Đánh giá kết quả và tác động từ hoạt động khuyến nông của Trạm khuyến nông huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang - Pdf 13

PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Hệ thống khuyến nông Nhà nước của Việt Nam chính thức được thành
lập theo Quyết định 13/CP ngày 02/03/1993 của Thủ tướng Chính phủ. Qua 14
năm xây dựng và phát triển, khuyến nông đã và đang khẳng định vị thế quan
trọng của mình trong chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn ở nước ta.
Khuyến nông là một quá trình, một hệ thống các hoạt động nhằm truyền bá kiến
thức và huấn luyện tay nghề cho nông dân, đưa đến cho họ những hiểu biết để
họ có khả năng tự giải quyết những vấn đề gặp phải nhằm nâng cao hiệu quả
sản xuất, nâng cao thu nhập, cải thiện mức sống, nâng cao dân trí trong cộng
đồng nông thôn.
Nhìn lại những năm qua từ khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, đặc
biệt là sau khi Quyết định 13/CP của Chính phủ được đưa vào thực hiện thì
nông nghiệp nước ta đã có những bước chuyển biến rõ rệt. Trước đây, sản xuất
nông nghiệp không đủ cung cấp lương thực, thực phẩm cho nhu cầu của nhân
dân cả nước. Đến nay ngành nông nghiệp đã đảm bảo an ninh lương thực quốc
gia và đưa Việt Nam trở thành một trong những nước xuất khẩu lương thực
hàng đầu thế giới. Hàng năm cả nước sản xuất được trên dưới 40 triệu tấn
lương thực và một khối lượng rất lớn các nông sản khác. Điều đó đã chứng tỏ
sự quan tâm kịp thời và đúng đắn của Đảng, Chính phủ đối với ngành nông
nghiệp và trong đó khuyến nông có vai trò quan trọng.
Hiện nay, khoa học kỹ thuật (KHKT) ngày một phát triển, Những kỹ thuật
tiến bộ (KTTB) ngày một nhiều trong khi điều kiện và trình độ sản xuất của một
bộ phận không nhỏ nhân dân còn yếu, các kênh thông tin đến được với người
dân còn ít và thiếu đồng bộ. Do đó mà vấn đề chuyển giao công nghệ, KTTB,
kiến thức nông nghiệp và các chính sách cho người dân là một yêu cầu cấp thiết
trong chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam. Bà con nông dân
- 1 -
còn đang thiếu kiến thức trong sản xuất trên chính thửa ruộng, mảnh vườn và
chuồng trại của mình. Vì thế, họ cần và thực sự có nhu cầu được đào tạo tay

kiến của nhân dân. Trên cơ sở đó có những đánh giá thoả đáng về hệ thống tổ
chức và tình hình hoạt động khuyến nông ở Yên Thế.
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động khuyến nông ở địa
phương, lập kế hoạch cho một hoạt động khuyến nông phù hợp.
1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu những hoạt động khuyến nông tại Trạm khuyến nông
huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang, cán bộ khuyến nông (CBKN) hiện đang làm
việc tại huyện, đại diện 3 xã (Bố Hạ, Đồng Kỳ, Tân Sỏi) và một số hộ dân được
lựa chọn trên địa bàn huyện.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về không gian: Huyện Yên Thế, Trạm khuyến nông huyện, các xã
trong huyện, các hộ dân và một số điển hình kinh tế có tác động của hoạt động
khuyến nông.
+ Phạm vi về thời gian: Đề tài được thực hiện từ ngày 14/1/2007 đến
17/5/2007, số liệu được sử dụng trong phạm vi 3 năm (2004-2006) và một số
thông tin từ các năm trước phục vụ cho việc so sánh, đánh giá.
+ Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu tập trung tìm hiểu, đánh giá các hoạt động
khuyến nông đã và đang được Trạm khuyến nông huyện Yên Thế thực hiện
trong 3 năm qua.
