Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh sán dây ở gà thả vườn tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 48

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LƯƠNG NGỌC THẢO

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH SÁN DÂY
Ở GÀ THẢ VƯỜN TẠI HUYỆN YÊN THẾ,
TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

Thái Nguyên - 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LƯƠNG NGỌC THẢO

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH SÁN DÂY
Ở GÀ THẢ VƯỜN TẠI HUYỆN YÊN THẾ,
TỈNH BẮC GIANG
Ngành: Thú y
Mã ngành: 60 64 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Quang

Thái Nguyên -2017

định. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn để
luận văn được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày … tháng …năm 2017
Học viên

Lương Ngọc Thảo


iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................ii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ................................................................... v
DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................vi
DANH MỤC CÁC HÌNH ................................................................................vii
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................ 1
2. Mục đích của đề tài ................................................................................... 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài .................................................. 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................. 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài ...................................................................... 4
1.1.1. Thành phần loài và đặc điểm sinh học của các loài sán dây ký
sinh ở gà ...................................................................................................... 4
1.1.2. Dịch tễ học của bệnh sán dây gà ..................................................... 11
1.1.3. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh sán dây gà ............................. 12
1.1.4. Chẩn đoán bệnh sán dây gà ............................................................ 14
1.1.5. Điều trị và phòng bệnh sán dây gà.................................................. 14

tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. ............................................................ 31
3.1.1. Tình hình nhiễm sán dây ở gà thả vườn của huyện Yên
Thế, tỉnh Bắc Giang ................................................................................ 31
3.2. Nghiên cứu bệnh lý, lâm sàng của bệnh sán dây gà ............................ 47
3.2.1. Nghiên cứu bệnh lý, lâm sàng của gà bị bệnh sán dây ở các xã, thị
trấn ............................................................................................................. 47
3.3. Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh sán dây cho gà thả vườn .......... 56
3.3.1. Xác định hiệu lực của 2 loại thuốc tẩy sán dây cho gà ................... 56
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................................ 64
1. Kết luận ................................................................................................... 64
2. Đề nghị .................................................................................................... 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 66


v

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

cs:

Cộng sự

Nxb:

Nhà xuất bản

Kg:

Ki lô gam



vi

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây ở gà thả vườn (qua xét nghiệm phân) ........ 31
Bảng 3.2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây ở gà thả vườn (qua mổ khám) ......... 36
Bảng 3.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây theo tuổi gà (qua xét nghiệm phân) ........ 38
Bảng 3.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây theo tuổi gà (qua mổ khám) ...... 39
Bảng 3.5. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây ở gà thả vườn theo mùa (qua
xét nghiệm phân) .............................................................................. 42
Bảng 3.6. Sự ô nhiễm đốt và trứng sán dây ở nền chuồng, xung quanh
chuồng và vườn chăn thả gà ............................................................. 45
Bảng 3.7. Tỷ lệ gà nhiễm sán dây có triệu chứng lâm sàng ............................ 47
Bảng 3.8. Sự thải đốt sán dây ở các khoảng thời gian trong ngày theo mùa ........ 49
Bảng 3.9. Tổn thương đại thể và số lượng sán dây ký sinh ở gà bị bệnh ........ 51
Bảng 3.10. Tỷ lệ tiêu bản của gà bị bệnh sán dây có tổn thương vi thể .......... 53
Bảng 3.12. Thử nghiệm thuốc niclosamide tẩy sán dây cho gà....................... 58
Bảng 3.13. Hiệu lực của thuốc tẩy sán dây cho gà trên diện rộng ................... 60
Bảng 3.14. Sử dụng thuốc praziquantel tẩy đại trà cho gà nhiễm sán dây ...... 62


vii

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán dây ở gà tại 5 xã của huyện Yên Thế ................ 32
Hình 3.2: Biểu đồ cường độ nhiễm sán dây ở gà tại 5 xã của huyện Yên Thế ........ 33
Hình 3.3: Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán dây ở gà thả vườn tại 5 xã của huyện
Yên Thế .......................................................................................................... 36
Hình 3.4: Biểu đồ cường độ nhiễm sán dây ở gà thả vườn tại 5 xã của huyện
Yên Thế........................................................................................................... 37

