luận văn đánh giá kết quả và tác động từ hoạt động khuyến nông của trạm khuyến nông huyện yên thế - tỉnh bắc giang - Pdf 15

- 1 -
Luận Văn
Đánh giá kết quả và tác
động từ hoạt động
khuyến nông của Trạm
khuyến nông huyện
Yên Thế - tỉnh Bắc
Giang
Mục Lục
Mục Lục 2
PHẦN I 5
ĐẶT VẤN ĐỀ 5
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 5
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 7
1.2.1. Mục tiêu chung: 7
Mục tiêu cụ thể: 7
1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 7
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu: 7
Phạm vi nghiên cứu: 8
PHẦN II 8
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 8
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 8
2.1.1. Các định nghĩa cơ bản về khuyến nông 8
2.1.2. Nội dung hoạt động của khuyến nông 9
Mới đây, Nghị định 56/2005/NĐ-CP của Chính phủ ra ngày 26/4/2005 về công tác khuyến
nông, khuyến ngư cũng nêu rõ: Nội dung hoạt động khuyến nông, khuyến ngư bao gồm: (1)
Thông tin, tuyên truyền; (2) Bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo; (3) Xây dựng mô hình và
chuyển giao KHCN; (4) Tư vấn và dịch vụ; (5) Hợp tác quốc tế về khuyến nông, khuyến
ngư 11
Có hai nội dung mới đã được nêu ra trong Nghị đinh này là: Thứ nhất: Khuyến nông thực
hiện việc tư vấn và dịch vụ: Tư vấn hỗ trợ chính sách pháp luật. Tư vấn hỗ trợ việc khởi sự

3.1.1.1. Vị trí địa lý 28
3.1.1.2. Điều kiện thời tiết, khí hậu, thuỷ văn 29
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Yên Thế 29
3.1.2.1. Đặc điểm phân bổ và sử dụng đất đai 29
3.1.2.2. Đặc điểm dân số lao động 32
Cùng với đất đai, lao động là yếu tố có vai trò đặc biệt quan trọng trong mọi quá trình sản
xuất. Vai trò này càng được thể hiện rõ hơn trong sản xuất nông nghiệp, khi mà trình độ cơ
giới hoá còn chưa theo kịp đòi hỏi của thực tế sản xuất. Dân số và lao động của huyện Yên
Thế cũng có nhiều điểm chung với các huyện miền núi khác của tỉnh Bắc Giang 32
3.1.2.3. Tình hình xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng 33
3.1.2.4. Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện Yên Thế qua 3 năm (04 - 06) 37
3.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
3.2.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 40
3.2.2. Phương pháp thu thập thông tin số liệu 42
3.2.2.1. Thu thập thông tin thứ cấp 42
3.2.2.2. Thu thập thông tin sơ cấp 42
Các đối tượng phỏng vấn/thảo luận 42
Bố Hạ 42
3.2.3. Phương pháp phân tích và xử lý thông tin 42
3.2.4. Phương pháp lập kế hoạch khuyến nông 43
PHẦN IV 43
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43
4.1. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KHUYẾN NÔNG CỦA TRẠM 43
4.1.1. Căn cứ thành lập và cơ sở hạ tầng của Trạm 43
4.1.1.1. Căn cứ thành lập Trạm 43
4.1.1.2. Cơ sở hạ tầng của Trạm 44
4.1.2. Cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Trạm 45
4.1.2.1. Nguồn nhân lực của Trạm và đội ngũ CBKN cơ sở 45
TRÌNH ĐỘ 45
Đại học 45