- 3 -
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1. Các định nghĩa cơ bản về khuyến nông
Theo nghĩa hẹp: Khuyến nông là sử dụng các cơ quan nông - lâm - ngư
nghiệp, các trung tâm khoa học nông lâm nghiệp để phổ biến, mở rộng kết quả
nghiên cứu tới nông dân bằng các phương pháp thích hợp để họ áp dụng nhằm
thu được nhiều nông sản hơn. Hiểu theo nghĩa này thì khuyến nông chỉ là công
việc chuyển giao KTTB trong nông nghiệp mà thôi.

phải khoa học, kịp thời và thích ứng với điều kiện sản xuất của người nông dân.
2.1.2. Nội dung hoạt động của khuyến nông
Ở nước ta hoạt động khuyến nông chủ yếu tập trung vào một số nội dung
sau: (1) Tuyên truyền chủ trương, chính sách về phát triển nông nghiệp xây dựng
nông thôn của Đảng và Chính phủ; (2) Truyền bá những KTTB trong thâm canh
cây trồng, vật nuôi, bảo quản nông sản, bao gồm cả nghề cá, nghề rừng và là một
mảng hoạt động quan trọng của phát triển nông thôn; (3) Cung cấp cho nông dân
những thông tin về thị trường, giá cả nông sản để họ tổ chức sản xuất kinh doanh
có lãi; (4) Phổ biến những kinh nghiệm sản xuất giỏi của nông dân cho các nông
dân khác làm theo; (5) Bồi dưỡng, phát triển kỹ năng và kiến thức quản lý kinh tế
cho hộ nông dân để tăng năng suất chất lượng sản phẩm, tăng thu nhập, nâng cao
mức sống cho họ; (6) Thực hiện các dịch vụ kỹ thuật và tham gia cung ứng vật tư
cho nông dân; (7) Truyền bá thông tin kiến thức, lối sống sinh hoạt lành mạnh, đề
cao ý thức bảo vệ môi trường thiên nhiên, nhằm phát triển nền nông nghiệp bền
vững (Phương pháp khuyến nông, Dự án PTNT Cao Bằng - Bắc Kạn, 2004
(1)
).
- 5 -
Mới đây, Nghị định 56/2005/NĐ-CP của Chính phủ ra ngày 26/4/2005
về công tác khuyến nông, khuyến ngư cũng nêu rõ: Nội dung hoạt động khuyến
nông, khuyến ngư bao gồm: (1) Thông tin, tuyên truyền; (2) Bồi dưỡng, tập
huấn và đào tạo; (3) Xây dựng mô hình và chuyển giao KHCN; (4) Tư vấn và
dịch vụ; (5) Hợp tác quốc tế về khuyến nông, khuyến ngư.
Có hai nội dung mới đã được nêu ra trong Nghị đinh này là: Thứ nhất:
Khuyến nông thực hiện việc tư vấn và dịch vụ: Tư vấn hỗ trợ chính sách pháp
luật. Tư vấn hỗ trợ việc khởi sự doanh nghiệp (lập dự án đầu tư phát triển nông
nghiệp, ngành nghề nông thôn…). Tư vấn hỗ trợ, phát triển ứng dụng công
nghệ sau thu hoạch, chế biến nông lâm, thuỷ sản. Tư vấn hỗ trợ quản lý, sử
dụng nước sạch nông thôn và vệ sinh môi trường nông thôn. Tư vấn hỗ trợ đổi
mới tổ chức, cải tiến quản lý, hợp tác sản xuất, hạ giá thành sản phẩm của

từng vùng do sản xuất nông nghiệp diễn ra trong phạm vi không gian rộng; (3)
Kịp thời do nông nghiệp có tính thời vụ; (4) Phù hợp với từng đối tượng khuyến
cáo, do nông dân không đồng nhất nguồn lực và nhân lực; (5) Dễ thấy, dễ nghe,
dễ hiểu và dễ làm theo; (6) Đáp ứng được mong muốn của dân; (7) Tăng khả
năng để nông dân tự giúp đỡ được mình; (8) Hiệu quả và tiết kiệm.
