ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRƢƠNG THỊ XUÂN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH ĐẦU ĐEN
DO ĐƠN BÀO HISTOMONAS MELEAGRIDIS
GÂY RA Ở GÀ TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Thú y
Mã số: 62 64 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS. TS. Nguyễn Thị Kim Lan
Thái Nguyên, năm 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
/>
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chúng tôi. Các kết quả
nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng để bảo vệ
một học vị nào. Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn.
Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Trương Thị Xuân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
/>
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ....................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................ ii
MỤC LỤC ................................................................................................................. iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT...................................................................................v
DANH MỤC CÁC BẢNG........................................................................................ vi
DANH MỤC CÁC HÌNH ........................................................................................ vii
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ......................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu ...........................................................................................2
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn ..............................................................2
3.1. Ý nghĩa khoa học..........................................................................................2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn ..........................................................................................2
4. Những đóng góp mới của đề tài ..........................................................................2
Chƣơng 1:TỔNG QUAN TÀI LIỆU .......................................................................3
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài ................................................................................3
1.1.1. Đặc điểm của đơn bào H. meleagridis ký sinh ở gia cầm .........................3
1.1.2. Bệnh đầu đen ở gà (Histomonosis) .........................................................10
1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước ....................................................20
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước ............................................................20
1.2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ..........................................................22
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ......................................................................................................33
3.2. Nghiên cứu bệnh đầu đen do H. meleagridis gây ra ở gà tại Thái Nguyên...59
3.2.1. Triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh đầu đen tại tỉnh Thái Nguyên ......59
3.2.2. Bệnh tích của gà bị bệnh đầu đen ở các địa phương ...............................60
3.3. Nghiên cứu biện pháp phòng chống bệnh đầu đen cho gà ............................63
3.3.1. Thử nghiệm hiệu lực của một số thuốc điều trị bệnh đầu đen ...............63
3.3.2. Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh đầu đen cho gà ............................66
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .....................................................................................68
1. Kết luận .............................................................................................................68
2. Đề nghị ..............................................................................................................69
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................70
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
/>
v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
cm
:
Centimet
cs.
:
Cộng sự
pp.
:
Plural page
spp.
:
species pluralis
tr.
:
Trang
μm
:
Micromet
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
/>
vi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
/>
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngành chăn nuôi nước ta đã và đang chiếm một vị trí quan trọng trong sản
xuất nông nghiệp nói riêng và trong cơ cấu nền kinh tế nói chung. Chăn nuôi với
nhiều phương thức phong phú và đa dạng đã góp phần giải quyết việc làm, nâng cao
thu nhập cho người dân, tạo ra các sản phẩm có giá trị cao, phù hợp với thị hiếu
người tiêu dùng.
Theo số liệu của Tổng Cục thống kê, tổng đàn gia cầm tại thời điểm 01/4/2013
là 314,4 triệu con, tăng 1,2% so với năm 2012. Trong đó, chăn nuôi gà thả vườn
khoảng 80 %.
Việt Nam là nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm có khu hệ ký
sinh trùng phong phú với nhiều giống, loài ký sinh gây bệnh cho gia súc, gia cầm.
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi, có nhiều địa phương đang phát triển mạnh nghề
chăn nuôi gà. Tuy nhiên, do tập quán chăn nuôi gà nhỏ lẻ, tận dụng nguồn thức ăn
trong tự nhiên nên tạo điều kiện thuận lợi cho các bệnh ký sinh trùng nói chung và
bệnh giun kim ở gà nói riêng phát triển, kéo theo sự phát triển của bệnh do đơn bào
Histomonas meleagridis gây ra. Bệnh do đơn bào Histomonas meleagridis (bệnh
đầu đen) ở gà hiện nay đã xuất hiện ở nhiều địa phương, đặc biệt là ở các địa
phương có ngành chăn nuôi gà và gà tây theo lối tập trung công nghiệp. Bệnh gây
tác hại đáng kể đối với chăn nuôi gà tại các địa phương và làm giảm hiệu quả kinh
tế trong chăn nuôi.
Bệnh đầu đen là một bệnh ký sinh trùng nguy hiểm ở gà và gà tây do đơn bào
Histomonas meleagridis gây ra. Bệnh gây ra những biểu hiện bất thường ở da vùng đầu,
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng
quy trình phòng, trị bệnh đầu đen cho gà nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm và thiệt hại do
bệnh đầu đen gây ra; góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn
nuôi phát triển.