4.2.3. Tác động của khuyến nông đến KQSX nông nghiệp của huyện 72
4.2.3.1. Tác động về mặt kinh tế 72
4.2.3.1.1. Biến đổi cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp 73
Bảng 18: Biến đổi cơ cấu giá trị trong sản xuất nông nghiệp của Yên Thế 73
4.2.3.1.2. Biến đổi cơ cấu diện tích, năng suất cây trồng vật nuôi 74
Bảng 19: KQSX một số sản phẩm nông nghiệp huyện vài năm gần đây 74
Thành tiền 75
4.2.3.2. Tác động về mặt xã hội và môi trường 76
4.2.4. Tác động của khuyến nông đến SXNN ở Bố Hạ, Đồng Kỳ và Tân Sỏi 77
4.2.4.1. Tác động trong trồng trọt 77
CÂY 78
Xã 78
Lúa 78
4.2.4.2. Tác động trong chăn nuôi 78
VẬT NUÔI 79
Trâu 79
Bố Hạ 79
Gia cầm 79
4.2.5. Đánh giá chung về hoạt động khuyến nông ở Yên Thế 79
4.2.5.1. Đánh giá của cán bộ khuyến nông 79
4.2.5.2. Đánh giá hoạt động khuyến nông của Trạm (kênh KN nhà nước) 81
4.2.5.3. Đánh giá chương trình khuyến nông của các kênh khác 83
4.3. MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP 85
4.3.1. Định hướng 85
4.3.1.1. Định hướng chung 85
4.3.1.2. Định hướng cụ thể 85
4.3.2. Giải pháp 87
4.3.2.1. Giải pháp chung 87
4.3.2.2. Giải pháp cụ thể 88
4.3.2.3. Giải pháp lập kế hoạch khuyến nông 89

họ có khả năng tự giải quyết những vấn đề gặp phải nhằm nâng cao hiệu quả
sản xuất, nâng cao thu nhập, cải thiện mức sống, nâng cao dân trí trong cộng
đồng nông thôn.
Nhìn lại những năm qua từ khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, đặc
biệt là sau khi Quyết định 13/CP của Chính phủ được đưa vào thực hiện thì
nông nghiệp nước ta đã có những bước chuyển biến rõ rệt. Trước đây, sản xuất
nông nghiệp không đủ cung cấp lương thực, thực phẩm cho nhu cầu của nhân
dân cả nước. Đến nay ngành nông nghiệp đã đảm bảo an ninh lương thực quốc
gia và đưa Việt Nam trở thành một trong những nước xuất khẩu lương thực
hàng đầu thế giới. Hàng năm cả nước sản xuất được trên dưới 40 triệu tấn
lương thực và một khối lượng rất lớn các nông sản khác. Điều đó đã chứng tỏ
- 5 -
sự quan tâm kịp thời và đúng đắn của Đảng, Chính phủ đối với ngành nông
nghiệp và trong đó khuyến nông có vai trò quan trọng.
Hiện nay, khoa học kỹ thuật (KHKT) ngày một phát triển, Những kỹ thuật
tiến bộ (KTTB) ngày một nhiều trong khi điều kiện và trình độ sản xuất của một
bộ phận không nhỏ nhân dân còn yếu, các kênh thông tin đến được với người
dân còn ít và thiếu đồng bộ. Do đó mà vấn đề chuyển giao công nghệ, KTTB,
kiến thức nông nghiệp và các chính sách cho người dân là một yêu cầu cấp thiết
trong chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam. Bà con nông dân
còn đang thiếu kiến thức trong sản xuất trên chính thửa ruộng, mảnh vườn và
chuồng trại của mình. Vì thế, họ cần và thực sự có nhu cầu được đào tạo tay
nghề để nâng cao kiến thức về cả trồng trọt và chăn nuôi. Mặt khác, khi đất nước
đã hội nhập, cùng với sự phát triển của thị trường, một bộ phận “nông dân tiên
tiến” ngoài nhu cầu kiến thức về trồng trọt - chăn nuôi họ đã có nhu cầu kiến
thức về chế biến, marketing và tiêu thụ nông sản.
Nằm trong cơ cấu tổ chức của khuyến nông Nhà nước, Trung tâm
khuyến nông khuyến lâm (TTKNKL) Bắc Giang nói chung và Trạm khuyến
nông huyện Yên Thế nói riêng trong vài năm trở lại đây đã có nhiều hoạt động
tiêu biểu góp phần tích cực vào công cuộc phát triển nông nghiệp nông thôn của

