LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: “Đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh tại công ty TNHH Điện Hoá Hà Sơn”. - Pdf 15

Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thế Long – QTKD – 50
1

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: “Đánh giá kết quả sản xuất
kinh doanh tại công ty TNHH Điện
Hoá Hà Sơn”.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thế Long – QTKD – 50
2
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện hội nhập WTO, khả năng cạnh tranh với các doanh
nghiệp trong và ngoài nước ngày càng mở rộng, các doanh nghiệp luôn có
sự cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Thực tế đã cho thấy doanh nghiệp nào
có cách nhìn nhận mới, có phương thức kinh doanh linh hoạt sẽ tồn tại, phát

kết quả sản xuất kinh doanh của công ty trong thời gian qua.
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao kết quả sản xuất kinh doanh cho
công ty trong thời gian tới.
1.2.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố sản xuất kinh doanh và ảnh hưởng đến
hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty.
- Phạm vi nghiên cứu
* Không gian: Tiến hành thu thập thông tin tại công ty, kết hợp
với điều tra khảo sát thị trường tiêu thụ sản phẩm tại một số địa phương để
đánh giá thực trạng và tiềm năng của công ty trong thời gian tới.
* Thời gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ ngày
10/01/2009 đến ngày 25/5/2009.
Số liệu phản ánh tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
TNHH Điện Hoá Hà Sơn được dùng để nghiên cứu đề tài chủ yếu trong 3
năm từ 2006 đến 2008.
1.3 Kết quả nghiên cứu dự kiến

Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thế Long – QTKD – 50
4
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU

thông qua quan hệ trao đổi mua bán. Trong quan hệ này, doanh nghiệp
chuyển nhượng cho người mua sản phẩm hàng hoá đồng thời được người
mua thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán số tiền hàng tương ứng với giá trị
số sản phẩm hàng hoá đó.
Hay nói cách khác tiêu thụ sản phẩm là việc con người sử dụng sản
phẩm hàng hoá vào mục đích riêng của từng người để thoả mãn nhu cầu của
họ. Tiêu thụ sản phẩm là khâu quyết định mở rộng sản xuất đối với người
sản xuất.
 Khái niệm về kết quả sản xuất kinh doanh
Kết quả sản xuất kinh doanh là kết quả cuối cùng của hoạt động sản
xuất kinh doanh và hoạt động khác của doanh nghiệp sau một thời kỳ nhất
định, biểu hiện bằng tiền lỗ hay lãi. Đây là tiêu chí quan trọng giúp đánh giá
hiệu qảu quá trình sản xuất kinh doanh cũng như quyết định trong các vấn đề
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
2.1.1.2 Bản chất và chức năng của đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
2.1.1.2.1 Bản chất của đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thế Long – QTKD – 50
6
Đánh giá kết qủa sản xuất kinh doanh:
- Là việc phân chia, diễn giải các hiện tượng , quá trình và kết qủa sản xuất
kinh doanh thành nhiều bộ phận cấu thành rồi dùng các phương pháp liên
hệ, so sánh, đối chiếu và tổng hợp nhằm rút ra qui luật và xu hướng vận
động phát triển của hiện tượng nghiên cứu. Đánh giá gắn liền với mọi hoạt
động sản xuất kinh doanh của các đơn vị, chủ thể hoạt động kinh tế.
- Là quá trình nghiên cứu để đánh giá toàn bộ quá trình và kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh và các tiềm năng cần được khai thác từ đó đề ra các
phương án, giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.

