, khi đó sẽ
có cơ hội tăng được lợi nhuận.
- Yếu tố Vốn nước ngoài cũng có ảnh hưởng tới chất lượng tín
dụng ngắn hạn: Hầu hết các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia kém
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
phát triển đều gặp khó khắn về vốn để đầu tư phát triển kinh tế. Do
vậy thường phải sử dụng “Vốn nước ngoài” để bù đắp. Nhưng việc
huy động quá mức vốn nước ngoài sẽ làm mất cân đối tổng cung và
tổng cầu trong nền kinh tế, gây sức ép về lạm phát cho nền kinh tế,
ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng ngắn hạn.
- Nhân tố Chu kỳ phát triển kinh tế cũng tác động lớn tới chất
lượng tín dụng ngắn hạn. Trong thời kỳ kinh tế hưng thịnh, sản
xuất kinh doanh sẽ được mở rộng, dẫn đến nhu cầu về vốn tăng,
giảm bớt những rủi ro tín dụng, từ đó hiệu quả tín dụng ngắn hạn
cũng tăng lên. Tuy nhiên điều gì sẽ xảy đến với chất lượng tín dụng
ngắn hạn nếu các ngân hàng thương mại cạnh tranh mở rộng khách
hàng. Khi đó để dành các khách hàng về phía mình các ngân hàng
thường phải hạ thấp yêu cầu với khách hàng khi họ có nhu cầu cấp
tín dụng, đây chính là nguyên nhân khiến cho các khoản tín dụng
ngắn hạn gặp nhiều rủi ro hơn, chất lượng tín dụng ngắn hạn qua
đó cũng giảm xuống.
Khi nền kinh tế rơi vào khó khăn, khủng hoảng, nền sản xuất
Khách hàng, với tư cách là người cung ứng vốn, Người gửi
tiền có lòng tin đối với ngân hàng sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng
huy động khoản tiền gửi một cách ổn định, qua đó đáp ứng ổn đinh
nhu cầu vốn tín dụng ngắn hạn của người vay. Vì vậy chất lượng
tín dụng ngắn hạn sẽ tăng lên.
Với tư cách là người đi vay vốn, nếu nhu cầu vay ngắn hạn của
khách hàng được thực hiện đơn giản, nhanh chóng thì Ngân hàng
đã tạo được sự hấp dẫn đối với khách hàng, tạo điều kiện thuận lợi
cho hoạt động tín dụng ngắn hạn.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Về phía Ngân hàng, chất lượng tín dụng ngắn hạn phụ thuộc
vào quy mô, phạm vi hoạt động tín dụng, phụ thuộc vào nguồn vốn
tự có của các ngân hàng, khả năng huy động nguồn tiền gửi cả về
quy mô cũng như thời hạn tiền gửi.
Khi xét đến các nhân tố xã hội ta không thể không nhắc đến
yếu tố tác động đến chất lượng tín dụng nói chung và chất lượng
tín dụng ngắn hạn nói riêng, đó là nhân tố “đạo đức xã hội”. Như
ta đã biết quan hệ tín dụng phải dựa trên sự tín nhiễm giữa hai bên.
Nếu một trong hai bên xuát phát từ sự lừa đảo thì đương nhiên chất
lượng khoản tín dụng sẽ rất xấu.
Ngoài ra ta cũng có thể xét đến một số nhân tố xã hội khác có
ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng ngắn hạn. Đó là trình độ dân trí,
sự ổn định chính trị xã hội của quốc gia, tình hình biến động xã hội
chính trị của quốc tế hay là các yếu tố về môi trường như tình hình
thiên tai, dịch bệnh…
* Nhóm nhân tố pháp lý:
Môi trường pháp lý được hiểu là hệ thống luật và văn bản pháp
luật có liên quan đến hoạt động của ngân hàng thương mại nói
chung và hoạt động tín dụng nói riêng. Đồng thời gắn liền với sự
chấp hành pháp luật và trình độ dân trí.
những khoản tín dụng ngắn hạn để đạt được mục tiêu đã hoạch định
của Ngân hàng Thương mại đó.
Chất lượng hoạt động tín dụng ngắn hạn tốt hay xấu là tuy
thuộc vào chính sách tín dụng ngắn hạn được ban lãnh đạo Ngân
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
hàng xây dựng, ban hành có đúng đắn hay không. Nếu chính sách
tín dụng ngắn hạn được hoạch định phù hợp với thực tế sẽ thu hút
được nhiều khách hàng, đảm bảo được khả năng sinh lời của hoạt
động tín dụng, phân tán rủi ro, tuân theo chấp hành tốt luật pháp và
đường lối chính sách của Nhà nước. Cũng vì lẽ đó nên khi hoạch
định chính sách tín dụng ngắn hạn, ban lãnh đạo của các ngân hàng
thương mại luôn coi trọng việc đảm bảo an toàn như là một mục
tiêu mà chính sách đó phải đạt được.
Ta rút ra kết luận là: Bất cứ ngân hàng thương mại nào nếu
muốn nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn đều phải có chính
sách tín dụng ngắn hạn rõ ràng, thích hợp.
1.3.2.2. Công tác tổ chức ngân hàng:
Đây là hoạt động mà mọi NHTM đều phải quan tâm, luôn tiến
hành công tác đổi mới, hiện đại hóa tổ chức ngân hàng. Công tác tổ
chức ngân hàng được thức hiện tốt thể hiện là sự phối hợp nhịp
nhàng giữa các phòng ban trong từng ngân hàng, trong toàn bộ hệ
thống ngân hàng cũng như giữa ngân hàng với các tổ chức khác
như tổ chức tài chính, tổ chức pháp lý... là sự thống nhất từ trên
xuống dưới, từ ban lãnh đạo đến từng phòng ban, từng cán bộ công
nhân viên.
Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng ban sẽ tạo điều kiện
cho việc quản lý các khoản tín dụng ngắn hạn một cách kịp thời,
sát sao. Đây là cơ sở để tiến hành các nghiệp vụ tín dụng lành
mạnh, hiệu quả hơn.
1.3.2.3. Quy trình tín dụng:
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
tin về tình trạng kinh doanh. Như vậy ngân hành có thể kịp thời
phát hiện ra những sai phạm, sai sót liên quan đến nghiệp vụ tín
dụng ngắn hạn để khắc phục, sửa chữa.
1.3.2.5. Thông tin tín dụng:
Thực tế là hoạt động tín dụng ngắn hạn có chất lượng luôn đòi
hỏi phải có hệ thống thông tin hữu hiệu phục vụ nghiệp vụ tín dụng
này đi kèm. Như vậy Thông tin tín dụng có vai trò rất quan trọng
trong quản lý chất lượng tín dụng ngắn hạn. Việc nắm không vững
và đầy đủ các thông tin có thể khiến các ngân hàng gặp phải sai
lầm lựa chọn đối nghịch. Vì trên thực tế, không phải doanh nghiệp
nào cũng sử dụng vốn vay có hiệu quả và đúng mục đích. Đó là
chưa kể tới những hàng vi lừa đảo để vay tiền ngân hàng, gây tổn
thất cho ngân hàng.
Việc nắm được thông tin về khách hàng, cảnh báo khách hàng
kịp thời sẽ khiến khách hàng suy nghĩ kỹ hơn khi sử dụng từng
đồng vốn được ngân hàng cho vay, sẽ khó có thể sử dụng sai mục
đích ban đầu, do đó hiệu quả kinh tế sẽ là cao hơn, lợi nhuận ngân
hàng cũng vì thế mà được đảm bảo. Thông tin cũng khiến cho ngân
hàng có những giúp đỡ kịp thời, có những gợi ý sáng suốt tháo gỡ
những khó khăn cho khách hàng trước khi quá muộn, đảm bảo cho
hiệu quả kinh tế của khoản tín dụng ngắn hạn.
1.3.2.6. Chất lượng cán bộ công nhân viên:
Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong hoạt
động tín dụng ngân hàng. Trong mọi hoạt động có tính quyết định
đến chất lượng tín dụng ngắn hạn như thẩm định, phê duyệt các dự
án tín dụng ngắn hạn… thì con người là nhân tố chủ chốt, không
thể thiếu.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển đòi hỏi chất lượng
hình tài chính và ý chí trả nợ của khách hàng trong tương lai.
- Đảm bảo tính lành mạnh của khoản tín dụng ngắn hạn: Điều
này có nghĩa là không cấp tín dụng ngắn hạn giúp cho khách hàng
làm giàu bất chính. Yêu cầu đảm bảo tính lành mạnh của khoản tín
dụng ngắn hạn liên quan chặt chẽ tới quá trình thẩm định dự án của
khách hàng và việc kiểm tra tình hình sử dụng vốn tín dụng của
khách hàng sau khi cấp tín dụng.
- Chiếm lĩnh được thị trường một cách hợp pháp: Thực hiện
được yêu cầu này sẽ giúp ngân hàng tồn tại và phát triển. Suy cho
cùng thì đây là mục đích cao nhất mà các ngân hàng đều hướng tới.
1.4.2. Các biện pháp quản lý chất lượng tín dụng ngắn hạn của
ngân hàng thương mại.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Việc quản lý chất lượng tín dụng nói chung và chất lượng tín
dụng ngắn hạn nói riêng phải mang tính đồng bộ vì chất lượng tín
dụng có được là nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa những con người
trong ngân hàng, giữa những ngân hàng với những chủ thế kinh tế,
chính tri, xã hội với nhau trên cơ sở nguồn lực hiện có.
1.4.2.1. Phân loại tín dụng ngắn hạn:
Thực hiện tốt việc phân loại tín dụng ngắn hạn sẽ giúp cho
ngân hàng nghiên cứu việc vận dụng vốn tín dụng trong từng loại
hình cho vay và là cơ sở để đánh giá hiệu quả kinh tế của chúng.
Từ đó có sự quản lý phù hợp nhất để nâng cao chất lượng tín dụng
ngắn hạn.
Ta có một số cách phân loại chủ yếu sau:
Căn cứ vào mục đích sử dụng: Tín dụng ngắn hạn bao gồm
tín dụng tiêu dùng và tín dụng kinh doanh.
- Tín dụng tiêu dùng: Việc cho vay của ngân hàng nhằm đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng của các gia đình, cá nhân như chi tiêu thường
xuyên, chi sửa chữa nhà cửa, mua sắm tài sản…
Căn cứ vào tính chất của việc cấp vốn: Cho vay ngắn hạn
gồm cho vay thế vốn và cho vay ứng vốn.
- Cho vay thế vốn: Việc cho vay làm thay đổi hình thái vốn của
khách hàng sang tiền, như chiết khấu, bao thanh toán.
- Cho vay ứng vốn: Việc cho vay mang tính chất cấp thêm vốn
cho khách hàng như bổ sung vốn lưu động.