việc tại huyện, đại diện 3 xã (Bố Hạ, Đồng Kỳ, Tân Sỏi) và một số hộ dân được
lựa chọn trên địa bàn huyện.
- 7 -
Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về không gian: Huyện Yên Thế, Trạm khuyến nông huyện, các xã
trong huyện, các hộ dân và một số điển hình kinh tế có tác động của hoạt động
khuyến nông.
+ Phạm vi về thời gian: Đề tài được thực hiện từ ngày 14/1/2007 đến
17/5/2007, số liệu được sử dụng trong phạm vi 3 năm (2004-2006) và một số
thông tin từ các năm trước phục vụ cho việc so sánh, đánh giá.
+ Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu tập trung tìm hiểu, đánh giá các hoạt động
khuyến nông đã và đang được Trạm khuyến nông huyện Yên Thế thực hiện
trong 3 năm qua.
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1. Các định nghĩa cơ bản về khuyến nông
Theo nghĩa hẹp: Khuyến nông là sử dụng các cơ quan nông - lâm - ngư
nghiệp, các trung tâm khoa học nông lâm nghiệp để phổ biến, mở rộng kết quả
nghiên cứu tới nông dân bằng các phương pháp thích hợp để họ áp dụng nhằm
thu được nhiều nông sản hơn. Hiểu theo nghĩa này thì khuyến nông chỉ là công
việc chuyển giao KTTB trong nông nghiệp mà thôi.
Theo nghĩa rộng: Khuyến nông ngoài việc hướng dẫn cho nông dân biết
KTTB còn phải giúp họ liên kết với nhau để phòng chống thiên tai, để có vật tư
kỹ thuật, để sản xuất, để tiêu thụ sản phẩm, để thi hành chính sách của Chính
phủ và luật lệ của Nhà nước, giúp cho nông dân phát triển khả năng tự quản lý,
tổ chức cuộc sống một cách tốt nhất.
- 8 -
Trên thế giới, từ “Extension” được sử dụng đầu tiên ở nước Anh năm
1866 có nghĩa là “mở rộng, triển khai”. Từ “Extension” ghép với từ

những thông tin về thị trường, giá cả nông sản để họ tổ chức sản xuất kinh doanh
có lãi; (4) Phổ biến những kinh nghiệm sản xuất giỏi của nông dân cho các nông
dân khác làm theo; (5) Bồi dưỡng, phát triển kỹ năng và kiến thức quản lý kinh tế
cho hộ nông dân để tăng năng suất chất lượng sản phẩm, tăng thu nhập, nâng cao
mức sống cho họ; (6) Thực hiện các dịch vụ kỹ thuật và tham gia cung ứng vật tư
cho nông dân; (7) Truyền bá thông tin kiến thức, lối sống sinh hoạt lành mạnh, đề
cao ý thức bảo vệ môi trường thiên nhiên, nhằm phát triển nền nông nghiệp bền
vững (Phương pháp khuyến nông, Dự án PTNT Cao Bằng - Bắc Kạn, 2004
(1)
).
- 10 -
Mới đây, Nghị định 56/2005/NĐ-CP của Chính phủ ra ngày 26/4/2005
về công tác khuyến nông, khuyến ngư cũng nêu rõ: Nội dung hoạt động
khuyến nông, khuyến ngư bao gồm: (1) Thông tin, tuyên truyền; (2)
Bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo; (3) Xây dựng mô hình và chuyển giao
KHCN; (4) Tư vấn và dịch vụ; (5) Hợp tác quốc tế về khuyến nông,
khuyến ngư.
Có hai nội dung mới đã được nêu ra trong Nghị đinh này là: Thứ nhất:
Khuyến nông thực hiện việc tư vấn và dịch vụ: Tư vấn hỗ trợ chính
sách pháp luật. Tư vấn hỗ trợ việc khởi sự doanh nghiệp (lập dự án
đầu tư phát triển nông nghiệp, ngành nghề nông thôn…). Tư vấn hỗ
trợ, phát triển ứng dụng công nghệ sau thu hoạch, chế biến nông lâm,
thuỷ sản. Tư vấn hỗ trợ quản lý, sử dụng nước sạch nông thôn và vệ
sinh môi trường nông thôn. Tư vấn hỗ trợ đổi mới tổ chức, cải tiến
quản lý, hợp tác sản xuất, hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp,
của các tổ chức kinh tế tập thể trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn;
Thứ hai: Khuyến nông thực hiện hợp tác quốc tế: Tham gia các hoạt
động về khuyến nông, khuyến ngư trong các chương trình hợp tác quốc
tế. Trao đổi kinh nghiệm khuyến nông, khuyến ngư với các tổ chức, cá
nhân nước ngoài. (Nghị định 56/2005/NĐ-CP).