khác phát sinh.
Theo số liệu của tổng cục thống kê ngày 1 tháng 4 năm 2017, tổng đàn
gia cầm đạt 361,173 triệu con, tăng 19,821 triệu con so với năm 2016 trong
đó tổng đàn gà chiếm 76,32% so với tổng đàn gia cầm. Trong đó tỉnh Bắc
Giang đạt 14,681 triệu con, tăng 0,255 triệu con so năm 2016, chiếm 4,07%
trên tổng đàn. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2008) [2] đã định
hướng trong chiến lược phát triển chăn nuôi: đàn gia cầm nước ta phấn đấu
tăng bình quân 5%/năm, đến năm 2020 có trên 300 triệu con, trong đó gà nuôi
công nghiệp chiếm khoảng 33%. Như vậy, ở thời điểm hiện nay cũng như


2
nh hng n nm 2020, g th vn vn chim u th v chn nuụi g cú
xu hng phỏt trin theo hng thõm canh cụng nghip, cú kh nng ỏp ng
nhanh v tht v trng cho nhu cu ca ngi tiờu dựng.
Bnh sỏn dõy l mt bnh ký sinh trựng ng rut khỏ ph bin
g.Khi ký sinh trong ng tiờu hoỏ, sỏn dõy chim ot cỏc cht dinh dng
ca g, lm g gy yu, thiu mỏu, th hin rừ nht l niờm mc vng, nht
nht, mo v dỏi tai g xanh tỏi. G th khú, do ú thng vn cao c
th. Sỏn dõy gõy ra cỏc tỏc ng c hc trong rut ca g: niờm mc rut b
tn thng do cỏc múc bỏm ca sỏn, gõy viờm rut th phỏt v xut huyt. G
a lng, phõn cú ln mỏu. G con b nhim sỏn dõy thng th hin viờm rut
cp v cht vi t l cao. Trong quỏ trỡnh ký sinh, sỏn dõy cng tit ra c t
tỏc ng n h thn kinh, lm cho g mt mi, ớt vn ng, ng r trong
búng ti. G con b bnh th cp tớnh cú th b n, hụn mờ, lờn cn ng kinh
v cht (dn theo Phm S Lng v Phan ch Lõn, 2002) [11].
Yờn Th l mt huyn min nỳi ca tnh Bc Giang. Trong những năm
gần đây, chăn nuôi gà ở tnh Bc Giang phát triển khỏ mạnh, c bit l chn
nuụi g th vn ti huyn Yờn Th. Tuy nhiên, việc phòng trị bệnh ký sinh
trùng, đặc biệt là bệnh do sán dây cho g th vn còn ít đ-ợc chú ý do ú

ra phổ biến ở các đàn gà nuôi của nước ta và nhiều nước trên thế giới. Sán dây
ký sinh ở ruột non và ruột già, dùng giác bám bám vào niêm mạc ruột gây tổn
thương. Nếu nhiều sán sẽ làm tắc ruột, thủng ruột, viêm xoang bụng. Sán dây
lấy dưỡng chất của gà làm gà gầy yếu, còi cọc và có thể chết nếu mắc bệnh nặng.
Sán dây ở gà là 1 trong 4 lớp (Mononenea, Trematoda, Cestoda, Mesozoa)
của ngành này, chỉ có các đại diện có đời sống ký sinh, không có các đại diện
sống tự do. Chúng ký sinh ở tất cả các lớp của động vật có xương sống: chim,
thú, bò sát, ếch nhái. Cho đến nay, trên thế giới đã phát hiện được trên ba ngàn
loài sán dây, ở Việt Nam đã phát hiện được 148 loài sán dây ký sinh ở người và
động vật Nguyễn Thị Kỳ (2003) [7].
1.1.1. Thành phần loài và đặc điểm sinh học của các loài sán dây ký sinh ở gà
1.1.1.1. Thµnh phÇn loµi s¸n d©y ký sinh ë gµ
Theo Nguyễn Thị Kỳ (chuyên gia lớn nhất nghiên cứu về sán dây ở Việt
Nam) đưa ra danh sách 12 loài sán dây ký sinh ở gà Việt Nam và cũng theo
Phan Thế Việt (1977) [24]. Đến năm 1996, Nguyễn Thị Kỳ đã phát hiện và bổ
sung thêm 6 loài sán dây ký sinh ở gà nước ta, đưa tổng số loài sán dây ký
sinh ở gà Việt Nam lên 18 loài. Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [12]. Tuy nhiên,
sau một thời gian dài nghiên cứu tu chỉnh phần sán dây trong chương trình
động vật chí Việt Nam (1998 - 2003), Nguyễn Thị Kỳ đã bỏ loài
Microsomacanthus pavula do không có mẫu chuẩn và tài liệu thiếu chính xác
Nguyễn Thị Kỳ (2003) [7].