- Chức năng dự báo
* Chức năng kiểm tra
Kiểm tra là thông qua phân tích kết qủa các hoạt động sản xuất kinh
doanh mà quản lý và sử dụng sao cho hợp lý. Thể hiện qua các giai đoạn
sau:
- Kiểm tra quá trình sử dụng các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất như:
nguyên vật liệu, lao động, đất đai…
- Kiểm tra quá trình sản xuất ra sản phẩm như: năng suất, chất lượng sản
phẩm, chất lượng lao động…
- Kiểm tra hoạt động ngoài sản xuất như: thiết lập và sử dụng nguồn tài
chính, các hoạt động khác…
* Chức năng quản trị
Các doanh nghiệp muốn đạt được kết qủa cao trong hoạt động sản
xuất kinh doanh đều phải xây dựng cho mình phương hướng, mục tiêu trong
đầu tư và biện pháp sử dụng các điều kiện sẵn có về nguồn nhân lực, vật lực.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thế Long – QTKD – 50
8
Do vậy, doanh nghiệp có thể nắm được các nhân tố, mức độ và xu hướng
ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả sản xuất kinh doanh.
Mặt khác, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều
nằm trong mối liên hoàn với nhau. Do đó, chỉ có thể tiến hành phân tích các
hoạt động sản xuất kinh doanh một cách toàn diện mới giúp cho các doanh
nghiệp đánh giá đầy đủ và sâu sắc mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong
trạng thái thực của mình. Từ đó, nêu lên một cách tổng quát khả năng hoàn
thành mục tiêu đồng thời phân tích sâu sắc các nhân tố tác động tới việc
hoàn thành hay không hoàn thành mục tiêu đó.
Phân tích kết qủa sản xuất kinh doanh giúp doanh nghiệp tìm ra biện
pháp để nâng cao hiệu quả kinh tế trên cơ sở huy động mọi khả năng tiềm
tàng về vốn, lao động vào quá trình sản xuất kinh doanh.
* Chức năng dự báo

động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bằng cách tìm ra các nguyên
nhân, các bất cập trong việc sử dụng các yếu tố sản xuất. Mặt khác, thông
qua đánh gía kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh còn cho thấy thực trạng
sử dụng các yếu tố đầu vào và nguồn gốc của sự biến động kết quả hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
2.1.1.3.2 Mục đích của đánh gía kết quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp
Thông qua việc phân tích nhằm tìm ra và giải thích được mối quan hệ
giữa các hoạt động sản xuất kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp, từ đó đưa
ra các biện pháp quản lý tốt như tiết kiệm chi phí, hạ giá thành , chống thất
thoát tài sản, tăng năng suất lao động… Do đó, việc đánh giá kết quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải đạt được mục đích cụ thể sau:
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thế Long – QTKD – 50
10
- Đưa ra các chỉ tiêu dự báo về xu hướng phát triển sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, các chỉ tiêu này rất quan trọng trong việc đưa ra các chiến
lược mang tính lâu dài trong tương lai của nhà quản lý.
- Giúp nhà quản lý đề ra được hướng phát triển trong tương lai của doanh
nghiệp vì hoạt động sản xuất kinh doanh phải luôn biến đổi không ngừng
sao cho phù hợp với môi trường kinh doanh.
Thực hiện tốt các mục đích trên nhằm tìm ra xu hướng và phạm vi tác
dụng của các nhân tố đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và dự báo
xu hướng phát triển của doanh nghiệp.
2.1.1.4 Nội dung đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong
doanh nghiệp
2.1.1.4.1 Phân loại kết qủa hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp
Kết quả sản xuất kinh doanh là một trong các chỉ tiêu để tính được
hiệu quả sản xuất kinh doanh. Một doanh nghiệp có đạt được hiệu quả kinh
tế cao hay không thì điều trước tiên là doanh nghiệp phải làm ăn có lãi, các

+ Các khoản giảm trừ: Phản ánh các khoản giảm trừ vào doanh thu
bán hàng, thong qua chỉ tiêu này cho biết tình hình tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp.
+ Doanh thu thuần Tổng doanh thu Các khoản giảm
trừ
+ Giá vốn hàng bán: Phản ánh giá trị gốc của sản phẩm hàng hoá,
thành phẩm, dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ.
+ Lợi nhuận gộp Doanh thu thuần – Giá hàng bán
+ Chi phí bán hàng: Phản ánh tổng chi phí bán hàng trừ vào kết quả
sản xuất kinh doanh trong kỳ.
=

