TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HỒ CHÍ MINH
KHOA THƯƠNG MẠI - DU LỊCH- MARKETING
BỘ MÔN QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
Đề tài : Phân tích môi trường CHLB Đức
GVHD: Ths. Quách Thị Bửu Châu
Nhóm :5 (đề tài 2)
Phan Diễm Nghi ( NT) TM03
Phan Thanh Cặn TM04
Nguyễn Anh Kiệt TM04
Hà Sỹ Nghị TM04
Lê Phạm Bảo Ngọc TM03
Tp Hồ Chí Minh ,ngày 18 tháng 2 năm 2012MỤC LỤC
Lời mở đầu 3
I. Phân tích môi trường vĩ mô nước Đức và những ngành có cơ hội đầu tư 4
1. Yếu tố tự nhiên 4
2. Thể chế_pháp luật 5
3. Yếu tố kinh tế 9
4. Yếu tố xã hội 13
a. Dân số 14
b. Văn hóa_xã hội 17
5. Yếu tố công nghệ 20
II. Tình hình sản xuất - tiêu thụ hàng dệt may tại Đức và phương thức đầu tư
ngành dệt may 22
1. Tình hình sản xuất dệt may tại Đức 22
2. Tình hình tiệu thụ dệt may tại Đức 24
3. Các phương thức xâm nhập ngành dệt may vào thị trường Đức 27
III. Những cơ hội và thách thức của lĩnh vực ngành dệt may trong quá
những nhà đầu tư Việt Nam khi muốn xâm nhập vào thị trường này trong tương
lai.
4
I. PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ NƯỚC ĐỨC VÀ NHỮNG
NGÀNH CÓ CƠ HỘI ĐẦU TƯ.
1. Yếu tố tự nhiên :
Vị trí địa lý: Cộng hoà Liên bang Đức nằm ở trung tâm châu Âu, có
biên giới với Đan Mạch ở phía Bắc; Pháp, Hà Lan, Bỉ và Luxemburg ở phía
Tây; Thụy Sĩ và Áo ở phía Nam; Séc, Slovakia và Ba Lan ở phía Đông. Đức
nằm ở vị trí bản lề giữa Đông và TâyÂu, giữa bán đảo Skandinavia và Địa
Trung Hải.
Diện tích: 357.500 km2. Bờ biển dài 2.389 km. Biên giới đất liền
3.618km. Khoảng cách lớn nhất từ Bắc đến Nam dài 876 km và từ Đông sang
Tây dài 640km theo đường chim bay.
Địa hình: Nước Ðức có địa hình cảnh quan đặc biệt đa dạng và hấp
dẫn. Những dãy núi cao thấp với các cao nguyên, vùng núi và vùng trung du,
vùng duyên hải và đồng bằng rộng mở. Từ Bắc xuống Nam, nước Ðức được
chia làm năm vùng quang cảnh lớn : Vùng đồng bằng phía Bắc, vùng núi
trung du, vùng núi Tây Nam, vùng chân núi Alpen Nam nước Ðức và vùng
núi Alpen Bayern.
Nguồn tài nguyên: nước Đức là nước có ít tài nguyên khoáng sản,
một số nguồn tài nguyên của Đức: quặng sắt, than đá, kali, gỗ, than non,
uranium, đồng, khí thiên nhiên, muối, nikel, đất trồng.
5
Sông ngòi: nước Đức có nhiều sông ngòi có giá trị lớn về kinh tế,
đặc biệt rất thuận lợi cho giao thông vận tải và thủy điện. Các sông lớn chảy
qua CHLB Đức là sông Rhein, Elbe, Main, Weser, Danube và Spree.