4. Những đóng góp mới của đề tài
- Là công trình nghiên cứu tương đối hệ thống về đặc điểm dịch tễ, bệnh
học và biện pháp phòng trị bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas meleagridis
gây ra ở gà.
- Xây dựng quy trình phòng, trị bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas
meleagridis gây ra ở gà có hiệu quả, khuyến cáo và áp dụng rộng rãi tại các nông hộ,
các trang trại chăn nuôi gà.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
/>
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Bệnh đầu đen (Histomonosis) là một bệnh ký sinh trùng nguy hiểm ở gà và gà
tây do một loại đơn bào có tên khoa học là Histomonas meleagridis (H. meleagridis)
gây ra. Đơn bào H. meleagridis ký sinh chủ yếu trong manh tràng và nhu mô gan,
gây viêm xuất huyết, hoại tử, tăng sinh ở manh tràng và gan, làm cho thể trạng của
gà suy yếu, da vùng đầu và mào tích thâm đen nên từ bệnh có tên là bệnh đầu đen
(Black head). Cũng vì các biến đổi đặc trưng tập trung song hành ở gan và manh
Cụ thể hình dạng của Histomonas meleagridis biến đổi theo các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Khi Histomonas meleagridis tồn tại ở dạng tiềm tàng, ít hoạt
động, trong trứng của giun kim (Heterakis gallinarum) Histomonas meleagridis có
hình cầu hoặc hình trứng.
Giai đoạn 2: Khi Histomonas meleagridis xâm nhập vào cơ thể gà và chuyển
sang giai đoạn xâm lấn tới các khu vực ngoại vi thì chúng bắt đầu chuyển dần từ
dạng hình cầu sang dạng hình gần tròn, có kích thước 8 – 17 µm. Các đơn bào
Histomonas meleagridis bắt đầu mọc thêm các roi hút ở đầu khi đó cơ thể của
H.meliagridis chia làm hai phần: phần roi dài 6 – 11 µm và phần nhân tế bào gồm
một nhân có đường kính 1,7 - 2,2 µm. Nhờ có roi hút và nguồn dinh dưỡng dồi dào
là máu gà nên số lượng Histomonas meleagridis được nhân lên nhanh chóng.
Giai đoạn 3: Ở giai đoạn cuối, gà mắc bệnh mất nhiều máu nên số lượng hồng
cầu giảm nghiêm trọng dẫn tới dinh dưỡng của đơn bào H. meliagridis bị thiếu,
chúng phải tìm các vị trí ký sinh mới như khu vực phần đầu. Tại đây, chúng gây
chết các tế bào xung quanh hoặc chúng sẽ tìm đến vật chủ ký sinh mới phù hợp có
sẵn trong cơ thể gà là giun kim (Heterakis gallirum), đồng thời một số Histomonas
meleagridis bị đào thải ra ngoài theo phân gà. Vì vậy, để thích nghi với những điều
kiện mới này bắt buộc các đơn bào Histomonas meleagridis phải chuyển sang hình
thái mới, đó là chuyển từ dạng hoạt động sang dạng tồn tại tiềm ẩn và cụ thể là từ
dạng hình gần tròn có roi sang dạng hình cầu hoặc hình trứng.
Histomonas meleagridis có thể nuôi cấy nhân tạo trong các môi trường yếm khí.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
/>
5
Nghiên cứu về cấu tạo của đơn bào Histomonas meleagridis, các nhà khoa học
cho biết, theo thứ tự từ ngoài vào trong, cấu tạo của một đơn bào Histomonas
meleagridis gồm 3 phần là màng, tế bào chất và nhân.
6
Theo Hess M. và cs. (2006) [34], bệnh đầu đen xảy ra dễ dàng khi lỗ huyệt của
gà khỏe tiếp xúc với mầm bệnh. Ngay sau khi tiếp xúc, đơn bào H. meleagridis sẽ
di chuyển ngược theo nhu động ruột vào ký sinh ở manh tràng. Với đường truyền
lây này, Histomonosis sẽ lây lan nhanh chóng từ gà khỏe sang gà bệnh.