5
Như vậy, cho tới nay, có 17 loài sán dây ký sinh ở gà Việt Nam, thuộc 1 bộ,
2 phân bộ, 3 họ và 8 giống. Nguyễn Thị Kỳ (2003) [7], gồm: thµnh phÇn loµi s¸n
d©y ký sinh ë gµ gåm:
Gièng

Loµi

Neyra, 1942
Staphylepis Spassky et

Staphylepis cantaniana (Polonio, 1960)

Oschmarin, 1954
Orientolepis Spassky et

Orientolepis exigua (Yoshida, 1910)

Jurpalova, 1964
AmoebotaniaCohn, 1900

Amoebotania cuneata (Linstow, 1872)

Theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [6], các loài sán dây ký sinh ở gà đã tìm thấy
ở Việt Nam là: Cotugnia digonopora, Davainea proglottina, Raillietina
echinobothrida, R. georgiensis, R. penetrans, R. peradenica nova, R.
peradenica, R. tetragona, R. volzi,


6

R. macassariensis, R. tinguiana, R. cesticillus.
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [8], Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân
(2002) [11] cho biết, sán dây thường gặp ở gà gồm những loài chính là:
Raillietina tetragona, R. echinobothrida, R. cesticillus, Cotugnia digonopora,
Davainea proglottina. Trong đó, có 3 loài nhiễm phổ biến ở gà là: R.
echinobothrida; R. tetragona và R. cesticillus.
1.1.1.2. Đặc điểm sinh học của các loài sán dây gây bệnh

nối với nhau ở phần đầu.
Ngoài ra, ở mỗi đốt các ống trái và phải nối với nhau bằng cầu nối ngang.
Hầu hết các loài sán dây có hệ sinh dục lưỡng tính. Mỗi đốt có một, hai cơ quan
sinh dục đực và cái. Sự phát triển của hệ sinh dục theo một thứ tự nhất định: ở các
đốt non, cơ quan sinh dục chưa phát triển; sau đó hình thành cơ quan sinh dục đực
rồi đến cơ quan sinh dục cái. Sau khi thụ tinh, hệ sinh dục đực teo dần còn lại bộ
phận sinh dục cái.
Ở các đốt già, trứng chứa đầy trong tử cung. Hệ sinh dục đực gồm tinh hoàn,
ống dẫn tinh. Số lượng tinh hoàn có thể rất khác nhau từ một đến vài trăm. Mỗi tinh
hoàn có ống dẫn đổ vào ống dẫn tinh chung, hoặc thẳng, hoặc cong và cuối cùng
mở ra ở huyệt sinh dục (bên cạnh lỗ sinh dục cái). Phần cuối ống dẫn tinh là cơ
quan giao phối (nang lông gai) chứa gai giao phối phủ các gai nhỏ hoặc vảy. Trước
gai giao phối, ống dẫn tinh phình rộng tạo thành túi chứa tinh. Có thể có túi chứa
tinh ngoài (ở ngoài túi giao phối) và túi chứa tinh trong (nằm trong túi giao phối).
Hệ sinh dục cái có cấu tạo phức tạp hơn, gồm có buồng trứng, ống dẫn trứng,
ootyp, tuyến noãn hoàng, túi nhận tinh, tuyến vò (thể Mehlis) và tử cung, thường có
hai buồng trứng nằm giữa hoặc phía sau đốt sinh dục, ít khi ở phía trước. Trong
buồng trứng hình thành các tế bào sinh dục cái (tế bào trứng). Từ buồng trứng có
ống nối với âm đạo, mở ra ở huyệt sinh dục. Ống này phình rộng ra gọi là
túi nhận tinh. Trứng thụ tinh được đưa vào ootyp. Tuyến noãn hoàng gồm