Phần lớn diện tích nước Đức được dùng cho nông nghiệp, nhưng chỉ có 2%
- 3% dân số Đức làm việc trong ngành này.Các vùng đất được chuyên môn
hoá vào các lĩnh vực canh tác. Vùng bờ biển phía bắc rất thích hợp cho việc
Đức có một hệ thống chính phủ liên bang, ở đó các tiểu bang có một số
quyền lực riêng. Các nhà đầu tư nước ngoài có thể thảo luận với Uỷ viên Liên
bang về Đầu tư nước ngoài có các trụ sở ở Mỹ và Đức và với mỗi bang trong
16 bang của Đức hoặc với các cơ quan phát triển kinh tế thành phố. Nhiều cơ
quan phát triển của Đức có đại diện ở Mỹ. Văn phòng của Uỷ viên Liên bang
về Đầu tư nước ngoài ở Đức là nơi đầu tiên mà các công ty nước ngoài có thể
tới khi muốn đầu tư ở Đức. Các công ty nước ngoài dự định đầu tư và cần
thông tin về đầu tư sẽ có được sự giúp đỡ nhanh chóng và tin cậy từ văn
phòng này. Văn phòng được Bộ Kinh tế và Công nghệ Liên bang tài trợ.
b. Cấp phép và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ:
Ở Đức có hai hình thức cấp giấy phép về sở hữu trí tuệ hoặc là trực tiếp
hoặc là tập trung thông qua các cơ quan thu thập. Mặc dù những nhà làm luật
đã đơn giản hoá việc thu thập tiền bản quyền cho người sở hữu, nhưng quá
trình này vẫn không mang tính thực tế. Những phát triển gần đây trên Internet
đã làm cho điều này ngày càng trở lên khó khăn hơn. Các cơ quan thu thập có
thể kiểm soát một số lĩnh vực khác nhau của sở hữu trí tuệ. Chẳng hạn như
GEMA (Musil Representation Soceity) vừa tạo ra một ban mới gọi là "GEMA
Digital" có thể kiểm soát mọi mặt của bản nhạc đã đăng ký bản quyền ở dạng
mẫu số. Không có bất kỳ một tổ chức nào khác ở Đức chuyên về lĩnh vực này
lên Luật pháp của Đức phải tuân theo các quy định về bản quyền của EU.
Chính phủ Đức đã đưa ra một chính sách đối xử đối với quyền sở hữu
của người nước ngoài đó là hoàn toàn được bảo vệ theo luật của Đức. Không
có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào đối với việc sở hữu, kiểm soát hoặc huỷ bỏ
7
quyền sở hữu. Sở hữu trí tuệ được bảo vệ một cách nghiêm ngặt ở Đức do
Đức là thành viên của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới. Đức cũng là một nước
tham gia ký kết các hiệp định bảo vệ quyền sở hữu như Công ước Bern về bảo
vệ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, Công ước Paris về bảo vệ sở hữu công
nghiệp, Công uớc về Bản quyền chung, Công uớc về dấu ghi âm Geneva,
Hiệp định hợp tác sáng chế
và chứng nhận lại là cần thiết trước khi hàng hoá được tung ra thị trường.
Những nhãn hiệu quan trọng là các nhãn "gepruefte Sicherheit" (GS) cho sản
phẩm cơ khí và nhãn "Verband Deutscher Elektrotechniker" (VDE) cho các
linh kiện điện tử, nhưng không có nhãn hiệu nào là bắt buộc đối với hàng hoá
được bán ở Đức.
c. Chính sách đối ngoại và an ninh
Cơ sở chính sách đối ngoại của Đức là tôn trọng luật pháp quốc tế, đấu
tranh cho nhân quyền, đối thoại, phòng ngừa khủng hoảng, tránh sử dụng bạo
lực và kiến tạo lòng tin.
Các vấn đề đối ngoại và an ninh Đức quan tâm hàng đầu là nhất thể hoá
Châu Âu, quan hệ với Mỹ, toàn cầu hoá, chống khủng bố, giải quyết xung đột
khu vực. Đức nỗ lực thiết lập quan hệ đối tác an ninh bền vững với Nga, ủng
hộ hợp tác kinh tế, tài chính và xã hội với Nga trên bình diện song phương
cũng như đa phương. Đức muốn tận dụng việc mở rộng EU và NATO sang
phương Đông để tăng cường hợp tác với Đông Âu.
