LỜI NÓI ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hoá như hiện nay , bất kỳ một quốc gia nào trên thế
giới cũng coi mục tiêu phát triển kinh tế là mục tiêu quan trọng cần đạt được .
Nhưng để đạt đượcmụa tiêu quan trọng đó đòi hỏ chính phủ phải có những chính
sách , chiến lược phù hợp và hiệu quả để sử dụng tối đa những nguồn lực hiện có
của đất nước mình , đồng thời phải kế thừa và phát triển những tinh hao của thế giới
.
Trong nền kinh tế thị trường thì thị trường tài chính đóng vai trò hết sức quan
trọng , sự lớn mạnh của thị trường tài chính nó ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế
của một quốc gia và cuả cả thế giới . Chủ thể quan trọng của thị trường tài chính là
Ngân hàng , nó có mặt trong tất cả các mối quan hệ kinh tế trong nền kinh tế thị
trường . Vì thế muốn một nền kinh tế ổn định và phát triển thì đòi hỏi bản thân hệ
thống Ngân hàng cũng phải ổn định và phát triển bởi nếu nó không ổn định thì nó sẽ
phá vỡ sự ổn định trong các mối quan hệ kinh tế từ đó dẫn đến làm suy giảm nền
kinh tế .
Tín dụng là một trong ba nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng thương mại đó là:
Nhận tiền gửi , hoạt động tín dụng, trung gian thanh toán , hơn nữa nó là nguồn sinh
ra lợi nhuận nhiều nhất cho Ngân hàng thương mại vì thế mà muốn hệ thống Ngân
hàng ổn định và phát triển thì đòi hỏi chất lượng hoạt động tín dụng cũng phải ổn
định và hiệu quả .
Xuất phát từ quan điểm đó mà em đã chọn đề tài nghiên cứu là :
“Một số giải pháp nhằm nâng cao chât lượng tín dụng ngắn hạn tại Chi
nhánh Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Bắc Hà nội ”.
Với thời gian thực tập tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Bắc Hà nội ,
một Chi nhánh hoạt động trên địa bàn Gia Lâm cùng với số liệu thống kê từ năm
2000 trở lại đây em hy vọng rằng mình sẽ đóng góp một phần nhỏ bé nào đó của
mình vào công cuộc Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Kết cấu của chuyên đề nghiên cứu gồm:
ChươngI : Tín dụng Ngân hàng và chất lượng của tín dụng trong nền kinh
tế thị trường định hướng Xã hội Chủ Nghĩa .
Trang 1
dựa trên nguyên tắc hoàn trả tin tưởng.
Từ khái niệm trên ta có thể thấy tín dụng không phải là quan hệ mua bán , chỉ
xảy ra trong thời gian nhất định và phải được xác định trên cơ sở tin tưởng lẫn nhau.
Nói chung đứng trên mỗi góc độ khác nhau người ta sẽ có cách hiểu khác nhau về
tín dụng , chính vì thế mà theo Luật các tổ chức tín dụng của Việt nam đã đưa ra
định nghĩa về hoạt động tín dụng như sau:
“ Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng vốn tự có, vốn huy động để
cấp tín dụng ” . Trong đó cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách
hàng sử dụng khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay , chiết
khấu , cho thuê tài chính , bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ khác .
Dù đứng trên quan điểm như thế nào chăng nữa thì bản chất hoạt động tín dụng
không hề thay đổi: Trong quan hệ tín dụng ngườn cho vay chỉ nhường quyền sử
dụng vốn cho người đi vay trong một thời gian nhất định chứ không nhường quyền
Trang 3
sở hữu và người đi vay phải hoàn trả lại cho người cho vay khi đến hạn đã thoả
thuận . Sự hoàn trả này không chỉ là sự bảo tồn về mặt giá trị mà còn được tăng
thêm dưới hình thức lãi suất.
1.1.2. Đặc điểm của quan hệ tín dụng
Xuất phát từ cơ sở hình thành cũng như khái niệm về quan hệ tín dụng ta có thể
đưa ra một số đặc điểm về quan hệ tín dụng như sau:
- Trong quan hệ tín dụng không có sự vận động của quyền sở hữu mà chỉ thay
đổi quyền sử dụng trong một thời gian nhất định .