Như vậy, gà có thể nhiễm bệnh đầu đen khi tiếp xúc với mầm bệnh qua đường
miệng và qua lỗ huyệt. Do ảnh hưởng của độ pH trong dạ dày gà là axit nên tỷ lệ
nhiễm bệnh không cao khi gây nhiễm qua đường miệng. Bệnh đầu đen có thể xảy ra
bất cứ khi nào lỗ huyệt của gà khỏe tiếp xúc với phân tươi mang mầm bệnh. Ngay
sau khi tiếp xúc với phân tươi của gà bệnh, Histomonas meleagridis sẽ di chuyển
ngược theo nhu động ruột vào ký sinh ở manh tràng và gan.
* Bệnh truyền gián tiếp qua giun kim
+ Giun kim và bệnh do giun kim gây ra ở gà
- Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun kim (Heterakis spp.)
Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (1999) [3] cho biết: Bệnh do Heterakis spp.
thường do hai loài H. gallinae và H. beramporia ký sinh ở manh tràng, có khi ở ruột
non của gà, gà tây.
Giun màu vàng nhạt, đầu có 3 môi (1 môi ở lưng và 2 môi ở bụng), túi miệng
hình ống. Phần sau thực quản phình to thành hình cầu giống hình củ hành, chiều dài
0,27 - 0,33 mm, rộng 0,15 - 0,24 mm.
- Heterakis gallinae:
Giun đực: dài 5,841 - 11,145 mm, chỗ rộng nhất 0,271 - 0,398 mm. Đuôi nhọn
hình chiếc kim. Phía trước cách hậu môn 0,148 - 0,156 mm có một giác hút hơi tròn,
đường kính 0,07 - 0,082 mm. Có gai chồi xếp thành từng đôi ở hai bên giác hút. Có 2
gai giao hợp, gai phải dài gấp 3 lần gai trái; phía cuối gai phải rất nhọn, dài khoảng 2
mm; gai trái to, dài 0,65 - 0,7 mm. Lỗ bài tiết ở gần đầu về mặt bụng, cách đầu
khoảng 0,254 mm.
Giun cái: dài 7,982 - 11,439 mm, chỗ rộng nhất 0,27 - 0,453 mm, chiều dài
ngoài trong thời gian 6 - 17 ngày, hoặc hơn nữa, tuỳ thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm.
Sự phát triển của trứng H. gallinarum đến giai đoạn cảm nhiễm ở nhiệt độ 30 - 37oC
trong vòng 6 - 7 ngày, ở nhiệt độ 20 - 27oC trong 10 - 15 ngày và 10 - 15oC là 72
ngày. Ấu trùng lột xác trong trứng một lần, sau đó trứng chứa ấu phát triển thành
trứng có sức gây bệnh. Mùa đông trứng không phát triển nhưng vẫn duy trì khả
năng sống. Đến mùa xuân, thời tiết ấm áp, những trứng sống được qua mùa đông lại
phát triển thành trứng cảm nhiễm và có thể là nguồn gây bệnh. Gà, gà tây mắc bệnh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
/>
8
là do ăn phải trứng H. gallinarum có sức gây bệnh. Sau 1 - 2 giờ xâm nhập vào
đường tiêu hoá, ấu trùng chui ra khỏi trứng xuống manh tràng. Ở manh tràng, ấu
trùng chui vào thành ruột, sau 5 - 7 ngày chúng lại trở lại xoang ruột. Thời gian phát
triển của chúng đến giai đoạn trưởng thành trong cơ thể là 25 - 34 ngày, thời gian
sống của giun không quá 1 năm.
Phan Lục và cs. (2006) [8] cho biết, thời gian trứng phát triển đến giai đoạn gây
nhiễm có thể kéo dài khoảng 1 tuần (mùa hè), mùa đông nhiệt độ thấp nên mất
khoảng 2 - 4 tuần. Bệnh phát triển và lây lan mạnh chủ yếu là do gà ăn phải trứng
giun có sức gây bệnh. Gà mắc bệnh khoảng 1 tháng sau khi nuốt phải mầm bệnh.