2.1.4. Các nguyên tắc khuyến nông
Hoạt động khuyến nông phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản sau:
(1) Nguyên tắc tự nguyện, không áp đặt, mệnh lệnh: Mỗi hộ nông dân là một
đơn vị kinh tế tự chủ, sản xuất của họ do họ quyết định. Vì vậy, nhiệm vụ của
khuyến nông là tìm hiểu cặn kẽ những yêu cầu, nguyện vọng của họ trong
SXNN, đưa ra những KTTB mới sao cho phù hợp để họ tự cân nhắc, lựa chọn.
- 12 -
Nghiên
cứu
Nông dân
Khuyến nông
Vụ này họ chưa áp dụng vì họ chưa đủ điều kiện, chưa thật tin tưởng nhưng vụ
sau, thông qua một số hộ đã áp dụng có hiệu quả, lúc đó họ sẽ tự áp dụng.
(2) Nguyên tắc không làm thay: Cán bộ khuyến nông (CBKN) giúp đỡ nông
dân thông qua trình diễn kết quả, trình diễn phương pháp để họ mắt thấy tai
nghe. CBKN cần thao tác chậm để nông dân theo dõi, vừa làm vừa giải thích
sau đó mời nông dân làm thử.
(3) Nguyên tắc không bao cấp: Khuyến nông chỉ hỗ trợ những khâu khó khăn
ban đầu về kỹ thuật, giống và vốn mà từng hộ nông dân không thể tự đầu tư áp
dụng do hạn chế về nguồn lực của mình. Không nên bao cấp toàn bộ, tránh
trường hợp nông dân ỉ lại không phát huy được năng lực và trách nhiệm vào
công việc.
(4) Nguyên tắc khuyến nông là nhịp cầu thông tin hai chiều: Giữa nông dân
với các tổ chức và cơ quan khác luôn có mối quan hệ, khuyến nông phải phản
ánh trung thực những ý kiến tiếp thu, phản hồi của nông dân về những vấn đề
chưa phù hợp cần sửa đổi khắc phục.
(5) Nguyên tắc khuyến nông không hoạt động đơn độc: Khuyến nông phải
phối hợp chặt chẽ với các tổ chức phát triển nông thôn khác. Ngoài việc phối
hợp chặt chẽ với các trường, viện nghiên cứu khoa học, trung tâm khoa học
nông nghiệp còn phải phối hợp chặt chẽ với các hội, đoàn thể quần chúng, các

được đào tạo, tập huấn để tham gia vào chương trình nghiên cứu phát triển hệ
thống nông nghiệp, thay đổi hệ thống nông nghiệp một vùng nông thôn.
Trong thực tế, người CBKN có trách nhiệm cung cấp các kiến thức thông
tin để làm cho nông dân dễ hiểu và đi đến quyết định về sự thay đổi, cải tiến
nào đó trong sản xuất của mình. Từ đó những kiến thức mới, thông tin mới này
sẽ được lan truyền đến nông dân khác. Vì vậy, người CBKN phải thường xuyên
được bồi dưỡng đào tạo qua các lớp tập huấn những kiến thức mới, thông tin
- 14 -
mới, những chủ trương chính sách mới của Đảng và Chính phủ, những chương
trình phát triển nông thôn.
Mặt khác, người CBKN có liên hệ chặt chẽ và liên quan đến sự phát triển
tình cảm, tư duy cá nhân của nông dân trước những đổi mới trong SXNN. Họ
chú ý giúp đỡ nông dân có niềm tin, thường xuyên có ý thức tập hợp nhau lại
lôi cuốn vào các hoạt động khuyến nông.
Vai trò của CBKN có thể được mô tả bằng những cụm từ: Người thầy -
Người nghe - Người tổ chức - Người trọng tài - Người quản lý - Trạng sư - Người
lãnh đạo - Người xúc tác - Người thông tin - Nhà cố vấn - Nhà cung cấp - Người
bạn - Người hỗ trợ - Người cổ vũ (Theo Guide to Extension, FAO, 1985).
Các nhịêm vụ chủ yếu của người CBKN được tóm lược như sau: (1) Tìm
hiểu yêu cầu của địa phương và nông dân; (2) Thu thập và phân tích tài liệu; (3)
Ấn định mục tiêu cho chương trình khuyến nông tại địa phương; (4) Lập kế
hoạch thực hiện trước mắt và lâu dài; (5) Đề ra phương pháp thực hiện; (6) Phổ
biến, vận động nông dân, tổ chức đoàn thể tham gia chương trình khuyến nông,
các điểm trình diễn, tham quan, cung cấp tư liệu, tin bài cho cơ quan thông tin
đại chúng; (7) Đánh giá kết quả và viết báo cáo chương trình khuyến nông.
2.1.7. Các phương pháp khuyến nông
Xét về phương pháp thì hoạt động khuyến nông gồm 3 loại sau: Phương
pháp cá nhân, phương pháp nhóm, và phương pháp thông tin đại chúng.
Phương pháp cá nhân: Là phương pháp khuyến nông mà thông tin được
chuyển giao trực tiếp cho từng cá nhân hay hộ nông dân. Phương pháp này