- Giá cả trong quan hệ tín dụng chính là lãi suất tín dụng.
- Người cho vay nhận được thu nhập dưới hình thức lãi suất . Lãi suất là giá cả
của quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định. Giá cả trong quan hệ tín
dụng không ngang bằng với giá trị mà giá cả trong quan hệ tín dụng là biểu
hiện bằng tiền của giá trị quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định
- Thời gian được xác định trên cơ sở giữa người đi vay và người cho vay.
- Quan hệ tín dụng được dựa trên yếu tố tin tưởng .
1.2.Sự cần thiết của tín dụng trong nền kinh tế thị trường.
kinh tế .
- Chính phủ :
Trong nền kinh tế quốc dân việc thu chi xảy ra không đồng thời, thông
thường các khoản thu nhập thì tạp trung theo định kỳ còn các khoả chi thì được
phân bổ dần dần nên trong một khoảng thời gian nhất định sẽ xuất hiện số tiền
nhàn rỗi từ Ngân sách nhà nước
- Các doanh nghiệp :
Nguồn thu của các doanh nghiệp và nguồn chi của các doanh nghiệp có sự
không thống nhất về mặt thời gian vì những lý do: Hàng hoá sản xuất ra đã tiêu
thụ được ; Lương của các công nhân chưa đến hạn trả; Tiền chưa phải trả do mua
chịu hàng hoá; Dự trữ của doanh nghiệp ; Chưa phải thực hiện nghĩa vụ tài chính
và trả lãi suất Ngân hàng ; Các quỹ chưa được sử dụng ; Lợi nhuận của doanh
nghiệp ... Điều này dẫn đến các doanh nghiệp luôn có một lượng vốn nhàn rỗi
trong một thời gian nhất định.
- Cá nhân người tiêu dùng:
Trong hoạt động sản suất kinh doanh , các cá nhân trong xã hội sẽ nhận được
phần thu nhập của mình dưới các hình thức : tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp, lợi
Trang 5
nhuận thu được ... Một phần của các phần thu nhập này không chỉ tiêu dùng ngay
mà còn để dành tiêu dùng trong tương lai . Phần tiền để dành này hình thành
lượng vốn tiền tệ nhàn rỗi rất lớn trong nền kinh tế
- Nguồn vốn nhàn rỗi từ nước ngoài:
Mỗi quốc gia vì lí do như là muốn tham gia vào các tổ chức quốc tế hay là để
đảm bảo an toàn cho nên kinh tế cũng như ổn định đồng tiền trong nước họ
thường giữ một khoản tiền tại các Ngân hàng ở nước ngoài để giao dịch hay một
định chế tài chính quốc tế hoặc có một lượng vốn dồi dào mà không đêm đầu tư
tiếp . Thương mại quốc tế ngày càng mở rộng dẫn đến mỗi quốc gia đều có một
tài khoản của mình ở nước ngoài để giao dịch . Chính những lí do đó đã tạo nên
một lượng vốn nhàn rỗi không nhỏ có thể sử dụng trong một thời gian nhất định.
1.2.2.2. “ Tạm thời thiếu vốn”.
nó không thể thiếu trong nền kinh tế hiện đại.
2. Chức năng và vai trò của tín dụng.
2.1. Chức năng của tín dụng.
Nhìn tổng thể tín dụng có hai chức năng:
- Huy động và phân phối nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi dưới hình thức cho
vay.
- Giám đốc và kiểm soát bằng đồng tiền đối với các hoạt động sản xuất kinh
doanh. Dùng tiền để xây dựng các chỉ tiêu, thước đo để tiến hành quản lý
doanh nghiệp với các mục tiêu: Sử dụng vốn hiệu quả , hợp pháp và hợp lệ.
2.2. Vai trò của tín dụng trong nền kinh tế thị trường.
Thứ nhất. Tín dụng là điều kiện đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra
thường xuyên liên tục.