Đức ngày càng coi trọng phát triển các mối quan hệ với Châu Á - Thái
Bình Dương, trước hết với Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ…Đức quan hệ với
Châu Phi ở mức thấp, mang tính chất cầm chừng, có viện trợ nhân đạo và viện
trợ phát triển cho một số nước nghèo. Gần đây, có những dấu hiệu cho thấy
Đức bắt đầu chú ý hơn thị trường Châu Phi.
3. Yếu tố kinh tế:
Trong những năm qua, CHLB Đức đã xây dựng được một nền kinh tế
công - nông nghiệp, dịch vụ, thương mại hiện đại với công nghệ tiên tiến hiệu
9
quả cao. Đức được đánh giá là một trong những nước có nền công nghiệp rất
phát triển, có tiềm năng to lớn về kinh tế và công nghệ.
Hiện tại, Đức đang theo đuổi chính sách kinh tế “thị trường xã hội", với
phương châm nhà nước chỉ hoạch định, điều tiết các chính sách kinh tế vĩ mô,
bảo đảm công bằng và ổn định xã hội. .
Hơn một nửa năng lực công nghiệp của nước Đức đã bị phá huỷ sau chiến
- Các mặt hàng xuất khẩu chính: máy móc, xe hơi, hoá chất, kim
loại và hàng công nghiệp, thực phẩm, dệt may.
11
- Các nước xuất khẩu chính : France 10,2%, US 6,7%, Hà Lan 6,7%,
UK 6,6%, Italy 6.3%, Áo 6%, Trung Quốc 4,5%, Thụy Sỹ 4,4%
(2010)
• Tổng kim ngạch NK : 1,12 tỉ USD (2010)
- Các mặt hàng nhập khẩu chính: máy móc, xe hơi, hoá chất, thực
phẩm, hàng may mặc, kim loại.
- Các nước nhập khẩu chính : Netherlands 8,5%, France 8,2%, US
5,9%, Italy 5.9%, UK 4,9%, Belgium 4,3%, Austria 4.3%, Thụy Sỹ
4,2% (2010)
- Đơn vị tiền tệ: Đồng Euro (từ ngày 1/1/1999).
- Tỷ giá hối đoái:
EUR/US: 0.7715 (2010), 0.7179 (2009), 0.6827 (2008), 0.7345 (2007),
0.7964 (2006)
Chính sách đối ngoại:
Hiện Đức là thành viên tích cực và có vai trò quan trọng tại EU, NATO,
OECD, LHQ Cơ sở chính sách đối ngoại: Đức ủng hộ một thế giới đa cực,
tôn trọng luật pháp quốc tế, đấu tranh cho nhân quyền, đối thoại, phòng ngừa
khủng hoảng, tránh sử dụng bạo lực và kiến tạo lòng tin.
Ưu tiên đối ngoại và an ninh: Nhất thể hoá châu Âu, quan hệ với Mỹ, toàn
cầu hoá, chống khủng bố, giải quyết xung đột khu vực.
Vai trò LHQ và NATO: Đức cho rằng LHQ đóng vai trò then chốt trong
việc giải quyết các thách thức to lớn trong thế kỉ 21, cần cải cách HĐBA LHQ
theo hướng cân đối hơn giữa các khu vực. NATO là công cụ không thể thiếu
được đối với ổn định của Châu Âu; cần thích ứng hơn với môi trường an ninh
đã thay đổi.
Đức nỗ lực tăng cường quan hệ với Nga, Đông Âu; thực hiện chính sách
ngoại giao cân bằng trong quan hệ với các nước Trung-Đông, đặc biệt trong
những chính sách cải cách kinh tế năng động trước xu thế cạnh tranh thị
trường gay gắt. Đức đã nhận thức được vấn đề này và đã đưa ra nhiều chương
13
trình cải cách, phát triển xứng đáng với vai trò "đầu tàu" trong EU. Chương
trình cải cách "Agenda 2010" đề ra mục tiêu: Tăng cường trung hạn và dài hạn
tính năng động của kinh tế Đức, tạo việc làm, hiện đại hóa các hệ thống xã
hội để bảo đảm phát triển xã hội lâu bền.