- Bệnh giun kim (Heterakiosis)
Phạm Sỹ Lăng và cs. (2001) [5] cho biết: Giun kim Heterakis gallinarum ở cả
hai dạng trưởng thành và ấu trùng có tác hại rất lớn đối với vật chủ. Giun kim ký
sinh ở manh tràng, gây tụ huyết, xuất huyết, chiếm đoạt chất dinh dưỡng, tiết độc tố
đầu độc vật chủ làm cho vật chủ gầy yếu, còi cọc, chậm lớn và giảm sức đề kháng.
Trong quá trình ký sinh, giun bám vào niêm mạc ruột làm cho niêm mạc ruột bị tổn
thương, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh, từ đó gà dễ bị nhiễm
Lumbricidae. Giun phân đốt bên ngoài, bên trong cơ thể cũng chia thành từng đốt
tương ứng, ngăn cách gần như những phần độc lập. Số lượng đốt biến thiên từ 110 180 đốt. Giun đất di chuyển nhờ các sợi tơ ngắn hai bên thân.
Giun đất là ký chủ dự trữ của Heterakis, do đó cũng đóng vai trò quan trọng
trong truyền tải bệnh đầu đen. Gà có thể mắc bệnh đầu đen khi ăn phải giun đất có
chứa trứng giun kim nhiễm đơn bào Histomonas meleagridis. Đơn bào Histomonas
meleagridis có thể tồn tại hơn 1 năm cùng trứng giun kim trong cơ thể giun đất. Sau
khi gà và gà tây nuốt phải giun đất nhiễm mầm bệnh, ấu trùng giun kim ở ra sẽ di
hành xuống manh tràng, đồng thời các đơn bào Histomonas meleagridis cũng được
giải phóng và gây bệnh.
1.1.1.4. Vòng đời của Histomonas meleagridis
Lê Văn Năm (2010) [9] đã tóm tắt vòng đời phát triển của đơn bào
Histomonas meleagridis như sau:
Trong mô tổ chức của ký chủ (gà ta và gà tây), Histomonas meleagridis sinh sản
theo phương thức tự phân đôi và sinh sản mạnh nhất ở giai đoạn thể lưới (Incistio) hay
thể hợp bào. Khi theo phân ra khỏi ký chủ, ở thể hình roi và thể amip chúng chỉ sống
được trong vòng 24 giờ, trong khi đó ở thể lưới chúng có thể tồn tại hàng năm trong
các trứng của giun kim Heterakis gallinarum. Do đó gà bị nhiễm bệnh khi ăn thức ăn,
nước uống bị nhiễm trứng giun kim Heterakis gallinarum có chứa thể hợp bào
Histomonas meleagridis.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
/>
10
Tại khu vực nuôi gà mắc bệnh, giun đất trở thành vật chủ chứa trứng giun kim
Heterakis gallinarum. Do đó, trứng Heterakis gallinarum và đơn bào Histomonas
meleagridis sẽ tồn tại khá lâu ngoài ngoại cảnh.
Khi gà và gà tây ăn giun đất, trứng Heterakis gallinarum vào đường tiêu hóa,
có ngành chăn nuôi gà tây và gà ta thả vườn và tập trung công nghiệp (Mc Dougald,
2005 [49]).
Tại Việt Nam, bệnh đã xảy ra ở nhiều nơi, song chưa có những công trình
nghiên cứu về bệnh. Lê Văn Năm (2010) [9] đã quan sát thấy hàng loạt đàn gà nuôi
tập trung thả vườn tại một số tỉnh phía Bắc bị mắc bệnh. Bệnh đã bùng phát dữ dội
và gây nhiều thiệt hại cho người chăn nuôi.
1.1.2.2. Những thiệt hại kinh tế do bệnh gây ra
Trong nhiều thập kỷ đầu thế kỷ 20, Histomonosis đã gây thiệt hại nghiêm
trọng cho ngành chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là gà tây. Những năm 1930, dịch bệnh
đầu đen đã phá hủy hầu như hoàn toàn ngành chăn nuôi gà tây ở khu vực Đông và
Trung Tây của Hoa Kỳ. Trong năm 1945, tỷ lệ tử vong do bệnh đầu đen gây ra
chiếm 32,2 % tỷ lệ tử vong của gà tây ở Bắc California.
Những năm tiếp theo, dịch bệnh đầu đen ở gia cầm vẫn thường xuyên phát
triển, tiếp tục gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế cho người chăn nuôi.