của người dân. Trước đây việc lập kế hoạch nói chung chủ yếu được tiến hành
theo một trong hai hình thức đầu. Khi đó kế hoạch lập ra có nhiều hạn chế
(thường không xuất phát từ nhu cầu của người dân hoặc không khả thi) cho nên
việc thực hiện các kế hoạch đó gặp nhiều khó khăn, hiệu quả đạt được không
cao, rất hạn chế sự tiếp nhận của người dân. Gần đây cùng với bước phát triển
vượt bậc của cách tiếp cận có sự tham gia thì hình thức lập kế hoạch thứ ba
- 16 -
cũng dần được khẳng định với nhiều ưu điểm, người dân dễ làm theo và thực
hiện kế hoạch. Vì vậy hiệu quả đạt cao hơn.
Các yếu tố tác động đến lập kế hoạch là: (1) Các mục tiêu, mục đích của
chương trình; (2) Cơ sở, điều kiện để đạt được mục tiêu, mục đích; (3) Các
nguồn lực cần thiết để thực hiện các chương trình khuyến nông được lập ra.
2.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.2.1. Vài nét về tổ chức hoạt động khuyến nông trên thế giới
Trên thế giới khuyến nông ra đời từ rất sớm và ở hầu khắp các nước.
Hoạt động khuyến nông gắn liền với sự phát triển của nông nghiệp. Các nước
có nền nông nghiệp phát triển (như Anh, Pháp, Mỹ) một phần cũng là nhờ tác
động tích cực của hoạt động khuyến nông. Vì vậy các nước nông nghiệp đang
phát triển hiện nay (Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan) cũng đang cố gắng xây
dựng và hoàn thiện hệ thống khuyến nông của nước mình.
Khởi đầu là giáo sư người Pháp Rabelais, từ năm 1530 ông đã cải tiến
phương pháp giảng dạy, đưa quan điểm giáo dục nông nghiệp “Học đi đôi với
hành” vào giảng dạy. Ngoài việc giảng dạy lý thuyết ở lớp ông đã cho học trò
tiếp xúc với sản xuất và tự nhiên. Ông đã chỉ cho họ biết cách phân biệt giống
cây và giống con, kỹ thuật nuôi cừu, bò, gà…
Đến năm 1777, giáo sư người Thụy Sĩ là Heirich Dastalozzi thấy rằng
muốn mở mang nhanh nền nông nghiệp giúp nông dân nghèo cải thiện được
cuộc sống thì phải đào tạo chính con em họ có trình độ và nắm được KTTB,
biết làm thành thạo mốt số công việc như quay sợi bông, dệt vải, cày bừa.
Tuy nhiên phải đến năm 1843 hoạt động khuyến nông mới có tính phổ