Cơ quan thống kê liên bang cho biết tăng trưởng GDP năm 2008 của Đức
giảm xuống còn 1,3% trong khi con số này năm 2007 là 2,5%.
Từ khi chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, chưa bao giờ nền kinh tế Đức
tăng trưởng chỉ khoảng 1%, nhưng nhiều nhà phân tích cho rằng nguy cơ thực
sự chỉ có thể xảy đến khi tăng trưởng đạt khoảng 3% thậm chí hơn 3% trong
năm 2009.
Theo Cơ quan thống kê liên bang, trong quý I năm 2009, kinh tế Đức có
thể tăng trưởng từ 1,5% đến 2% so với mức tăng trưởng trong ba tháng cuối
năm 2008. Nếu điều đó xảy ra thì đây là giai đoạn GDP của Đức giảm nhiều
nhất kể từ năm 1990 khi Đức thống nhất đất nước.
Quan hệ song phương Đức và Việt Nam:
Năm 2010 chúng ta sẽ kỷ niệm 35 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao
giữa Việt Nam và Đức. Nhân dịp đó sẽ tổ chức năm Đức tại Việt Nam và năm
Việt Nam tại Đức. Trong khuôn khổ „năm Đức“ sẽ giới thiệu mối quan hệ
song phương trong tất cả các lĩnh vực. Những chương trình trọng tâm được dự
kiến trải dài từ những hoạt động văn hóa cấp cao, các cuộc giao lưu đối thoại
về chính trị, các diễn đàn kinh tế đến các hội thảo khoa học. Trong khuôn khổ
hợp tác đối tác giữa nhà nước và tư nhân (Public Private Partnership), các tổ
chức tư vấn và thực hiện, các viện chính trị, cũng như các cơ sở nhà nước và
tư nhân họat động ở Việt Nam cần phải được tham gia kiến tạo chương trình.
Trong lĩnh vực kinh tế, nước Đức với kim ngạch thương mại song
phương hơn 4 tỉ USD là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam tại EU, bỏ
xa các thành viên EU khác. Mặt hàng xuất khẩu quan trọng nhất của Việt Nam
nhiều ngôn ngữ khác được sử dụng. Tiếng Anh là ngoại ngữ chính được dạy ở
Đức, hầu hết doanh nhân Đức đều thông thạo tiếng Anh.
Tuổi thọ trung bình : 79,41 năm (2010)
- Nam : 76,41 năm
- Nữ : 82,57 năm
Cấu trúc độ tuổi:
- 0-14tuổi: 13,7%(nam5.768.366-nữ5.470.516)
- 15-64tuổi: 66,1%(nam27.707.761-nữ26.676.759)
- 65tuổi: 20,2%(nam7.004.805-nữ9.701.551)
Tỉ lệ sinh : 8,21/ 1000 dân (2010)
Tỷ lệ tăng dân số: -0.061% (2010)
Tôn giáo : Đạo tin lành 34%, Thiên chúa giáo La Mã 34%, Hồi giáo
3.7%, khác và không tôn giáo 28.3%
Trình độ: độ tuổi trên 15 và có thể đọc và viết.
Dân số: 99% , nam 99%, nữ 99% (nguồn: 2009 cia world factbook)
Mật độ dân cư ở Đức được phân chia rất khác nhau theo khu vực .
Tại khu vực Berlin, vùng phát triển rất nhanh từ khi nước Đức thống nhất,
hiện có tới hơn 4,3 triệu người sinh sống. Dân số của vùng công nghiệp Rhein
và Ruhr, nơi các thành phố nối nhau không có ranh giới rõ ràng, lên tới hơn 11
triệu người mật độ khoảng 1.100người/km2.