Trong một thời điểm trong nền kinh tế luân tồn tại hai nhóm doanh nghiệp:
Một nhóm “ tạm thời thừa vốn “ và muốn sử dụng số vốn nhàn rỗi này để kiếm lời
trong một thời gian nhất định. Một nhóm “ tạm thời thiếu vốn “ và muốn tìm kiếm
nguồn vốn nhàn rỗi khác để đáp ứng nhu cầu hiện tại. Nhờ hoạt động tín dụng mà
cả hai nhóm doanh nghiệp đều được thoả mãn về vốn và dẫn đến quá trình sản
xuất kinh doanh diễn ra một cách thương xuyên, liên tục, nguồn vốn được sử dụng
một cách tối đa.
Thứ hai. Tín dụng huy động, tập trung vốn thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
Trang 7
Bất kỳ một quốc gia nào muốn phát triển nền kinh tế cũng cần phải có một
nguồn vốn đầu tư lớn để đổi mới công nghệ, tăng năng suất lao động, giảm giá
thành sản phẩm, chiến thắng trong cạnh tranh. Nhưng để có lượng vốn đầu lớn
như vậy thì chỉ có quan hệ tín dụng với đáp ứng được điều đó bởi quan hệ tín
dụng sẽ tập trung huy động mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế và đáp ứng
nhu cầu đó.
Thứ ba. Tín dụng góp phần nâng cao mức sống của dân cư.
Một trong những ví dụ điển hình để minh chứng cho điều này là thông qua
quan hệ tín dụng mà những người có thu nhập thấp những người tàn tật đã có
Từ trước tới nay, ngân hàng thường cho các hãng vay ngắn hạn bổ xung tạm
thời vốn hoạt động. Trên thực tế cho tới sau chiến tranh thế giới thứ II, ngân hàng
chủ yếu tập trung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp dưới hình thức các khoản cho
vay mang tính tự thanh toán (self-liquidating loans). Các khoản cho vay này chủ
yếu được sử dụng để tài trợ cho việc mua hàng dự trữ như nguyên liệu thô ... Các
khoản cho vay như vậy tận dụng được chu kỳ tiền mặt thông thường trong một
hãng kinh doanh như sau:
1. Tiền mặt được chi dùng mua dự trữ nguyên vật liệu và bán thành
phẩm hoặc thành phẩm.
2. Hàng hoá được sản xuất hoặc dữ trữ để bán.
3. Hàng đã bán(thường là bán chịu).
4. Tiền mặt thu về( ngay khi bán hàng hoặc thu từ các khoản bán chịu)
và được dùng để trả các khoản vay ngân hàng.
Trong trường hợp này, kỳ hạn của các khoản vay bắt đầu được tính từ khi hãng cần
vốn để đáp ứng yêu cầu mua hàng, kết thúc(có thể trong vòng từ 60 đến 90 ngày)
khi hãng thu được tiền bán hàng và nhập vào tài khoản để trả nợ cho Ngân hàng.
+ Cho vay vốn lưu động.
Đây là những khoản cho vay ngắn hạn đối các hãng kinh doanh với kỳ hạn kéo
dài từ vài ngày đến 1 năm. Các khoản vay vốn lưu động thường được dùng để mua
hàng dự trữ hoặc mua nguyên vật liệu. Do đó chúng có những đặc điểm gần giống
với các khoản cho vay tự thanh toán như đã đề cập ở trên.
Thông thường các khoản vay vốn lưu động được sử dụng để đáp ứng mức sản
xuất và nhu cầu tín dụng trong thời kỳ cao điểm của chu kỳ kinh doanh. Ví dụ một
hãng sản xuất quần áo dự đoán rằng nhu cầu đối với quần áo học sinh vào mùa thu
Trang 9
và quần áo ấm vào mùa đông là rất lớn. Do vậy hãng cần các khoản tín dụng ngắn
hạn vào cuối mùa xuân và mùa hạ để mua vải và thuê thêm công nhân nhằm tăng
sản lượng để đáp ứng hàng hoá cho người bán lẻ trong giai đoạn từ tháng 8 đến
tháng 12 . Ngân hàng của hãng lập ra một hạn mức tín dụng thời hạn từ 6 đến 9
tháng cho phép hãng sản xuất quần áo có thể rút tiền trong suất giai đoạn này. Quy
hạn thanh toán. Các ngân hàng lớn nhất thường sẵn sàng cho vay đối với người
kinh doanh chứng khoán vì những khoản cho vay này có chất lượng cao, thường
được đảm bảo bằng chứng khoán Chính phủ do nhà kinh doanh chứng khoán nắm
giữ. Hơn nữa nhiều khoản vay kinh doanh chứng khoán có kỳ hạn rất ngắn, chỉ là
vay qua đêm hoặc vài ngày. Nhờ vậy ngân hàng có thể nhanh chóng thu hồi vốn
hoặc cho vay các khoản mới với lãi suất cao hơn nếu thị trường tín dụng trở nên
căng thẳng.