2.1.4. Các nguyên tắc khuyến nông
Hoạt động khuyến nông phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản sau:
(1) Nguyên tắc tự nguyện, không áp đặt, mệnh lệnh: Mỗi hộ nông dân là một
đơn vị kinh tế tự chủ, sản xuất của họ do họ quyết định. Vì vậy, nhiệm vụ của
khuyến nông là tìm hiểu cặn kẽ những yêu cầu, nguyện vọng của họ trong
SXNN, đưa ra những KTTB mới sao cho phù hợp để họ tự cân nhắc, lựa chọn.
Vụ này họ chưa áp dụng vì họ chưa đủ điều kiện, chưa thật tin tưởng nhưng vụ
sau, thông qua một số hộ đã áp dụng có hiệu quả, lúc đó họ sẽ tự áp dụng.
- 7 -
Nghiên
cứu
Nông dân
Khuyến nông
(2) Nguyên tắc không làm thay: Cán bộ khuyến nông (CBKN) giúp đỡ nông
dân thông qua trình diễn kết quả, trình diễn phương pháp để họ mắt thấy tai
nghe. CBKN cần thao tác chậm để nông dân theo dõi, vừa làm vừa giải thích
sau đó mời nông dân làm thử.
(3) Nguyên tắc không bao cấp: Khuyến nông chỉ hỗ trợ những khâu khó khăn
ban đầu về kỹ thuật, giống và vốn mà từng hộ nông dân không thể tự đầu tư áp
dụng do hạn chế về nguồn lực của mình. Không nên bao cấp toàn bộ, tránh
trường hợp nông dân ỉ lại không phát huy được năng lực và trách nhiệm vào
công việc.
(4) Nguyên tắc khuyến nông là nhịp cầu thông tin hai chiều: Giữa nông dân
với các tổ chức và cơ quan khác luôn có mối quan hệ, khuyến nông phải phản
ánh trung thực những ý kiến tiếp thu, phản hồi của nông dân về những vấn đề

hệ làm việc, tiếp xúc, cư xử khéo léo, tháo vát và đúng mực. Trong thực tế
không có các kiểu mẫu nào hợp hoàn cảnh. Trên thế giới có nhiều cách nhìn
nhận và đánh giá khác nhau về vai trò CBKN trong việc đem lại sự đổi mới cho
hệ thống nông nghiệp, cụ thể hơn là hệ thống các hộ nông dân.
Tuy nhiên, nhiệm vụ chính của các CBKN là dùng các kiến thức mình đã
được đào tạo, tập huấn để tham gia vào chương trình nghiên cứu phát triển hệ
thống nông nghiệp, thay đổi hệ thống nông nghiệp một vùng nông thôn.
Trong thực tế, người CBKN có trách nhiệm cung cấp các kiến thức thông
tin để làm cho nông dân dễ hiểu và đi đến quyết định về sự thay đổi, cải tiến
nào đó trong sản xuất của mình. Từ đó những kiến thức mới, thông tin mới này
sẽ được lan truyền đến nông dân khác. Vì vậy, người CBKN phải thường xuyên
được bồi dưỡng đào tạo qua các lớp tập huấn những kiến thức mới, thông tin
mới, những chủ trương chính sách mới của Đảng và Chính phủ, những chương
trình phát triển nông thôn.
- 9 -
Mặt khác, người CBKN có liên hệ chặt chẽ và liên quan đến sự phát triển
tình cảm, tư duy cá nhân của nông dân trước những đổi mới trong SXNN. Họ
chú ý giúp đỡ nông dân có niềm tin, thường xuyên có ý thức tập hợp nhau lại
lôi cuốn vào các hoạt động khuyến nông.
Vai trò của CBKN có thể được mô tả bằng những cụm từ: Người thầy -
Người nghe - Người tổ chức - Người trọng tài - Người quản lý - Trạng sư - Người
lãnh đạo - Người xúc tác - Người thông tin - Nhà cố vấn - Nhà cung cấp - Người
bạn - Người hỗ trợ - Người cổ vũ (Theo Guide to Extension, FAO, 1985).