Những vùng tập trung dân cư khác là các khu Rhein-Main với các thành
phố Frankfurt, Wiesbaden, và Mainz, khu công nghiệp ở Rhein – Neckar với
các thành phố Mannheim và Ludwigshafen, khu công nghiệp xung quanh
Stuttgart, cũng như các khu vực xung quanh các thành phố Bremen, Dresden,
Hamburg, Köln, Leipzig, München và Nürnberg/Fürth.
Bên cạnh những vùng dân cư tập trung này là những vùng dân cư thưa
thớt, ví dụ như vùng đồng cỏ và đầm lầy nằm trên đồng bằng Bắc Đức, vùng
Eifel, vùng rừng Bayern, vùng thượng Pfalz, vùng Brandenburg và một số
16
vùng ở Mecklenburg-Vorpommern. Miền Tây nước Đức có mật độ dân cư cao
nhân công mới - đã làm cho thất nghiệp dài hạn không chỉ là vấn đề theo chu
kỳ. Với tỷ lệ thất nghiệp lên tới gần 4 triệu người, Bundesrat đã thông qua bộ
luật lao động Job-Aktiv Gesetz vào tháng 12/2001. Công đoàn đã phản đối bộ
luật này nhằm cho phép các ban cung cấp việc làm của Văn phòng việc làm
Liên bang sử dụng các khoản tiền trợ cấp cho công nhân lương thấp (với mức
phân phối ngân sách hàng năm là 2.5 tỷ -3 tỷ euro).
Lực lượng lao động ở Đức nói chung có trình độ tay nghề cao, có học
vấn, có kỷ luật và làm việc rất có hiệu quả. Tuy thị trường lao động được đặc
thù hoá do nhiều vấn đề về cơ cấu nhưng Đức là một trong những nước có
mức lương và phụ cấp cao nhất thế giới, một phần là do tỷ lệ thất nghiệp cao
(khoảng 10%). Dân số theo độ tuổi của Đức cộng với thất nghiệp cao đã đẩy
chi phí an ninh xã hội lên mức cao, vượt quá mức đóng góp của công nhân.
Lao động: Trong tháng 4 có thêm 58 000 người thất nghiệp. Không có
dấu hiệu cho thấy tỷ lệ thất nghiệp sẽ tiếp tục tăng. Với tổng cộng 3,585 triệu
người đăng kí thất nghiệp, con số này đã hơn cùng kỳ năm trước là 171 000
người, và ở tỷ lệ thất nghiệp 8,6% (mức thấp nhất của 2008 là 7,2%).Tỷ lệ thất
nghiệp: 7,9%
Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp cao nhưng trong một số ngành công nghệ cao
vẫn xuất hiện tình trạng thiếu lao động trầm trọng, các doanh nghiệp mong
muốn những thủ tục visa sẽ đơn giản hơn đối với những lao động nước ngoài
có trình độ cao về chuyên môn, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin.
Để đáp ứng điều này Chính phủ đã đưa ra một số chương trình nhằm thu hút
các chuyên gia nước ngoài nhiều hơn nữa.
Sự quan tâm của xã hội đối với các vấn đề bảo vệ môi trường
Từ năm 1986 ở Đức đã có Bộ Môi trường, Bảo vệ thiên nhiên và An toàn
phóng xạ. Hiện nay hơn 4 triệu người Đức là thành viên của các tổ chức bảo
vệ môi trường, ví dụ như Hiệp hội môi trường và bảo vệ thiên nhiên (BUND)
18
và Greenpeace. Chính phủ liên bang cấp tín dụng ưu đãi và trợ cấp cho những
ai lắp ráp thiết bị, vật liệu cách nhiệt hoặc cải tạo căn hộ, nhà ở của mình theo
tới chất lượng và thời trang của loại sản phẩm này. Nhiều khi yếu tố thời trang
lại có tính quyết định cao hơn so với giá cả. Đối với mặt hàng này, nhu cầu
thay đổi nhanh chóng, đặc biệt về mẫu mốt.