Một hình thức tín dụng khác thuộc loại này là cho vay đối với các tổ chức ngân
hàng đầu tư. Hỗ trợ cho hoạt động bảo lãnh phát hành trái phiếu , cổ phiếu công ty
và các giấy nợ của Chính phủ. Việc bảo lãnh phát hành chứng khoán thường diễn
ra khi ngân hàng đầu tư giúp đỡ khách hàng trong việc mua lại công ty khác, giúp
đỡ Công ty phát hành chứng khoán lần đầu, phát hành thêm cổ phiếu để tăng quy
mô vốn kinh doanh hiện có, hoặc hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện hoạt động đầu tư
mới. Khi ngân hàng bán chứng khoán mới cho các nhà đầu tư trên thị trường vốn
thì khoản vay cùng với lãi sẽ được hoàn trả.
+ Cho vay kinh doanh bán lẻ.
Các ngân hàng hỗ trợ người tiêu dùng trong việc mua trả góp xe máy, đồ
dùng gia đình, nội thất và các hàng hoá lâu bền khác bằng cách tài trợ cho các
khoản phải thu mà người bán những hàng hoá này sẽ nhận được sau khi họ ký hợp
đồng bán trả góp. Hợp đồng trả góp sẽ được ngân hàng của người bán lẻ xem xét.
Nếu đáp ứng các yêu cầu tín dụng, ngân hàng sẽ mua những hợp đồng này với
một mức lãi suất thay đổi tuỳ theo chất lượng tín dụng người vay vốn, chất lượng
của vật thế chấp và thời hạn của mỗi khoản vay.
Đối với người kinh doanh mô tô, ti vi, đồ nội thất và các hàng hoá lâu bền
khác Ngân hàng có thể tài trợ dự trữ tồn kho thông qua việc xác định kế hoạch sản
xuất. Ngân hàng sẽ cấp tín dụng cho người bán lẻ để họ có thể yêu cầu hãng sản
xuất chuyển hàng. Lúc đầu hầu hết các khoản vay như vậy có kỳ hạn 90 ngày và
sau đó nó có thể được tái gia hạn với thời gian một tháng hay vài tháng. Để có
Trang 11
được khoản tín dụng này người bán lẻ phải ký hợp đồng bảo đảm an toàn cho
Đối với hầu hết những khoản vay được thế chấp bằng các khoản phải thu hay
hàng tồn kho doanh nghiệp đi vay vẫn có quyền sở hữu đối với các tài sản đó.
Tuy nhiên đôi khi quyền sở hữu cũng được chuyển sang cho ngân hàng để hạn
chế rủi ro khi một số khoản nợ không được thanh toán như dự tính.
- Cho vay trung hạn.
Là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm, loại tín dụng này chủ yếu được
sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công
nghệ mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và
có thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Cho vay dài hạn.
Là loại cho vay có thời hạn từ 5 năm trở lên, loại cho vay này chủ yếu để đáp
ứng nhu cầu dài hạn như: Xây dựng nhà ở, các thiết bị phương tiện vân tải có quy
mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới. Loại cho vay này tài trợ cho các loại:
+ Cho vay kỳ hạn mua thiết bị và các tài sản cố định khác.
+ Cho vay luôn chuyển.
+ Cho vay theo dự án.
+ Cho vay tài trợ hoạt động mua lại công ty.
3.1.2. Theo mục đích sử dụng vốn vay.
Hoạt động cho vay bao gồm: Cho vay tiêu dùng, cho vay sản xuất và lưu
thông hàng hoá.