Các nhịêm vụ chủ yếu của người CBKN được tóm lược như sau: (1) Tìm
hiểu yêu cầu của địa phương và nông dân; (2) Thu thập và phân tích tài liệu; (3)
Ấn định mục tiêu cho chương trình khuyến nông tại địa phương; (4) Lập kế
hoạch thực hiện trước mắt và lâu dài; (5) Đề ra phương pháp thực hiện; (6) Phổ
biến, vận động nông dân, tổ chức đoàn thể tham gia chương trình khuyến nông,
các điểm trình diễn, tham quan, cung cấp tư liệu, tin bài cho cơ quan thông tin
đại chúng; (7) Đánh giá kết quả và viết báo cáo chương trình khuyến nông.

giúp đỡ nông dân vượt qua khó khăn; Để xây dựng các chương trình khuyến
nông, tạo cơ sở để chỉ đạo thực hiện các hoạt động khuyến nông. Có 3 hình
thức cụ thể để lập kế hoạch khuyến nông. (1) Lập kế hoạch từ dưới lên (trên cơ
sở các nhu cầu và tiềm năng của địa phương); (2) Lập kế hoạch từ trên xuống
(trên cơ sở các chính sách của cấp quốc gia); (3) Lập kế hoạch có sự tham gia
của người dân. Trước đây việc lập kế hoạch nói chung chủ yếu được tiến hành
theo một trong hai hình thức đầu. Khi đó kế hoạch lập ra có nhiều hạn chế
(thường không xuất phát từ nhu cầu của người dân hoặc không khả thi) cho nên
việc thực hiện các kế hoạch đó gặp nhiều khó khăn, hiệu quả đạt được không
cao, rất hạn chế sự tiếp nhận của người dân. Gần đây cùng với bước phát triển
vượt bậc của cách tiếp cận có sự tham gia thì hình thức lập kế hoạch thứ ba
cũng dần được khẳng định với nhiều ưu điểm, người dân dễ làm theo và thực
hiện kế hoạch. Vì vậy hiệu quả đạt cao hơn.
- 11 -
Các yếu tố tác động đến lập kế hoạch là: (1) Các mục tiêu, mục đích của
chương trình; (2) Cơ sở, điều kiện để đạt được mục tiêu, mục đích; (3) Các
nguồn lực cần thiết để thực hiện các chương trình khuyến nông được lập ra.
2.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.2.1. Vài nét về tổ chức hoạt động khuyến nông trên thế giới
Trên thế giới khuyến nông ra đời từ rất sớm và ở hầu khắp các nước.
Hoạt động khuyến nông gắn liền với sự phát triển của nông nghiệp. Các nước
có nền nông nghiệp phát triển (như Anh, Pháp, Mỹ) một phần cũng là nhờ tác
động tích cực của hoạt động khuyến nông. Vì vậy các nước nông nghiệp đang
phát triển hiện nay (Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan) cũng đang cố gắng xây
dựng và hoàn thiện hệ thống khuyến nông của nước mình.
Khởi đầu là giáo sư người Pháp Rabelais, từ năm 1530 ông đã cải tiến
phương pháp giảng dạy, đưa quan điểm giáo dục nông nghiệp “Học đi đôi với
hành” vào giảng dạy. Ngoài việc giảng dạy lý thuyết ở lớp ông đã cho học trò
tiếp xúc với sản xuất và tự nhiên. Ông đã chỉ cho họ biết cách phân biệt giống
cây và giống con, kỹ thuật nuôi cừu, bò, gà…

cấp quốc gia có hội đồng khuyến nông quốc gia, cấp tỉnh có diễn đàn khuyến
nông cấp 1, huyện có diễn đàn khuyến nông cấp 2, cấp xã và liên xã có cơ quan
khuyến nông cơ sở. Tại đó có bộ phận dịch vụ khuyến nông và trung tâm thông
tin phục vụ cho nhu cầu của nông dân. Ngày nay Inđonêxia thường xuyên được
chọn là nơi tổ chức đào tạo CBKN cho các nước trong khu vực.