- Thuỷ hải sản: Người Đức không mua những sản phẩm thuỷ hải sản nhập
khẩu bị nhiễm độc do tác động của môi trường hoặc do chất phụ gia không
được phép sử dụng. Đối với sản phẩm thuỷ hải sản đã qua chế biến, người
Đức chỉ dùng những sản phẩm đóng gói có ghi rõ họ tên sản phẩm, nơi sản
xuất, các điều kiện bảo quản và sử dụng, mã số và mã vạch. Người tiêu dùng
tẩy chay các loại thuỷ hải sản nhập khẩu có chứa khuẩn Salmonella, độc tố
Lustamine, nhiễm V.Parahaemoliticus, nhiễm V.Cholerae. Người Đức ngày
càng ăn nhiều thuỷ hải sản vì họ cho rằng sẽ giảm được béo mà vẫn khỏe
mạnh.
Một đặc điểm quan trọng ở thị trường Đức đó là người tiêu dùng rất chú
trọng đến các khía cạnh môi trường và xã hội liên quan đến sản xuất hàng hóa.
Thị phần hàng thực phẩm thân thiện với môi trường trên cả hai phương diện
(giảm lượng hóa chất trong thực phẩm và không gây ô nhiễm môi trường) dự
kiến sẽ tăng lên nhanh chóng. Bao bì có khả năng tái sinh và ngay cả việc
quảng cáo được tiến hành theo cách thức thân thiện môi trường luôn giành
được sự ưu ái của người tiêu dùng. Bên cạnh đó, người Đức còn trở nên khắt
khe hơn trong việc lựa chọn hàng hóa xuất phát từ quan điểm đạo đức. Hàng
hóa có được sản xuất với sự phân chia thu nhập công bằng cho người lao động
thực sự, trong những điều kiện lao động phù hợp, không lạm dụng lao động
trẻ em… đang là mối quan tâm lớn của thị trường.
-Dịch vụ: Lĩnh vực dịch vụ đã tăng đều đặn trong những năm gần đây và
hiện đóng góp nhiều nhất vào tổng sản phẩm quốc nội. Lĩnh vực này bao gồm
cả du lịch. Năm 2004, lượng khách nước ngoài đến Đức du lịch nhiều nhất là
từ Hà Lan, kế đó là Vương quốc Anh và Mỹ.
20
5. Yếu tố về công nghệ.
Viễn thông
trụ là một ngành công nghiệp nhỏ nhưng đang phát triển, cũng có rất nhiều trợ
cấp, và các công ty Đức thường tham gia với các công ty từ các nước EU -
chẳng hạn như máy bay Airbus và sản xuất máy bay quân sự
Kỹ nghệ hoá chất là một trong những ngành quan trọng nhất của Đức.
Trong đó có những công ty như Bayer AG, BASF và Hoechst. Các ngành
công nghiệp quan trọng khác gồm chế tạo máy bay, máy xây dựng, máy móc
nông nghiệp, máy phát điện, điện tử, các thiết bị văn phòng. Mặc dù có những
ngành công nghiệp rất thành công, song một số ngành truyền thống, chẳng hạn
như luyện thép và đóng tàu, lại đang sa sút nghiêm trọng. Sự cạnh tranh từ
Nhật và công nghệ mới đã làm giảm lợi nhuận của nước Đức.
Đức là trụ sở chính của nhiều công ty đa quốc gia khổng lồ như BASF,
Robert Bosch GmbH, E.ON, Deutsche Telekom và Siemens AG. Tuy có
nhiều tập đoàn công nghiệp lớn, nhưng xuơng sống của kinh tế Đức lại là các
công ty loại trung (Mittelstand) với quy mô dưới 1000 nhân viên. Trong tổng
số 1016 Tỷ USD hàng hóa xuât khẩu năm 2005, một phần lớn xuất phát từ
khu vực này. Hiện nay Đức vẫn giữ chức quán quân thế giới về xuât khẩu
hàng hóa.