- Cho vay tiêu dùng:
Là loại cho đối với các cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng mua sắm nhà
cửa, xe và các loại hàng hoá tiêu dùng khác. Hoạt động cho vay tiêu dùng rất phát
triển ở các nước Âu Mỹ. Hoạt động cho vay tiêu dùng đã xuất hiện ở nước ta
nhưng áp dụng còn rất hạn chế bởi mức sống trung bình của người dân chưa cao,
việc thanh toán bằng thẻ đang được chú trọng nhưng chưa thực sự phát triển, hiểu
biết của người dân về loại hình tín dụng này chưa nhiều.
- Cho vay sản xuất và lưu thông hàng hoá.
Là hoạt động cho vay đối với các chủ thể kinh tế để tiến hành sản xuất và lưu
thông hàng hoá. Hoạt động cho vay này đã xuất hiện từ rất sớm và rất phát
- Cho vay bằng ngoại tệ.
- Cho vay bằng nội tệ.
Trang 14
- Cho vay bằng vàng.
3.2 Hoạt động cho thuê tài chính(Leasing).
Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn trên cơ sở hợp
đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là tổ chức tín dụng với khách hàng thuê.
Khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàng mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo
các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đông thuê. Trong thời hạn cho thuê các bên
không được đơn phương từ bỏ hợp đồng. Ở Việt nam hoạt động này đã phát triển
nhanh chóng trong những năm gần đây và nó đã trở thành nguồn quan trọng để các
doanh nghiệp có thể tiếp cận được công nghệ mới.
3.3 Hoạt động bảo lãnh
Theo quy chế về bảo lãnh Ngân hàng của Ngân hàng nhà nước Viết nam ban
hàng ngày 25/08/2000, bảo lãnh Ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức
tín dụng( bên bảo lãnh) với bên(nhận được bảo lãnh) có quyền về việc thực hiện
nghĩa vụ tài chính, hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận
bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã
được trả thay.
3.4 Hoạt động chiết khấu
Chiết khấu là việc tổ chức tín dụng mua lại thương phiếu , giấy tờ có giá
ngắn hạn khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán.
Trong hoạt động này có một hoạt động đáng chú ý đó là hoạt động tái chiết
khấu. Hoạt động tái chiết khấu là việc mua lại thương phiếu, giấy tờ có giá ngắn
hạn khác đã được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán.
Chiết khấu là một nghiệp vụ đã xuất hiện từ rất sớm trên thế giới. Tại Việt
nam do việc kém phát triển trong việc phát hành và lưu thông các thương phiếu
cũng như các giấy tờ có giá khác, nên hoạt động này mặc dù đã xuất hiện nhưng
chưa phát triển mạnh. Hoạt động chiết khấu tại Ngân hàng thương mại chủ yếu
được tiến hành với trái phiếu Chinh phủ hoặc trái phiếu , kỳ phiếu của các Ngân
- Đánh giá các khoản nợ của khách hàng là một công việc quan trọng mà Ngân
hàng cần phải làm bởi vì thông qua việc đánh giá các khoản nợ mà Ngân hàng
biết được tình khả năng tài chính của khách hàng, đồng thời Ngân hàng cũng
Trang 16
biết được vị trí của mình trong các chủ nợ. Nếu Ngân hàng giành được vị trí
quan trọng nhất thì nó dễ dàng thu được nợ hơn là các vị trí khác.
- Phân tích luồng tiền: Thông qua việc xác định hoặc dự báo dòng tiền thực nhập
quỹ(gồm: dòng tiền nhập quỹ từ hoạt động kinh doanh, dòng tiền nhập quỹ từ
hoạt động đầu tư, dòng tiền nhập quỹ từ hoạt động bất thường) và dòng tiền
thực xuất quỹ( gồm: dòng tiền xuất quỹ thực hiện sản xuất kinh doanh, dòng
tiền xuất quỹ thực hiện đầu tư, dòng tiền xuất quỹ thực hiện hoạt động bất
thường) Ngân hàng có thể biết được tình trạng ngân quỹ của khách hàng trong
tháng, quý, hay năm. Từ đó Ngân hàng có thể thiết lập kế hoạch thu nợ, giải
ngân hợp lý, nâng cao chất lượng khoản vay.