8
nhiều bao noãn bé nằm trong nhu mô hoặc thành khối nằm hai bên đốt
hoặc phía sau buồng trứng. Từ tuyến noãn hoàng các chất dinh dưỡng đổ
vào ootyp giúp cho việc hình thành trứng.
- Loài Raillietina echinobothrida: Ký sinh ở ruột non của các loài vật
chủ là gà nhà, gà tây, gà rừng, chim bồ câu và các loài chim khác thuộc bộ gà
(Gallifomes).
Hình thái: Dài 250 mm; rộng 1,2 - 4 mm; trứng: 93 x 74 . Đầu có 4 giác

của R. cesticillus tương tự như R. tetragona nhưng các lỗ sinh dục không nằm
về một phía, mà ở tất cả các đốt và nằm so le. Tử cung ở tất cả các đốt trưởng
thành cũng nằm trong lớp vỏ có nhiễm túi trứng nhưng trong mỗi túi chỉ có
một trứng.
Vòng đời: Vòng đời có sự tham gia của vật chủ trung gian là 19 loài bọ
hung (Coleoptere) thuộc các giống Geotrupes, Carabus, Broscus, Panagatus,
Ophnus, Tenebrria, Aphodius, Plastysm và Oryctes. Các loài bọ hung ăn phải
trứng sán ở môi trường tự nhiên. Trứng sán sẽ phát triển qua các giai đoạn trở
thành ấu trùng cảm nhiễm. Gà ăn phải vật chủ trung gian chứa ấu trùng sẽ bị
nhiễm sán.
- Loài Davainea proglottina: Ký sinh ở ruột non của các loài vật chủ là:
Gà nhà, gà tây, gà rừng, chim bồ câu và các loài chim khác thuộc bộ gà
(Gallifomes).
Hình thái: Dài 0,5 - 3 mm, rộng 0,18 - 0,6 mm, chỉ có 4 - 9 đốt. Đầu nhỏ.
Trên mõm có 60 - 95 móc. Trên giác bám có móc. Lỗ sinh dục ở nửa trước
đốt sán. Túi dương vật dài bằng 2/3 chiều ngang đốt sán. Có 12 - 15 tinh
hoàn, xếp 2 hàng ở nửa sau đốt sán, trứng sán rải rác trong đốt. Đường kính trứng
0,035 - 0,04 mm.
Vòng đời: Ký chủ trung gian là nhuyễn thể trên cạn (ốc cạn). Vòng đời
bắt đầu từ khi đốt sán chửa rụng theo phân ra ngoài, vỡ ra, giải phóng trứng


10
sán. Ký chủ trung gian nuốt phải trứng sán, vào đến ruột, ấu trùng 6 móc nở
ra, chui vào cơ thể ký chủ trung gian và phát triển thành ấu trùng gây bệnh
Cysticercoid. Gà ăn phải vật chủ trung gian chứa ấu trùng sẽ bị nhiễm sán.
Thời gian phát triển ở ký chủ trung gian là 14 - 16 ngày (mùa hè) và 66
ngày (mùa đông) đối với ký chủ trung gian là côn trùng cánh cứng; 20 - 22
ngày với ký chủ trung gian là nhuyễn thể trên cạn.
Thời gian hoàn thành vòng đời tuỳ loại sán dây: R. tetragona và