Giao thông
Từ giữa thế kỷ 20 hệ thống giao thông đường bộ của Đức đã thay thế hệ
thống giao thông đường sắt chiếm vị trí quan trọng nhất. Đức là một trong
những nước có mạng lưới giao thông dày nhất thế giới (đứng thứ nhì sau Mỹ),
bao gồm 11.980 km đường cao tốc (Autobahn) và 41.386 km đường liên tỉnh.
Nước Đức là nước duy nhất trên thế giới mà không có hạn chế tốc độ nói
chung trên đường cao tốc.
Cùng với sự tư nhân hóa năm 1993, hệ thống đường sắt dần dần bị thu
nhỏ và hạn chế lại, trong khi hệ thống giao thông hàng không ngày càng phát
triển. Sân bay Frankfurt am Main hiện tại là sân bay lớn nhất ở Đức. Mặc dù
22
giao thông đường bộ và hàng không gây ra nhiều ô nhiễm môi trường, Đức
vẫn không ngừng đầu tư và mở rộng hai hệ thống này, thay vì tập trung vào sử
EU, Đức là nước xuất khẩu áo khoác lớn thứ hai, sau Italia. Năm 2007, kim
ngạch xuất khẩu áo khoác của Đức đạt 9,9 tỷ EUR, chiếm 16% tổng kim
ngạch xuất khẩu áo khoác của EU. Giá trị sản xuất của ngành công nghiệp áo
khoác ở Đức đạt 6,2 tỷ EUR. Gần như hầu hết các công ty ở Đức đều phát
triển chính sách đặt hàng sản xuất áo khoác ở nước ngoài.Số lượng nhà máy
sản xuất áo khoác ở Đức có trên 50 nhân công đã giảm từ 128 vào năm 2006
xuống 122 vào năm 2007. Tổng số nhân công được tuyển dụng làm việc trong
lĩnh vực sản xuất áo khoác ở Đức năm 2007 là 21.300 gười, giảm so với con
số 22.276 người của năm 2006. Năm 2010, nhập khẩu hàng dệt may của Đức
đạt 33 tỷ Euro (khoảng 46 tỷ USD) và xuất khẩu hàng dệt may gồm khoảng
41% quần áo và 59% hàng vải dệt
Trong EU, Đức chiếm 42% lượng đặt hàng sản xuất áo khoác tại nước
ngoài. Ba nước là địa điểm sản xuất áo khoác chính cho Đức trong năm 2007
là Ukraina với 141 triệu EUR, Macedonia 128 triệu EUR và Bungary 100
triệu EUR. Hy vọng chính của các nhà sản xuất Đức là ngành dệt may sẽ tiếp
tục được bảo hộ bởi EU và chính phủ các nước thành viên, đồng thời tập trung
vào việc mở rộng quy mô sản xuất cho các thị trường bên ngoài nơi hàng dệt
may của Đức đang ngày càng được chấp nhận.
Để tận dụng nguồn nhân lực giá rẻ ở các thị trường đang phát triển,
nhiều công ty Đức đã đẩy mạnh chiến dịch đặt hàng sản xuất tại nước ngoài.
Những khu vực được các nhà sản xuất Đức quan tâm bao gồm Bắc Pi, Trung
Quốc, các nước Đông Âu và cả các nước trong khu vực Đông Nam Á.
2. Tình hình tiêu thụ dệt may tại Đức
24
Đức dệt may và quần áo là một trong những ngành công nghiệp lâu đời
nhất và bao gồm chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ; khu vực vẫn là nhà
sản xuất lớn thứ hai của người tiêu dùng trong nước, sau các ngành công
nghiệp thực phẩm. Trước khi phát minh ra máy quay và loom cơ khí, sản xuất
hàng dệt và quần áo là một quá trình lao động chuyên sâu. Nhà máy dệt là
trong số các hoạt động kinh tế đầu tiên sử dụng công nghệ chế biến công