- Sử dụng các tỷ lệ như: Nhóm tỷ lệ thanh khoản, nhóm tỷ lệ sinh lời để đánh giá
khả năng của người vay trong việc đáp ứng trách nhiệm tài chính ngắn hạn và
khả năng tạo lợi nhuận của người vay.
- Các điều kiện kinh tế: Có thể thấy nghĩa vụ của khách hàng đối với Ngân hàng
đều xảy ra trong tương lai vì thế khả năng hoạt động kinh doanh của khách
hàng trong tương lai được Ngân hàng đặc biệt quan tâm phân tích. Thời hạn
càng dài, dự đoán càng khó chính xác, đó là do tác động của các điều kiện kinh
tế. Thiên tai, các thay đổi bất thường trong đời sống chính trị, khủng hoảng
kinh tế vùng, quốc gia, sự sa sút đột ngột của ngành... làm thay đổi các tính
toán ban đầu, dẫn đến giảm hoặc mất khả năng trả nợ của khách hàng.
Bươc 2: Xây dựng và ký kết hợp đồng tín dụng.
Hợp đồng tín dụng là văn bản viết ghi lại thoả thuận giữa người nhận tài
trợ(khách hàng) và ngân hàng, với nội dung chủ yếu là ngân hàng cam kết cấp cho
khách hàng một khoản tín dụng(hoặc hạn mức tín dụng) trong một khoản thời gian
và lãi suất nhất định. Hợp đồng tín dụng là văn bản mang tính pháp luật xác định
quyền và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ tín dụng, đồng thời phải tuân thủ các
tiền gửi...
- Trường hợp khách hàng có khó khăn về tài chính, song vẫn kiên quyết tìm cách
khắc phục để trả nợ, ngân hàng thường áp dụng phương án khai thác, bao gồm
gia hạn nợ, giảm lãi hoặc cho vay thêm.
III. CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG.
Trang 18
1. Khái niệm về chất lượng tín dụng.
Hoạt động tín dụng là một hoạt động sinh lời chủ yếu của Ngân hàng trong nền
kinh tế thị trường, nhưng cũng là nơi chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Chính vì thế vấn
đề chất lượng tín dụng là vấn đề quan trọng, sống còn đối với tất cả các Ngân hàng.
Tuy vậy để đưa ra một khái niêm đúng về chất lượng tín dụng không phải là dễ, bởi
lẽ mỗi khái niệm đưa ra đòi hỏi phải chỉ ra nó xuất phát từ đâu trên quan điểm nào.
Như ta đã biết mỗi quan điểm khác nhau sẽ có những quan niệm khác nhau về chất
lượng tín dụng.
1.1. Chất lượng tín dụng theo quan điểm của khách hàng.
Khách hàng là đối tượng sử dụng các dịch vụ của ngân hàng, đặc biệt là dịch
vụ tín dụng vì nó là một nguồn tài trợ quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp. Mục
tiêu của họ là tối đa hoá giá trị tài sản của mình hay nói cụ thể hơn là tối đa hoá giá
trị sử dụng của khoản vốn vay. Chính vì thế với khách hàng để đánh giá chất lượng
tín dụng của ngân hàng cái họ quan tâm đầu tiên là lãi suất, kỳ hạn, quy mô, phương
thức giải ngân và phương thức thu nợ của khoản tín dụng mà ngân hàng cung cấp có
thoả mãn nhu cầu của họ hay không, làm sao để các thủ tục được giải quyết một
cách nhanh gọn, tiết kiệm thời gian và chi phí hợp lý. Nếu tất cả các yếu tố này đều
đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì khoản tín dụng đó được coi là có chất
lượng tốt và ngược lại.
Do đó theo quan điểm của khách hàng thì chất lượng tín dụng là: Sự thoả mãn
nhu cầu của họ về khoản tín dụng trên các phương diện, lãi suất, quy mô, thời
hạn, phương thức giải ngân, phương thức thu nợ...
1.2 Chất lượng tín dụng theo quan điểm của ngân hàng.
2. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng.
Ngân hàng là ngành dịch vụ đã có lịch sử tồn tại và phát triển hàng trăm năm.