ngắn, trừ những đốt cuối cùng. Cơ quan sinh dục kép, tuyến sinh dục rất gần
mép đốt. Tinh hoàn ở vùng giữa đốt, không vượt ra ngoài ống bài tiết bên,
hoặc có thể xếp thành hai nhóm. Trứng chứa trong các nang nhu mô và mỗi
nang chỉ có một trứng, phân bố rải rác trong đốt (Đặng Ngọc Thanh và cs,
2008) [16]. Theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [5], Nguyễn Thị Lê và cs (1996)
[12], Đặng Ngọc Thanh và cs (2008) [16]: Loài Cotugnia digonopora: ký sinh
ở ruột của gà. Sán dài 22 - 107 mm, rộng 1 - 4 mm, kích thước đầu 0,66 x
1,07 mm. Kích thước vòi 1,12 x 1,40 mm.
Giác bám có kích thước 0,36 x 0,25 mm. Cổ ngắn, cơ quan sinh dục kép.
Có gần 100 tinh hoàn. Nang lông gai dài 0,3 mm, hẹp, có gai nhỏ. Buồng
trứng phân thuỳ. Trứng hình bầu dục, kích thước 0,063 x 0,058 mm.
1.1.2. Dịch tễ học của bệnh sán dây gà
Đã có một số tác giả đề cập đến đặc điểm dịch tễ học các bệnh do sán
dây gây ra. Tuy nhiên, các nghiên cứu này còn ít và chưa hệ thống nên
chưa phản ánh đầy đủ những vấn đề liên quan đến sự phát sinh và phát triển
của bệnh.
Đóng vai trò tàng trữ và truyền bá ấu trùng sán dây Raillietina spp trong
tự nhiên là một số loài kiến Pheidole spp, Tetramorium spp, ruồi nhà Musca


12
domestica và các loài bọ hung. Trong điều kiện nóng ẩm ở nước ta, các loài
kiến, bọ hung và ruồi nhà có thể hoạt động quanh năm, ăn trứng sán và trứng
sán phát triển thành ấu trùng. Gà ăn phải các vật chủ trung gian có mang ấu
trùng sán sẽ bị nhiễm sán. Do vậy, sự lây truyền bệnh sán dây cũng diễn ra
quanh năm; nhưng tập trung vào các tháng có thời tiết nóng và ẩm ướt, từ
cuối mùa xuân đến đầu mùa thu. Thời gian này, điều kiện sinh thái phù hợp
cho các loài kiến, bọ hung và ruồi nhà phát triển. Đó chính là mùa hoạt động
và truyền bá nhiều loại mầm bệnh của những loài côn trùng này, trong đó có
ấu trùng sán dây (Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân 2002) [11].

của sán. Trong khi ký sinh, sán tiết ra chất độc làm gà bị độc. Sán dây lấy
dinh dưỡng của ký chủ làm gà gầy yếu, còi cọc.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [8], Phạm Sỹ Lăng và Phan
Địch Lân (2002) [11] cho biết: 3 loài sán dây thường gặp ở gà là R.
echinobothrida; R. tetragona và R. cesticillus đều gây ra trạng thái bệnh
đường tiêu hoá tương tự ở gà, nhưng loài R. echinobothrida có tác động gây
bệnh mạnh nhất.
Kết quả điều tra về tình hình nhiễm giun sán của gà tại một số điểm
thuộc huyện Từ Liêm (Hà Nội) cho thấy: cường độ nhiễm sán dây của gà từ
20 - 35 Raillietina spp/gà. Với số lượng lớn sống ký sinh trong ống tiêu hoá
của gà, sán dây chiếm đoạt chất dinh dưỡng của gà, làm gà gầy yếu, thiếu
máu, thể hiện rõ nhất là niêm mạc vàng, nhợt nhạt, mào và dái tai gà xanh
tái. Gà thở khó, do đó thường vươn cao cổ. Gà bị nhiễm sán nặng sẽ giảm
tăng trọng rõ rệt đối với gà nuôi thịt và giảm sản lượng trứng đối với gà đẻ.
Trong thời gian bị bệnh gà ăn uống kém hơn so với gà khoẻ.
Sán gây ra các tác động cơ học trong ruột non của gà, thể hiện: niêm mạc
ruột bị tổn thương do các móc bám của sán, gây viêm ruột thứ phát và xuất
huyết. Gà ỉa lỏng, phân có lẫn máu. Gà con bị nhiễm sán thường thể hiện
viêm ruột cấp và chết với tỷ lệ cao. Trong quá trình ký sinh, sán dây tiết ra