* Khuyến nông ở Ấn Độ:
Tổ chức khuyến nông được thành lập từ năm 1960 theo 5 cấp: cấp quốc
gia, cấp vùng, cấp bang, cấp huyện và cấp xã. Nhờ có hoạt động khuyến nông
được tổ chức tương đối tốt nên Ấn Độ đã làm cuộc “Cách mạng xanh” khá
thành công, về căn bản đã giải quyết được nạn đó, tự túc được lương thực. Sau
- 13 -
đó nước này đã thắng lợi trong cuộc “Cách mạng trắng” về sữa và đang tiếp tục
tiến hành cuộc “Cách mạng nâu” về thịt.
* Khuyến nông ở Thái Lan:
Tuy mãi đến năm 1967 mới có quyết định thành lập tổ chức khuyến nông
song được Chính phủ Thái Lan đặc biệt quan tâm. Số CBKN của Thái Lan vào
năm 1992 là khoảng 15.196 người. Mỗi năm Chính phủ Thái Lan chi khoảng
130 - 150 triệu USD cho hoạt động khuyến nông. Vì vậy nông nghiệp Thái Lan
phát triển một cách toàn diện cả về trồng trọt và chăn nuôi, có sản lượng gạo và
sắn xuất khẩu nhiều nhất thế giới.
* Khuyến nông ở Trung Quốc:
Hoạt động khuyến nông ở Trung Quốc đã có từ lâu, năm 1933 trường đại
học Kim Lãng đã thành lập phân khu khuyến nông nhưng mãi đến năm 1970
nước này mới chính thức có tổ chức khuyến nông. Trong Nghị quyết của đảng
cộng sản Trung Quốc khoá VIII về “Tăng cường công tác nông nghiệp và nông
thôn” nêu rõ “phải nắm vững chiến lược KHCN và khuyến nông”, đưa ngay
sinh viên mới tốt nghiệp xuống cơ sở, chú trọng đào tạo các nông dân giỏi trở
thành khuyến nông viên. Cho tới nay Trung Quốc đã có Uỷ ban quốc gia - cục
phổ cập kỹ thuật nông nghiệp, cấp tỉnh có cục khuyến nông, dưới tỉnh có
khuyến nông phân khu, cấp cơ sở là khuyến nông thôn xã.

thực hiện chủ trương “khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao
động”. Đến tháng 12/1986 Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam đã nhìn
thẳng vào sự thật với tinh thần “đổi mới”, rút ra bài học hành động phù hợp với
quy luật khách quan để thực hiện chủ trương đổi mới cơ chế quản lý, đưa nông
nghiệp đi lên sản xuất hàng hoá.
Ngày 05/04/1988 Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 10 về “đổi mới quản lý
trong nông nghiệp”. Từ đó, nhờ việc nắm vững và thực hiện Nghị quyết 10
- 15 -
(Khoán 10) đã đem lại những tác dụng tích cực cho sản xuất. Lực lượng lao
động không ngừng tăng lên, KHCN được tạo điều kiện đi vào sản xuất, KTTB
được chuyển giao rộng rãi, công tác khuyến nông đi vào nề nếp. Khoán 10 đã
đem lại hiệu quả nhanh chóng, tạo ra một bước ngoặt mới trên mặt trận nông
nghiệp. Hộ nông dân trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, tự quyết định kết quả sản
xuất kinh doanh của mình. Vì vậy mà những đòi hỏi của hàng triệu hộ nông dân
trong cả nước về hướng dẫn kỹ thuật, về quản lý, về giống cây trồng - vật nuôi,
về chính sách khuyến khích sản xuất, về thị trường… tăng lên gấp bội. Tổ chức
và phương thức hoạt động của ngành nông nghiệp không đủ, không thoả mãn
được yêu cầu nói trên, cần có sự thay đổi và bổ sung.
Nghị định 13/CP của Chính phủ ra ngày 02/03/1993 về công tác khuyến
nông, Thông tư 02/LB/TT hướng dẫn việc tổ chức hệ thống khuyến nông và
hoạt động khuyến nông đã kịp thời đáp ứng được những đòi hỏi nói trên. Hệ
thống khuyến nông của Việt Nam chính thức được thành lập năm 1993. Ở cấp
Trung ương có cục khuyến nông (TTKNQG), cấp tỉnh có TTKN tỉnh, cấp
huyện có Trạm khuyến nông huyện, cấp xã có mạng lưới khuyến nông cơ sở.