Nó là ngành mang lại cho giới Ngân hàng siêu lợi nhuận song đồng thời nó cũng là
ngành chịu nhiều rủi ro. Một trong những rủi ro đáng sợ đối với Ngân hàng là rủi
ro tín dụng và nó cũng là một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng
mất khả năng thanh toán của Ngân hàng, bằng chứng là đã xảy ra những cuộc
khủng hoảng tài chính trên thế giới... Có thể nói bất kỳ một quốc gia nào trên thế
giới cũng có thể lâm và tình trạng đó, vì thế vấn đề nâng cao chất lượng tín dụng
không chỉ đối là cần thiết đối với Ngân hàng, với khách hàng mà còn đối với toàn
xã hội nữa.
Trang 20
Về phía Ngân hàng: Ngân hàng thương mại giống như các nhà kinh doanh: bỏ
vốn của mình ra và mong muốn thu được lợi nhuận và thu hồi vốn. Như vậy đảm
bảo chất lượng cho các khoản vay và cho vay bản thân nó đối với Ngân hàng đã là
một nhu cầu cấp thiết. Đặc biệt đối với các Ngân hàng thương mại ở Việt nam
hiện nay không còn là cái bóng của Ngân hàng Trung Ương mà đã và đang dần trở
thành một chủ thể kinh doanh độc lập, tự kiếm lợi nhuận lời ăn lỗ chịu, chịu trách
nhiệm với khách hàng, với Ngân hàng Trung Ương. Do vậy mà Ngân hàng không
thể không cần đến sự an toàn với các khoản vay.
Nền kinh tế nước ta hiện nay đang trong thời kỳ quá độ để chuyển sang một
nền kinh tế thị trường. Bản thân mỗi doanh nghiệp, tổ chức kinh tế chưa thoát khỏi
tư tưởng bao cấp, tư duy về nền kinh tế thị trường còn nhiều hạn chế, do đó việc
làm ăn của các doanh nghiệp có nguy cơ dẫn đến rủi ro là rất lớn. Vì thế để nâng
cao chất lượng tín dụng Ngân hàng không chỉ là người cung cấp vốn cho các
doanh nghiệp mà Ngân hàng còn phải là người hiểu rõ hơn ai hết về lĩnh vực kinh
doanh của doanh nghiệp, có như thế thì Ngân hàng mới mở rộng được các dịch vụ
của mình như dịch vụ tư vấn...giúp doanh nghiệp tránh khỏi được những rủi ro
không đáng có.
Như vậy, có thể thấy mục tiêu nâng cao chất lượng cho vay là điều kiện tối ưu
cần thiết cho mỗi Ngân hàng, nó vừa là yếu tố không những đảm bảo cho Ngân
nền kinh tế lệ thuộc vào các biến động thời vụ và chu kỳ. Các khoản ký thác trong
nền kinh tế không ổn định thường chao đảo biến động mạnh so với các khoản ký
thác trong một nền kinh tế ổn định. Nhiều người vay đã làm ăn phát đạt trong
những giai đoạn thịnh vượng nhưng trong giai đoạn suy thoái vốn có thể bị tiêu
tan, lợi nhuận có thể bị giảm sút, từ đó có thể gây nên tình trạng Ngân hàng không
thu hồi được vốn. Một yếu tố hiển nhiên ảnh hưởng đến chính sách tín dụng của
Ngân hàng là đường lối chủ trương cuả Quốc gia, địa phương. Lý do chủ yếu để
Ngân hàng được tồn tại là nhằm phục vụ các nhu cầu tín dụng của cộng đồng xã
hội. Về mặt lý luận các Ngân hàng chỉ cho người nào vay nếu đưa ra được yêu cầu
xin vay hợp lệ, hợp pháp và lành mạnh về kinh tế, phù hợp với chủ trương của Nhà
nước.
Mức độ phát triển kinh tế của địa phương quy định quy mô và khối lượng đầu
tư tín dụng. Nếu đầu tư tín dụng vượt quá khối lượng cần thiết, không phù hợp với
Trang 22
sự phát triển kinh tế sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng tín dụng. Nhiều Ngân
hàng thương mại do nóng vội mở rộng đầu tư, nâng cao dư nợ, đẩy tỷ lệ tăng
trưởng tín dụng vượt quá mức tăng trưởng kinh tế trên địa bàn đều phải trả giá cho
sự nóng vội.