14
độc tố tác động đến hệ thần kinh, làm cho gà mệt mỏi, ít vận động, thích đứng
ủ rũ trong bóng tối. Gà con bị bệnh thể cấp tính có thể bỏ ăn, hôn mê, lên cơn
động kinh và chết.
Bệnh chỉ phát thành triệu chứng nếu gà có nhiều sán ký sinh: con vật gầy
dần, rối loạn tiêu hoá, kiết lỵ (đi ít nhưng đi thường xuyên, có đốt sán ra
theo), gà ăn ít, khát nước, ủ rũ, gục đầu dưới cánh, cánh sã, lông dựng. Có khi
liệt chân và lên cơn như động kinh. Niêm mạc nhợt nhạt. Gà mái đẻ ít hoặc
không đẻ. Mổ khám thấy niêm mạc ruột bị viêm, phủ chất nhờn đặc, đỏ hoặc

không tan trong nước. Liều dùng 60 ppm trộn với thức ăn, cho gà ăn liên tục 7
ngày. Thuốc an toàn và tỷ lệ sạch sán 90 - 95%.
- Oxfendazole: Dạng bột hoặc viên nén, dùng liều 10 mg/kg thể trọng gà.
Thuốc an toàn, tỷ lệ sạch sán 90 - 95%.
- Febentel: Dạng bột hoặc viên nén, dùng liều 30 mg/kg thể trọng. Thuốc
an toàn, tỷ lệ sạch sán 90 - 95%.
1.1.5.2. Phòng bệnh
Những công trình nghiên cứu ở trên cho thấy: có nhiều loại thuốc điều trị
bệnh sán dây gà. Tuy nhiên, theo quan điểm của Skrjabin (1944), muốn diệt
trừ bệnh giun sán thì phải dự phòng có tính chất chủ động: Dùng tất cả các
phương sách cơ giới, vật lý (ánh sáng, nhiệt độ), hoá học (thuốc), sinh vật học
(sinh vật nọ tiêu diệt sinh vật kia) để tiêu diệt giun sán trên cơ thể ký chủ, tiêu
diệt giun sán ở ngoại cảnh, tiêu diệt giun sán ở tất cả các giai đoạn phát dục
(trứng, ấu trùng, giun sán trưởng thành)
Điều trị bệnh giun, sán cho gia súc nói chung là chữa cho gia súc khỏi
bệnh, diệt được ký sinh trùng trong cơ thể là loại trừ được một con vật mang


16
ký sinh trùng, loại trừ được một nguồn gieo rắc bệnh. Như vậy, đối với con
vật mắc bệnh là điều trị, nhưng đối với con vật khác lại là đề phòng. Vì vậy,
phòng và trị bệnh giun, sán là hai vấn đề nhưng lại hoà quyện với nhau, hỗ trợ
lẫn nhau để đi đến mục đích cuối cùng là diệt trừ bệnh giun sán.
Trên cơ sở đó, việc phòng trị bệnh giun, sán nói chung phải đạt được các
yêu cầu sau:
- Điều trị cho con vật ốm khỏi bệnh và đảm bảo cho ngoại cảnh
không bị nhiễm mầm bệnh giun, sán tránh mầm bệnh nhiễm vào các con
vật khác. Sau khi tẩy phải diệt trừ tất cả giun, sán và trứng được thải ra
ngoài để ngăn ngừa mầm bệnh phân tán. Thời gian điều trị tốt nhất là lúc
giun, sán chưa trưởng thành, chưa kịp đẻ trứng;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status