=

=

Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thế Long – QTKD – 50
12
+ Chi phí quản lý: Là các chi phí bỏ ra cho công tác quản trị doanh
nghiệp được tính vào kết quả kinh doanh trong kỳ.
- Kết quả hạot động tài chính: Là số chênh lệch giữa thu và chi của
hoạt động tài chính trong một thời kỳ nhất định. Kết quả đó được xác định
theo công thức
- Lợi nhuận từ hoạt Thu nhập từ hoạt Chi phí từ hoạt
động tài chính động tài chính động tài chính
+ Lợi nhuận thuần từ hoạt động SXKD là lợi nhuận từ hoạt động
SXKD và lợi nhuận từ hoạt động tài chính sau khi đã trừ đi các khoản chi

+

=

Lợi nhuận
từ HĐSXKD
Chi phí
quản lý
Chí phí
Bán hàng
=Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thế Long – QTKD – 50
13
2.1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh
Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp chính là kết quả cuối cùng của
quá trình tiêu thụ, nó chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, tuy nhiên ta có thể
quy về hai yếu tố sau:
2.1.1.5.1 Môi trường bên ngoài doanh nghiệp:
2.1.1.5.1.1 Môi trường vĩ mô
Môi trường vĩ mô là tổng thể các nhân tố như chính trị - pháp luật, kinh
tế, văn hoá – xã hội, công nghệ, quốc tế….Các nhân tố này có thể ảnh hưởng
trực tiếp hoặc gián tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh
nghiệp. Các doanh nghiệp muốn tồn tại, phát triển được cần phải quan tâm,
xem xét các yếu tố này như một phần tất yếu để có thể nắm bắt những cơ hội
và tránh những rủi ro không đáng có. Môi trường vĩ mô gồm một số yếu tố
chủ yếu sau:
a. Các nhân tố chính trị - pháp luật
Các nhân tố này có ảnh hưởng một cách trực tiếp tới nền sản xuất trong

công khai như vậy sẽ tránh được tình trạng phân bổ hạn ngạch không hợp lý.
Tuy nhiên nếu làm như vậy thì chỉ một số ít doanh nghiệp có nền tài chính
mạnh sẽ mua được hầu hết hạn ngạch và từ đó các doanh nghiệp nhỏ sẽ
không có được hạn ngạch. Chính vì vậy có thể làm nảy sinh vấn đề, các
doanh nghiệp lớn có thể ép giá bắt các doanh nghiệp nhỏ bán sản phẩm cho
mình và lấy phần chênh lệch giữa giá mua của doanh nghiệp nhỏ trong nước
và giá xuất khẩu ra nước ngoài.
Chính vì vậy mà đối với mỗi một nhân tố kinh tế đều có thể gây ảnh
hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, có thể theo
chiều hướng tốt hoặc chiều hướng xấu. Điều đó là hoàn toàn phụ thuộc vào
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thế Long – QTKD – 50
15
việc nghiên cứu và đưa ra các chính sách của Nhà nước trong mỗi thời kỳ
của nền kinh tế.
c. Các nhân tố khoa học – công nghệ
Khoa học công nghệ là yếu tố then chốt quyết định tới chất lượng sản
phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong thời đại
ngày nay khoa học công nghệ thay đổi liên tục khiến cho các nước đi sau có
điều kiện tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại để cải tiến kỹ
thuật, nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh mà không mất nhiều thời
gian như các nước tư bản trước đây.
Tuy nhiên việc tiếp thu và vận dụng được hay không đó còn là vấn đề
cần xem xét. Lý do chủ yếu là do điều kiện năng lực của mỗi doanh nghiệp,
nếu doanh nghiệp chỉ biết tận dụng những thành tựu mới nhất nhưng điều
kiện sản xuất không cho phép thì những công nghệ đó cũng chẳng có ích lợi
gì. Hơn thế nữa việc đổi mới công nghệ đòi hỏi doanh nghiệp phải có nền tài
chính đủ mạnh, nếu không thì sẽ không thể theo kịp tốc độ phát triển như
hiện nay.
Ngoài ra, để có thể sử dụng được những công nghệ hiện đại này đòi hỏi
các doanh nghiệp cần phải có một chương trình đào tạo con người phù hợp,