3.1.2. Môi trường pháp lý.
Bất kỳ một nền kinh tế nào muốn ổn định và phát triển thì cũng cần có một
hành lang pháp lý thích hợp, hành lang pháp lý chính là bàn tay hữu hình của Nhà
nước tác động vào nền kinh tế nhằm hướng nền kinh tế phát triển theo đúng mục
tiêu, chế độ của mình. Hoạt động Ngân hàng là một trong những hoạt động kinh tế
trong tổng thể nền kinh tế vì vậy nó cũng chịu ảnh hưởng của hệ thống Pháp luật
nhất là Luật các tổ chức tín dụng. Nói đến môi trường pháp lý là nói đến tính đồng
bộ của hệ thống pháp luật, tính đầy đủ, tính thống nhất của các văn bản dưới luật,
đồng thời gắn liền với quá trình chấp hành pháp luật và trình độ dân trí.
Việc hoàn chỉnh cơ chế, thể hiện tín dụng của ngành đúng với Luật Ngân hàng,
phù hợp với thực tiễn là một điều quan trọng để nâng cao chất lượng tín dụng.
Hiện nay nước ta có nhiều bộ luật, tuy nhiên vẫn còn có nhiều bất cập chưa sát
3.2 Nhân tố chủ quan của Ngân hàng.
Năng lực, trình độ hiểu biết của đội ngũ cán bộ của Ngân hàng trong cơ chế thị
trường có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng món vay của Ngân hàng.
Chúng ta đứng trước một thực trạng chung là xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế
giới. Xu thế này ngày càng hình thành rõ rệt mà nét nổi bật là nền kinh tế quốc tế thị
trường đang trở thành một không gian trung cho tất cả các nước. Các thị trường tài
chính ở phạm vi hoạt động dường như không biên giới, vừa tạo điều kiện có cơ hội
mới cho Ngân hàng vừa làm sâu sắc thêm quá trình cạnh tranh, đặt Ngân hàng trước
những thách thức mới. Bởi vậy nếu Ngân hàng nào không nhận thức được điều này,
không tự đổi mới, tìm cách tạo dựng và phát triển thế mạnh riêng của mình, có
hướng đi và chính sách tín dụng thích hợp thì sẽ khó lòng tồn tại và phát triển, trong
đó chiến lược con người giữ vai trò chủ đạo.
Thực tế cho thấy rằng, nếu Ngân hàng có đội ngũ cán bộ nhanh, nhạy, sáng tạo
trong công việc, có tinh thần tập thể vì lợi ích của Ngân hàng thì Ngân hàng đó có
thể đứng vững và phát triển, ngày càng có uy tín. Trong khi đó có những cán bộ tín
dụng gian dối trong thẩm định tín dụng của Ngân hàng đánh giá sai tài sản thế chấp,
lơ là sự giám sát đối với các doanh nghiệp để Ngân hàng gặp rủi ro.
Trang 24
Bên cạnh đó các yếu tố khách quan như thiên tai, dịch hoạ, cơ chế chính sách,
khách hàng gặp khó khăn dẫn tới thua lỗ... thì bản thân Ngân hàng phải chịu trách
nhiệm chính cho hiện tượng chất lượng tín dụng bị giảm. Trong đó vai trò của cán
bộ tín dụng có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của các món vay, bởi họ chính là
người trực tiếp nhận hồ sơ, thẩm định, đề suất cho vay và theo dõi quản lý thu nợ
của khách hàng. Chính vì vậy cán bộ tín dụng là người, nguồn lực quan trọng nhất
của các Ngân hàng khi tìm nguyên nhân nợ quá hạn, các khoản vay không thu hồi
được.
Như vậy, để có một khoản vay tốt thì cần phải có nhiều điều. Ngoài một báo cáo
tài chình vững mạnh cần có đội ngũ cán bộ tín dụng vững về kỹ thuật nghiệp vụ,
trực giác nhạy bén sắc sảo. Thông qua việc đào tạo và lựa chọn những cán bộ có
năng lực, thiết lập một cơ chế tổ chức thích hợp thì các Ngân hàng bắt đầu một quá