* Khuyến nông ở Ấn Độ:
Tổ chức khuyến nông được thành lập từ năm 1960 theo 5 cấp: cấp quốc
gia, cấp vùng, cấp bang, cấp huyện và cấp xã. Nhờ có hoạt động khuyến nông
- 18 -
được tổ chức tương đối tốt nên Ấn Độ đã làm cuộc “Cách mạng xanh” khá
thành công, về căn bản đã giải quyết được nạn đó, tự túc được lương thực. Sau
đó nước này đã thắng lợi trong cuộc “Cách mạng trắng” về sữa và đang tiếp tục
tiến hành cuộc “Cách mạng nâu” về thịt.
* Khuyến nông ở Thái Lan:
Tuy mãi đến năm 1967 mới có quyết định thành lập tổ chức khuyến nông
song được Chính phủ Thái Lan đặc biệt quan tâm. Số CBKN của Thái Lan vào
năm 1992 là khoảng 15.196 người. Mỗi năm Chính phủ Thái Lan chi khoảng
130 - 150 triệu USD cho hoạt động khuyến nông. Vì vậy nông nghiệp Thái Lan
phát triển một cách toàn diện cả về trồng trọt và chăn nuôi, có sản lượng gạo và
sắn xuất khẩu nhiều nhất thế giới.
* Khuyến nông ở Trung Quốc:
Hoạt động khuyến nông ở Trung Quốc đã có từ lâu, năm 1933 trường đại
học Kim Lãng đã thành lập phân khu khuyến nông nhưng mãi đến năm 1970
nước này mới chính thức có tổ chức khuyến nông. Trong Nghị quyết của đảng
cộng sản Trung Quốc khoá VIII về “Tăng cường công tác nông nghiệp và nông
thôn” nêu rõ “phải nắm vững chiến lược KHCN và khuyến nông”, đưa ngay
sinh viên mới tốt nghiệp xuống cơ sở, chú trọng đào tạo các nông dân giỏi trở
thành khuyến nông viên. Cho tới nay Trung Quốc đã có Uỷ ban quốc gia - cục
phổ cập kỹ thuật nông nghiệp, cấp tỉnh có cục khuyến nông, dưới tỉnh có
khuyến nông phân khu, cấp cơ sở là khuyến nông thôn xã.
Trên đây là hoạt động khuyến nông của một số quốc gia trên thế giới. Nó
cho thấy khuyến nông đang được các nước ngày càng chú trọng, quan tâm hơn
để phục vụ cho phát triển nông nghiệp - nông thôn và nâng cao đời sống người
nông dân. Bằng chứng là năm 1700 mới có 1 nước, năm 1800 có 8 nước, năm
1950 có 69 nước, năm 1992 có 199 nước có tổ chức khuyến nông. Đến năm

- 20 -
Ngày 05/04/1988 Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 10 về “đổi mới quản lý
trong nông nghiệp”. Từ đó, nhờ việc nắm vững và thực hiện Nghị quyết 10
(Khoán 10) đã đem lại những tác dụng tích cực cho sản xuất. Lực lượng lao
động không ngừng tăng lên, KHCN được tạo điều kiện đi vào sản xuất, KTTB
được chuyển giao rộng rãi, công tác khuyến nông đi vào nề nếp. Khoán 10 đã
đem lại hiệu quả nhanh chóng, tạo ra một bước ngoặt mới trên mặt trận nông
nghiệp. Hộ nông dân trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, tự quyết định kết quả sản
xuất kinh doanh của mình. Vì vậy mà những đòi hỏi của hàng triệu hộ nông dân
trong cả nước về hướng dẫn kỹ thuật, về quản lý, về giống cây trồng - vật nuôi,
về chính sách khuyến khích sản xuất, về thị trường… tăng lên gấp bội. Tổ chức
và phương thức hoạt động của ngành nông nghiệp không đủ, không thoả mãn
được yêu cầu nói trên, cần có sự thay đổi và bổ sung.
Nghị định 13/CP của Chính phủ ra ngày 02/03/1993 về công tác khuyến
nông, Thông tư 02/LB/TT hướng dẫn việc tổ chức hệ thống khuyến nông và
hoạt động khuyến nông đã kịp thời đáp ứng được những đòi hỏi nói trên. Hệ
thống khuyến nông của Việt Nam chính thức được thành lập năm 1993. Ở cấp
Trung ương có cục khuyến nông (TTKNQG), cấp tỉnh có TTKN tỉnh, cấp
huyện có Trạm khuyến nông huyện, cấp xã có mạng lưới khuyến nông cơ sở.
Ngày 26/04/2005 bằng việc ban hành Nghị định 56/2005/NĐ-CP về công
tác khuyến nông, khuyến ngư thì hệ thống khuyến nông Việt Nam đã thêm một
bước được hoàn thiện cả về cơ cấu lẫn nội dung hành động. Hệ thống khuyến
nông Nhà nước đã nhanh chóng phối hợp với các cơ quan, ban ngành có liên
quan, nhất là các tổ chức quần chúng. Trong hoạt động, khuyến nông Việt Nam
đang tiếp tục đón nhận kinh nghiệm của khuyến nông các nước tiên tiến, làm
cho hoạt động khuyến nông trong nước ngày càng phong phú, bộ mặt nông
thôn và sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp phát triển không ngừng.
- 21 -
2.2.2.2. Hệ thống tổ chức khuyến nông Nhà nước ở Việt Nam
Ngay sau khi có Nghị định 13/CP của Chỉnh phủ và Thông tư 02/LB/TT,