Các nhân tố thuộc về văn hoá – xã hội có ảnh hưởng gián tiếp tới hiệu
quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các nhân tố này thường bao
gồm: độ tuổi, giới tính, thói quen, mức thu nhập của dân cư, niềm
tin…Những yếu tố này có thể làm cho một số doanh nghiệp gặp khó khăn,
còn một số khác thì có nhiều cơ hội hơn trong kinh doanh. Điều căn bản là
các doanh nghiệp phải nắm bắt được thị hiếu của người tiêu dùng và tìm
cách thoả mãn nó thì đó sẽ là cơ hội để doanh nghiệp có thể nâng cao được
hiệu quả sản xuất kinh doanh. Thí dụ như sản phẩm bánh kẹo của công ty
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thế Long – QTKD – 50
17
bánh kẹo Hải Hà. Công ty này đã có những sản phẩm bánh kẹo từ thường
dân đến những sản phẩm bánh kẹo cao cấp, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng
ngày cho đến nhu cầu trong các buổi trọng đại. Về thực chất bánh kẹo của
công ty này đã đáp ứng được nhu cầu của đại đa số người dân, vì thế mà sản
phẩm của công ty đã có mặt ở khắp nơi trên mọi miền đất nước.
Từ đó có thể thấy rằng, để có thể nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh không chỉ đòi hỏi các doanh nghiệp phải biết nắm bắt cơ hội mà phải
tìm cách biến những cơ hội đó thành điểm mạnh của chính mình, từ đó có
những chiến lược thích hợp để phát triển sản xuất, mở rộng thị trường kinh
doanh.
2.1.1.5.1.2 Môi trường vi mô
Môi trường vi mô có phạm vi nhỏ hơn môi trường vĩ mô nhưng nó lại
có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh
nghiệp. M.Porter đã đưa ra mô hình gồm 5 lực lượng cạnh tranh có ảnh
hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như hiệu quả sản
xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.
Trong mô hình đó có những nhân tố khác nhau và mỗi một nhân tố có
chiều hướng ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh
nghiệp một hướng khác nhau.
Dưới đây là mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của M.Porter:

doanh nghiệp này thì lúc đầu có thể sản phẩm của họ chưa được khách hàng
chấp nhận nhưng về lâu về dài thì sự có mặt của họ sẽ lôi kéo được một bộ
phận khách hàng nhất định và từ đó làm cho lượng khách hàng của doanh
nghiệp giảm sút, điều đó sẽ làm cho hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp không cao.
Do đó, các doanh nghiệp cần phải luôn luôn phải đổi mới sản phẩm của
mình, làm cho sản phẩm của mình chiếm được lòng tin của khách hàng. Bên
cạnh đó doanh nghiệp cần phải chủ động tìm các biện pháp đối phó với
những doanh nghiệp mới này khi mà họ mới xâm nhập thị trường để tránh
cho doanh nghiệp mình khỏi tổn thất và giảm lợi nhuận.
- Khả năng thương lượng của khách hàng
Khách hàng chính là người quyết định sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp. Nếu không có khách hàng thì doanh nghiệp không thể bán sản
phẩm của mình cho ai, điều đó làm cho doanh nghiệp bị thua lỗ lớn. Nếu
khách hàng ở thế mạnh hơn doanh nghiệp tức là khi sản phẩm của doanh
nghiệp có thể thay thế bằng sản phẩm khác, khách hàng dễ dàng mua được
sản phẩm đó ở bất kỳ đâu, khối lượng khách hàng là khá lớn và khách hàng
có người cung ứng dễ dàng khi đó khách hàng có thể ép giá doanh nghiệp và
Mối đe doạ từ những
sản phẩm và dịch vụ
thay thế
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thế Long – QTKD – 50
19
điều đó sẽ làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Còn nếu doanh nghiệp ở
thế mạnh hơn khách hàng thì doanh nghiệp có cơ hội để tăng giá sản phẩm
của mình từ đó doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất kinh doanh và nâng
cao hiệu quả sản xuất và có được nhiều lợi nhuận hơn.
Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay khi mà nền kinh tế thị trường đang
ngày càng được mở rộng ra toàn cầu thì khả năng thương lượng của khách
hàng ngày càng lớn. Chính vì vậy mà để có được lợi nhuận cao và ổn định