Ổ dịch Histomonosis trên đàn gà tây với tỷ lệ chết 25 - 75 % đã được báo cáo
ở California vào năm 2001 (Jinghui hu, 2002 [39]).
Ở khu vực Bắc Mỹ, bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng đến đàn gà tây nuôi tập
trung, tỷ lệ tử vong lên đến 80 - 100 %. Mặt khác, bệnh cũng được tìm thấy ở gà
nhưng tỷ lệ chết chỉ tới 10 % (Mc Dougald, 2008 [50]).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
/>
12
Ở California, Histomonosis tiếp tục gây tỷ lệ tử vong cao cho gà tây 9 - 11
tuần tuổi. Dấu hiệu lâm sàng bao gồm: ăn ít hoặc bỏ ăn, ủ rũ, tiêu chảy, giảm cân, tỷ
lệ tử vong tăng khi gà ở 3 - 13 tuần tuổi. Gà tây mắc bệnh ở 7 tuần tuổi, tỷ lệ tử
vong 24 - 68 %. Mổ khám thấy gan phì đại, trên bề mặt gan xuất hiện các nốt trắng
13
cầm ở mọi lứa tuổi đều mắc bệnh. Tuy nhiên, gia cầm non dễ nhiễm Histomonosis
hơn cả. Gia cầm tuổi càng cao tỷ lệ nhiễm Histomonosis càng giảm.
Theo Lê Văn Năm (2011) [10], bệnh do đơn bào H. meleagridis xảy ra chủ
yếu ở gà tây từ 2 tuần đến 2 - 3 tháng tuổi, ở gà ta thì chậm hơn: từ 3 tuần đến 3 - 4
tháng tuổi, gà lớn tuổi hơn vẫn có thể mắc bệnh.
* Vật chủ trung gian truyền bệnh
Giun kim có vai trò quan trọng trong việc truyền Histomonosis bởi chúng bảo
vệ Histomonas trong trứng và truyền bệnh.
Ngoài ra, giun đất cũng có vai trò trong việc lưu trữ trứng giun kim chứa
Histomonas. Khi gia cầm ăn giun đất, trứng giun kim được giải phóng, đơn bào
cũng được giải phóng và gây bệnh.
* Thời kỳ ủ bệnh
Các dấu hiệu của Histomonosis xuất hiện rõ ràng từ 7 - 12 ngày và thường xảy
ra 11 ngày sau khi nhiễm bệnh. Thời gian ủ bệnh tương tự với các cách nhiễm bệnh
tự nhiên, tức là truyền qua trứng Heterakis gallinarum chứa Histomonas meleagidis.
Trên thực nghiệm, gà tây được gây nhiễm bệnh bằng cách truyền Histomonas
vào lỗ huyệt thì thời gian xuất hiện các tổn thương sớm hơn so với nhiễm bệnh do
nuốt trứng Heterakis gallinarum khoảng 3 ngày.
* Mùa vụ
Ở Việt Nam, Lê Văn Năm (2010) [9] báo cáo rằng bệnh bùng phát mạnh vào
các tháng nóng ẩm: cuối xuân, hè và thu. Đối với những gà lớn tuổi (gà già và gà
đẻ), bệnh thường xảy ra vào cuối thu và mùa đông.
* Điều kiện vệ sinh thú y
Điều kiện vệ sinh thú y đối với chuồng trại và khu vực xung quanh chuồng trại,
dụng cụ và môi trường chăn nuôi là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn tới
khả năng nhiễm Histomonosis của gà. Điều này có liên quan mật thiết với sự tồn tại
và phát triển của giun kim - vật chủ trung gian truyền bệnh`.
Lê Văn Năm (2011) [10] cho rằng, bệnh do đơn bào H. meleagridis xảy ra chủ yếu ở
kính khoảng 0,5 cm, sau đó các ổ hoại tử mở rộng và sâu trên khắp bề mặt gan. Từ
gan, đơn bào này sẽ lan đi khắp cơ thể. Do đó, ngoài gan và manh tràng, người ta
còn tìm thấy H. meleagridis trong dạ dày tuyến, tá tràng, ruột già, tuyến tụy, túi
Fabricius, thận, lá lách, tim, phổi, tuyến ức, não, tủy xương. Tuy nhiên, H.
meleagridis không gây tổn thương ở các cơ quan này.