Ngày 26/04/2005 bằng việc ban hành Nghị định 56/2005/NĐ-CP về công
tác khuyến nông, khuyến ngư thì hệ thống khuyến nông Việt Nam đã thêm một
bước được hoàn thiện cả về cơ cấu lẫn nội dung hành động. Hệ thống khuyến
nông Nhà nước đã nhanh chóng phối hợp với các cơ quan, ban ngành có liên
quan, nhất là các tổ chức quần chúng. Trong hoạt động, khuyến nông Việt Nam
đang tiếp tục đón nhận kinh nghiệm của khuyến nông các nước tiên tiến, làm

nghiệm điển hình trong sản xuất cho nông dân; (3) Bồi dưỡng kỹ thuật, rèn
luyện tay nghề và quản lý kinh tế cho CBKN cơ sở, cung cấp cho nông dân các
thông tin thị trường, giá cả nông - lâm - thuỷ sản; (4) Quan hệ với các tổ chức
trong và ngoài nước để thu hút nguồn vốn hoặc tham gia trực tiếp vào các hoạt
động khuyến nông ở địa phương; (5) Tham gia xây dựng và phổ biến cho nông
- 17 -
dân thực hiện các quy trình kỹ thuật sản xuất thâm canh cây trồng, vật nuôi,
lâm sinh, thuỷ sản; (6) Tổng kết đánh giá việc thực hiện các chương trình dự án
khuyến nông cấp tỉnh.
* Cấp huyện, thị xã có Trạm khuyến nông huyện, thị xã:
Trạm khuyến nông huyện trực thuộc phòng nông nghiệp (hoặc phòng
kinh tế) huyện, mỗi trạm có từ 5 - 7 nhân viên làm việc theo phòng ban hoặc
theo ngành sản xuất được phân công. Trạm khuyến nông huyện có nhiệm vụ
sau: (1) Đưa những KTTB theo các chương trình dự án khuyến nông, khuyến
lâm, khuyến ngư vào sản xuất đại trà trện địa bàn huyện; (2) Xây dựng các mô
hình trình diễn phục vụ cho các chương trình dự án khuyến nông, khuyến lâm,
khuyến ngư; (3) Hướng dẫn quy trình kỹ thuật cho nông - lâm - ngư dân theo
mùa vụ hoặc theo yêu cầu của sản xuất; (4) Tổ chức tham quan học tập các điển
hình tiên tiến ở trong và ngoài huyện; (5) Bồi dưỡng kỹ thuật và tập huấn
nghiệp vụ cho khuyến nông viên cơ sở và cho nông dân; (6) Xây dựng
CLBKN, nhóm nông dân sản xuất giỏi, nhóm hộ nông dân cùng sở thích; (7)
Hợp tác với các tổ chức và cá nhân thực hiện hoạt động khuyến nông.