làm ăn lâu dài với nhiều nhà cung ứng có uy tín, nguồn hàng ổn định và chất
lượng đảm bảo. Có như vậy doanh nghiệp mới tự chủ được trong sản xuất
cũng như trong các quan hệ làm ăn.
- Tính khốc liệt cạnh tranh giữa các đối thủ
Các đối thủ ở đây là những doanh nghiệp sản xuất cùng một mặt hàng,
những doanh nghiệp này cùng kinh doanh trên cùng một địa bàn với doanh
nghiệp. Những đối thủ cạnh tranh này luôn tìm mọi cách để bán được càng
nhiều sản phẩm của họ càng tốt và giành giật thị trường của doanh nghiệp
khác, điều đó sẽ làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp bị giảm sút nhanh
chóng.
Trong bối cảnh hiện nay, việc nhiều doanh nghiệp cùng bán một sản
phẩm trên cùng một địa bàn là điều vô cùng dễ gặp. Trước những nguy cơ bị
doanh nghiệp khác chiếm mất thị phần các doanh nghiệp phải có những biện
pháp đối phó lại sự cạnh tranh của các doanh nghiệp khác, có như vậy doanh
nghiệp mới không bị lâm vào tình trạng mất khách hàng, thị trường và từ đó
làm cho hiệu quả sản xuất kinh doanh bị giảm sút.
Tóm lại với 5 lực lượng cạnh tranh này doanh nghiệp phải có những kế
sách lâu dài để có được lợi thế hơn các doanh nghiệp khác, có như vậy
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thế Long – QTKD – 50
21
doanh nghiệp mới có được lợi nhuận cao và nâng cao được hiệu quả sản
xuất kinh doanh.
2.1.1.5.2 Môi trường bên trong doanh nghiệp
Môi trường bên trong doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu
quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu muốn nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh không thể không đánh giá môi trường bên trong của doanh
nghiệp, điều đó sẽ giúp cho doanh nghiệp thấy được điểm mạnh cũng như
điểm yếu của mình để từ đó có những giải pháp thích hợp để nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh.
2.1.1.5.2.1 Quản lý chiến lược và công tác lập kế hoạch