động khuyến nông ở địa phương; (5) Tham gia xây dựng và phổ biến cho nông
dân thực hiện các quy trình kỹ thuật sản xuất thâm canh cây trồng, vật nuôi,
lâm sinh, thuỷ sản; (6) Tổng kết đánh giá việc thực hiện các chương trình dự án
khuyến nông cấp tỉnh.
* Cấp huyện, thị xã có Trạm khuyến nông huyện, thị xã:
Trạm khuyến nông huyện trực thuộc phòng nông nghiệp (hoặc phòng
kinh tế) huyện, mỗi trạm có từ 5 - 7 nhân viên làm việc theo phòng ban hoặc
theo ngành sản xuất được phân công. Trạm khuyến nông huyện có nhiệm vụ
sau: (1) Đưa những KTTB theo các chương trình dự án khuyến nông, khuyến
lâm, khuyến ngư vào sản xuất đại trà trện địa bàn huyện; (2) Xây dựng các mô
hình trình diễn phục vụ cho các chương trình dự án khuyến nông, khuyến lâm,
khuyến ngư; (3) Hướng dẫn quy trình kỹ thuật cho nông - lâm - ngư dân theo
mùa vụ hoặc theo yêu cầu của sản xuất; (4) Tổ chức tham quan học tập các điển
hình tiên tiến ở trong và ngoài huyện; (5) Bồi dưỡng kỹ thuật và tập huấn
nghiệp vụ cho khuyến nông viên cơ sở và cho nông dân; (6) Xây dựng
CLBKN, nhóm nông dân sản xuất giỏi, nhóm hộ nông dân cùng sở thích; (7)
Hợp tác với các tổ chức và cá nhân thực hiện hoạt động khuyến nông.
* Cấp xã thôn thành lập mạng lưới khuyến nông cơ sở:
CBKN ở cơ sở không thuộc biên chế nhà nước, làm việc theo chế độ hợp
đồng dài hạn hoặc ngắn hạn. CBKN cơ sở thực hiện nhiệm vụ theo hợp đồng cơ
bản gồm: (1) Tự bồi dưỡng nâng cao trình độ và hiểu biết về chuyên môn,
KTXH, nghiệp vụ khuyến nông; (2) Cố vấn kỹ thuật và thông tin thị trường cho
nông dân; (3) Thực thi các dự án khyến nông trên địa bàn phụ trách; (4) Thực
hiện, tổ chức và theo dõi các mô hình sản xuất tiên tiến; (5) Điều tra thu thập
thông tin làm cơ sở cho xây dựng và triển khai dự án khuyến nông; (6) Hàng
- 23 -
tháng tổng hợp tình hình hoạt động khuyến nông viết và trình bày báo cáo tại
các kỳ họp giao ban thường niên.
Như vậy hệ thống tổ chức khuyến nông Nhà nước ở Việt Nam được tổ
chức theo kiểu hình tháp, thống nhất chỉ đạo từ Trung ương đến cơ sở. Hệ

Khuyến nông
Nhà nước
- Thực hiện sự quản lý của
Nhà nước
- Các chương trình của
chính phủ
- Tổ chức
- Cung cấp
- Kiểm tra
- Hoàn thiện
Viện nghiên cứu,
trường chuyên
nghiệp
- Triển khai KHKT
- Thu thập thông tin
- Thực hiện dự án phát triển
- Truyền bá
- Phát hiện vấn đề
- Hoàn thiện
Các tổ chức xã
hội
Nâng cao lợi ích của các
thành viên
- Vận động
- Thực hiện
- Rút kinh nghiệm
Các công ty
- Bán sản phẩm và dịch vụ
- Vì sự sống còn của doanh
nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status