* Cấp xã thôn thành lập mạng lưới khuyến nông cơ sở:
CBKN ở cơ sở không thuộc biên chế nhà nước, làm việc theo chế độ hợp
đồng dài hạn hoặc ngắn hạn. CBKN cơ sở thực hiện nhiệm vụ theo hợp đồng cơ
bản gồm: (1) Tự bồi dưỡng nâng cao trình độ và hiểu biết về chuyên môn,
KTXH, nghiệp vụ khuyến nông; (2) Cố vấn kỹ thuật và thông tin thị trường cho
nông dân; (3) Thực thi các dự án khyến nông trên địa bàn phụ trách; (4) Thực
hiện, tổ chức và theo dõi các mô hình sản xuất tiên tiến; (5) Điều tra thu thập
thông tin làm cơ sở cho xây dựng và triển khai dự án khuyến nông; (6) Hàng

Vai trò và chức năng của các tổ chức khuyến nông có nhiều điểm khác
biệt nhưng không mâu thuẫn với nhau thể hiện qua biểu so sánh dưới đây:
- 19 -
Vai trò và chức năng của các tổ chức khuyến nông ở Việt Nam
Tổ chức Vai trò Chức năng
Khuyến nông
Nhà nước
- Thực hiện sự quản lý của
Nhà nước
- Các chương trình của
chính phủ
- Tổ chức
- Cung cấp
- Kiểm tra
- Hoàn thiện
Viện nghiên cứu,
trường chuyên
nghiệp
- Triển khai KHKT
- Thu thập thông tin
- Thực hiện dự án phát triển
- Truyền bá
- Phát hiện vấn đề
- Hoàn thiện
Các tổ chức xã
hội
Nâng cao lợi ích của các
thành viên
- Vận động
- Thực hiện

vào sản xuất, từng bước chuyển từ sản xuất tự túc, tự cấp sang nền nông nghiệp
hàng hoá đa dạng và có hiệu quả, hướng mạnh xuất khẩu, phát triển ngành nghề
nông thôn mới, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo. Công tác khuyến nông
- 20 -
chuyển giao KTTB trong thời gian qua đã đạt được một số kết quả chủ yếu sau:
đã thực hiện tốt sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, tạo được lòng tin và hưởng
ứng của nông dân, đã thực hiện được việc chuyển giao KTTB tới nông dân theo
các chương trình khuyến nông có hiệu quả, đặc biệt trên lĩnh vực giống cây
trồng, vật nuôi có ưu thế lai, các KTTB được áp dụng thành công trong nông
nghiệp. Công tác khuyến nông góp phần duy trì được tốc độ tăng trưởng của
nông nghiệp từ 4 - 4,5%, phát triển nông sản hàng hoá, đời sống nông dân được
cải thiện đáng kể. Khâu đột phá trong chuyển giao KTTB là đưa nhiều giống
cây trồng, vật nuôi năng suất cao, chất lượng tốt vào sản xuất, áp dụng kỹ thuật
canh tác tiên tiến như quy trình bón phân hợp lý, biện pháp quản lý tổng hợp
dịch hại (IPM), quy trình phòng và trị bệnh cho vật nuôi và áp dụng công nghệ
sau thu hoạch (Nguyễn Văn Bộ, 2001). Các kết quả đó thể hiện như sau:
* Về trồng trọt, với lúa lai đã tự túc 13% giống, tập huấn cho 29.000 nông dân.
Ngô lai chiếm 65% diện tích và đạt sản lượng 1,7 triệu tấn. Phát triển được 785
ha cây ăn quả theo mô hình thâm canh. Điều đó đã góp phần làm tăng sản
lượng lương thực của cả nước từ 19,89 triệu tấn năm 1990 tới 35,85 triệu tấn
vào năm 2002.
Bảng 1: Sản lượng lương thực, lúa và ngô của Việt Nam
Năm Tổng số (Tr tấn) Lúa (Tr tấn) Ngô (Tr tấn)
1990 19,89 19,22 0,67
1991 20,29 19,62 0,672
1992 22,33 21,59 0,747
1993 23,71 22,83 0,882
1994 24,67 23,52 1,14
1995 26,14 24,96 1,177
1996 27,93 26,39 1,536

thụ nông sản. Đặc biệt là khi chúng ta đã là thành viên chính thức của tổ chức
thương mại thế giới (WTO) thì hạn chế này cần nhanh chóng được khắc phục,
cần tăng cường cho đội ngũ CBKN. Để từ đó đưa hàng nông sản của Việt Nam
đến với bạn hàng khắp nơi trên thế giới, kịp thời thích ứng với xu thế hội nhập,
đem lại lợi ích cho đất nước và cho bà con nông dân.
- 22 -
PHẦN III
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1.1. Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1. Vị trí địa lý
Yên Thế là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang, nằm ở vùng trung
du và miền núi phía Bắc, Việt Nam. Trung tâm huyện cách thủ đô Hà Nội 75
Km về hướng Đông Bắc. Hệ thống giao thông đường bộ trong huyện và nối với
các địa phương khác khá phát triển, đến nay cơ bản đã được hoàn thiện.