- Tính hiệu quả
Mỗi một doanh nghiệp đều có một cơ cấu tổ chức riêng phù hợp với
đặc điểm của doanh nghiệp mình (loại hình hoạt động, tính chất hoạt động,
quy mô hoạt động…) Như vậy khi có được một cơ cấu tổ chức phù hợp với
doanh nghiệp mình sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động tốt, thông
tin được truyền đạt nhanh chóng, mỗi người sẽ biết được quyền hạn, trách
nhiệm của mình, điều đó sẽ làm cho hiệu quả công việc tăng lên và hiệu quả
sản xuất kinh doanh được nâng lên. Để có đựơc một cơ cấu tổ chức đáp ứng
được những yêu cầu trên là điều khó có thể thực hiện. Vì thế mà các doanh
nghiệp cần phải lựa chọn các loại hình cơ cấu khác nhau để có thể tận dụng
được những ưu điểm của mỗi loại hình cơ cấu và phải tiếp tục hoàn thiện cơ
cấu tổ chức theo hướng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
2.1.1.5.2.3 Văn hoá doanh nghiệp
Văn hoá doanh nghiệp tạo nên nền tảng vững chắc cho mỗi doanh
nghiệp. Nếu doanh nghiệp có nền văn hoá mạnh thì doanh nghiệp đó sẽ có
được sự nhất trí đồng lòng của toàn thể cán bộ công nhân viên của doanh
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thế Long – QTKD – 50
23
nghiệp. Lúc đó các công nhân viên trong doanh nghiệp sẽ làm việc theo tinh
thần tự giác cao, họ làm việc hết mình vì tổ chức và vì chính họ, chính vì
vậy mà họ có động lực, niềm tin vào chính sự lớn mạnh của tổ chức mình.
Điều đó sẽ làm cho hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ được
nâng cao lên. Ngược lại nếu công nhân viên mất lòng tin ở những người lãnh
đạo doanh nghiệp thì họ chỉ làm vì họ được thuê điều đó sẽ không khơi dậy
được ở họ lòng nhiệt huyết với công việc, ở đó chỉ có quan hệ làm thuê, điều
đó sẽ làm cho hiệu quả sản xuất kinh doanh không được cao. Thí dụ, trước
đây ở công ty Daewoo, thay vì đại từ “tôi” đã được thay bằng đại từ “chúng
tôi”, điều đó làm cho công nhân viên ở công ty này thêm gắn kết với nhau
hơn và họ đã trung thành với công ty coi công ty như là mái ấm thứ hai của
mình và đương nhiên hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty trong giai

các nguồn vốn khác. Muốn có điều đó thì doanh nghiệp phải có một nền tài
chính đủ mạnh và tất nhiên đi kèm với nó sẽ phải là một chính sách quản lý,
huy động và sử dụng nguồn vốn một cách hiệu quả - tức là làm tốt công tác
quản lý tài chính.
c. Công nghệ và việc ứng dụng khoa học công nghệ
Trong thời kỳ hiện nay, công nghệ là yếu tố tác động trực tiếp đến
chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.
Nếu như không biết tận dụng những thành tựu khoa học công nghệ thì các
doanh nghiệp sẽ mất đi nhiều cơ hội trên thương trường từ đó làm giảm lợi
nhuận của doanh nghiệp và đương nhiên sẽ làm giảm hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Nếu doanh nghiệp có khả năng cập nhật những công nghệ tiên tiến
nhất, lúc đó không những doanh nghiệp sẽ có được nhiều cơ hội hơn mà
năng suất lao động của doanh nghiệp cũng tăng lên không ngừng, tạo điều
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thế Long – QTKD – 50
25
kiện để doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất kinh doanh và nâng cao được
hiệu quả sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy đối với mỗi doanh nghiệp thì
cần có một chính sách đầu tư thích hợp đối với khoa học và công nghệ. Điều
căn bản là phải làm sao vừa nâng cao được chất lượng sản phẩm, năng suất
lao động lại tiết kiệm được chi phí để phù hợp với từng điều kiện và khả
năng của doanh nghiệp.
d. Nguyên vật liệu và công tác quản lý nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu là yếu tố đầu vào không thể thiếu trong mỗi quá trình
sản xuất. Nguyên vật liệu có chất lượng tốt là điều kiện nâng cao chất lượng
sản phẩm, góp phần sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu, tăng năng suất lao
động. Khi cung ứng nguyên vật liệu một cách đảm bảo, sử dụng tiết kiệm,
dự trữ đầy đủ còn ảnh hưởng tích cực đến tình hình tài chính của doanh
nghiệp, ảnh hưởng đến việc giảm giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận, tăng
tích luỹ cho doanh nghiệp và đương nhiên sẽ làm cho hiệu quả sản xuất kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status