1.1.2.5. Triệu chứng và bệnh tích bệnh đầu đen ở gà
* Triệu chứng
Gia cầm khoảng 3 - 12 tuần tuổi tỷ lệ và cường độ nhiễm Histomonas
meleagridis cao, có triệu chứng điển hình và tỷ lệ chết lên tới 70 - 90%.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
/>
15
Biểu hiện lâm sàng có thể quan sát thấy sau thời gian ủ bệnh từ 15 - 21 ngày.
Gia cầm mắc bệnh đột nhiên thấy sốt cao 43 - 44ºC, đứng ủ rũ, hai mắt nhắm
nghiền, ăn ít hoặc bỏ ăn, uống nước nhiều, đứng sã cánh, run rẩy, dấu đầu vào dưới
cánh. Gà bệnh lông xù, vùng hậu môn lông bết và bẩn do bị tiêu chảy, phân màu lưu
huỳnh. Triệu chứng tiêu chảy, phân màu lưu huỳnh xảy ra trong giai đoạn cuối của
bệnh, khi chức năng gan bị suy yếu (Mc Dougald và cs. 2008 [50]).
Gia cầm lớn triệu chứng không điển hình, bệnh thường kéo dài, gà gầy dần
rồi chết.
Giai đoạn cuối quan sát thấy gia cầm mào thâm tím, da mép và da vùng đầu
xanh xám, thậm chí xanh đen. Bệnh thường kéo dài khoảng 10 - 20 ngày nên gà rất
gầy. Trước khi chết thân nhiệt gà giảm xuống tới 39 - 38oC. Lúc đầu gà chết rải rác
vào ban đêm, sau số gà chết tăng dần và chết cả vào ban ngày. Nếu không được
điều trị tỷ lệ gà chết lên đến 80 - 95 % tổng đàn (Lê Văn Năm . 2010 [9]).
* Bệnh tích
* Với gà còn sống
Chẩn đoán lâm sàng: Hiện nay, ở các cơ sở chăn nuôi, việc chẩn đoán đối với gà
còn sống chủ yếu dựa vào các triệu chứng của bệnh (xù lông, đứng nhắm mắt, ăn ít,
lười vận động, thường đứng dấu đầu dưới cánh, da vùng đầu sạm màu, đi ỉa phân màu
vàng lưu huỳnh…). Trong đó, triệu chứng điển hình nhất là gà đi ỉa phân màu vàng lưu
huỳnh, da vùng đầu xanh xám, thậm chí xanh đen (Mc Dougald, 2008 [50]).
Chẩn đoán xét nghiệm: Lấy phân màu lưu huỳnh của gà ốm, làm xét nghiệm,
nếu quan sát dưới kính hiển vi tìm thấy trứng của giun kim sẽ giúp cho việc chẩn
đoán dễ dàng hơn.
* Mổ khám gà
Phương pháp chẩn đoán chính xác nhất là phương pháp mổ khám, kiểm tra
bệnh tích kết hợp xét nghiệm tìm đơn bào H. meleagridis ký sinh ở các cơ quan nội
tạng như gan, manh tràng.
Tiến hành mổ khám gà mắc bệnh, quan sát thấy gan và manh tràng bị tổn
thương nặng, gan to gấp 2 - 3 lần, bề mặt gan có những ổ hoại tử lỗ chỗ như đá hoa
cương hoặc ổ hoại tử hình hoa cúc màu trắng hoặc vàng nhạt.
Lấy bệnh phẩm manh tràng và gan của gà vừa chết hoặc vừa mổ khám, phết
kính, kiểm tra dưới kính hiển vi có thể quan sát thấy đơn bào H. meleagridis. Tuy
nhiên, đơn bào trong các tổn thương tổ chức ở thể lưới, không có hình roi và rất khó
để phân biệt với đại thực bào và các tế bào nấm men.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
/>
17
Kiểm tra mô bệnh học giúp cho việc chẩn đoán chính xác hơn. Đặc biệt là phần
mô của gan và manh tràng. Phương pháp nhuộm tiêu bản mô bệnh phẩm thường
được áp dụng là nhuộm Hematoxilin - eosin và nhuộm PAS (Mc Dougald, 2008 [50]).
/>