Yên Thế gồm 21 xã, thị trấn, có vị trí tiếp giáp với các địa phương của
tỉnh Bắc Giang và các tỉnh khác như sau:
+ Phía Đông giáp với huyện Lạng Giang - Bắc Giang
+ Phía Tây giáp huyện Hợp Tiến, Võ Nhai, Phú Bình - Thái Nguyên
+ Phía Nam giáp với huyện Tân Yên - Bắc Giang
+ Phía Bắc giáp với huyện Hữu Lũng - Lạng Sơn
Với vị trí địa lý như vậy, Yên Thế rất thuận lợi trong việc giao lưu kinh
tế với các huyện khác trong và ngoài tỉnh. Đặc biệt trên địa bàn huyện có 3 thị
trấn Cầu Gồ, Bố Hạ, và Nông Trường là 3 trung tâm tập trung dân cư đông đúc,
tiềm năng phát triển to lớn chắc chắn sẽ thúc đẩy kinh tế toàn huyện tiến bước
vững chắc trong thời gian tới.
3.1.1.2. Điều kiện thời tiết, khí hậu, thuỷ văn
Yên Thế là huyện thuộc vùng khí hậu nhiệt đới, gió mùa, nhiệt độ trung
bình hàng năm là khoảng 21-23
0

quân 3 năm giảm 1,14%. Diện tích đất nông nghiệp giảm, nguyên nhân chủ yếu
là do việc chuyển đổi mục đích sử dụng, chuyển từ SXNN sang sản xuất công
nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (CN-TTCN), vật liệu xây dựng và chuyển sang
làm đất thổ cư. Trong diện tích đất nông nghiệp thì đất trồng cây hàng năm
chiếm phần lớn (56,08% vào năm 2006) và diện tích đất này lại có xu hướng
- 24 -
giảm qua các năm, bình quân 3 năm giảm 0,32%. Nguyên nhân giảm là do một
phần diện tích đất này chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt là một số diện
tích trũng cấy một vụ không ăn chắc.
Diện tích đất trồng cây lâu năm sau một số năm đột biến tăng nhanh thì 3
năm trở lại đây đã có xu hướng giảm nhẹ. Bình quân 3 năm diện tích đất trồng
cây lâu năm của huyện giảm 0,02%. Nguyên nhân của việc giảm này là do
trước đây toàn huyện không xác định được định hướng phát triển cây Vải thiều
cũng như sức hấp dẫn của giá cả và sản lượng bán ra của quả Vải thiều là quá
lớn nên đã thực hiện phương châm “nhà nhà trồng vải, đồi đồi trồng vải”. Diện
tích trồng Vải chiếm đến trên 50% diện tích trồng cây lâu năm. Nhưng khoảng
3 - 4 năm trở lại đây Vải thiều khi được mùa lại mất giá, khi thì được giá lại bị
mất mùa, đầu ra cho quả Vải thiều Yên Thế là cực kỳ khó khăn. Chính vì vậy
không ít chủ hộ, chủ trang trại đã nản lòng với cây Vải. Họ không những không
đầu tư cho cây Vải nữa mà có một số hộ đã chặt Vải làm củi đun hàng ngày.
Đây là một cảnh báo cho chính sách phát triển cây hàng hoá không chỉ của
huyện Yên Thế mà cả nước ta cần quan tâm.
Diện tích đất dùng cho nuôi trồng thuỷ sản có xu hướng tăng lên nhưng
không đều qua các năm. Bình quân 3 năm tăng 2,05%, tập trung cho việc phát
triển diện tích ao nuôi cá thịt các loại như rôphi đơn tính, mè, chắm cỏ và nuôi
cá giống bố mẹ. Riêng diện tích đất nông nghiệp khác của huyện thì theo số
liệu thống kê chưa đầy đủ của phòng Địa chính huyện qua 3 năm là không có
nhiều thay đổi và chỉ chiếm 0,1% diện tích đất nông nghiệp.
Qua số liệu bảng 2 cho thấy, diện tích đất lâm nghiệp của huyện là khá
lớn, chiếm 48,54% tổng diện tích đất tự nhiên (năm 2006) và diện tích đất này


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status