Luận văn Đề Tài:Sử dụng phương pháp thống kê trong
việc đánh giá hiệu quả sản xuất kinh
doanh ở công ty kinh doanh vận tải
lương thực
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA THỐNG KÊ
C
C
H
H
U
PT
T
Ố
Ố
T
TN
N
G
G
H
H
I
I
Ệ
Ệ
P
P
Đề tài :
" Sử dụng phương pháp thống kê trong việc đánh
giá hiệu quả sản xuất kinh doanh ở công ty kinh
doanh vận tải lương thực"
HÀ NỘI 2001 LỜI NÓI ĐẦU
Từ khi chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế
thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước , nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều
khởi sắc đáng mừng. Trong cơ chế thị trường, mọi thành phần kinh tế đều có quyền
tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh và tự do cạnh tranh trong khuôn khổ
pháp luật cho phép. Để đảm bảo cạnh tranh thắng lợi, giúp cho doanh nghiệp đứng
vững và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự đổi mới phù hợp với sự phát
triển chung của xã hội và phải tự vươn lên, tự khẳng định mình. Chỉ có những
doanh nghiệp tổ chức quá trình sản xuất kinh doanh của mình một cách hiệu quả thì
mới có thể tồn tại và phát triển. Vì thế hiệu quả sản xuất kinh doanh là một vấn đề
vô cùng quan trọng đối với mọi doanh nghiệp. Không doanh nghiệp nào hoạt động
lại không tính đến hiệu quả kinh doanh.
Vì vậy, trong thời gian thực tập tại công ty kinh doanh vận tải lương thực,
em đã chọn vấn đề " sử dụng phương pháp thống kê trong việc đánh giá hiệu quả
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp" làm đề tài thực tập.
Nội dung đề tài gồm 3 chương không kể lời nói đầu và kết luận.
Chương I : những vấn đề lý luận chung về hiệu quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
Chương II : xác định hệ thống chỉ tiêu và một số phương pháp thống kê
đánh giá và phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
3
Chương III : vận dụng hệ thống chỉ tiêu và một số phương pháp thôngs
kê để đánh giá, phân tích hiệu quả và kết quả sản xuất kinh doanh ở công ty
kinh doanh vận tải lương thực.
các cuộc cạnh tranh găy gắt cả về giá cả, chất lượng mẫu mã, quy cách, chủng
loại sản phẩm. Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát
triển cần chiếm lĩnh được thị trường. Đó là yếu tố quyết định cũng là yếu tố phản
ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Thị trường đầu vào ảnh hưởng tới tính liên tục và tính hiệu quả sản xuất. Nó
ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cung ứng cho thị trường đầu ra của doanh
nghiệp.
Thị trường đầu ra của doanh nghiệp quyết định quá trình tái sản xuất mở
rộng và hiệu quả kinh doanh. Muốn hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp đạt hiệu quả cao đòi hỏi doanh nghiệp phải nghiên cứu nhu cầu thị trường,
thị hiếu khách hàng và khả năng của bản thân doanh nghiệp đối với các yếu tố đầu
vào cảu sản xuất.
+ Nhân tố con người :
Nhân tố con người trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đóng vai trò
cực kỳ quan trọng vì con người là chủ thể quả quá trình sản xuất kinh doanh, trực
tiếp tham giá vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó nhân tố con người ảnh
hưởng trực tiếp tới kết quả sản xuất kinh doanh.
Do nhân tố con người có tầm quan trọng, đòi hỏi doanh nghiệp phải có kế
hoạch đào tạo tay nghề cho lao động, đảm bảo quyền làm chủ của mỗi cá nhân,
chăm lo tới đời sống vật chất và tinh thần cho công nhân viên, đồng thời có hình
thức thưởng phạt hợp lý nhằm khuyến khích người lao động có ý thức trách nhiệm,
tâm huyết với doanh nghiệp và từ đó luôn sẵn sàng làm việc hết khả năng.
+ Nhân tố về quản lý :
5
Bộ máy quản lý gọn nhẹ hoạt động có hiệu quả cao sẽ cho phép doanh
nghiệp sử dụng hợp lý và tiết kiệm các yếu tố vật chát của quá trình sản xuất kinh
doanh, giúp lãnh đạo doanh nghiệp đề ra những quyết định chỉ đạo kinh doanh
chính xác, kịp thời và nắm bắt được thời cơ. Để quản lý tốt, doanh nghiệp phải có
đội ngũ cán bộ quản lý nhanh nhạy, nhiệt tình và có kinh nghiệm.
găy gắt của nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp muốn đứng vững và đi lên đòi hỏi
phải thường xuyên đổi mới nâng cao chất lượng sản phẩm. Nhưng để sản phẩm đáp
ứng được nhu cầu thị trường và mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp thì doanh
nghiệp phải xem xét việc quyết định sản xuất sản phẩm đó có tối ưu không.
Vì vậy, để sản xuất kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp cần chú ý các vấn
đề sau :
-Nghiên cứu nắm bắt thị trường.
-Chuẩn bị tốt các điều kiện, yếu tố cần thiết cho quá trình sản xuất kinh
doanh.
-Nâng cao tay nghề cho người lao động.
-Mạnh dạn chủ động đưa tiến bộ khoa học cộng nghệ vào sản xuất.
-Nâng cao trình độ quản lý của doanh nghiệp.
-Xác định mục tiêu và chiến lược của doanh nghiệp.
-Sắp xếp lại cơ cấu tổ chức cho hợp lý.
II. Các quan điểm cơ bản đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sự
dụng lực sẵn có của doanh nghiệp để đạt được những kết quả cao nhất với chi phí
thấp nhất.
Để thực hiện nhiệm vụ nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đòi hỏi mỗi
doanh nghiệp phải nghiên cứu và nhận thức một cách đầy đủ bản chất và các quan
điểm đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh. Từ việc đánh giá đúng hiệu quả, cho
phép doanh nghiệp phát hiện khả năng và tìm đúng biện pháp để nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh.
Thứ nhất cần phân biệt kết quả với hiệu quả.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh được xây dựng bằng cách so sánh giữa đầu
vào và đầu ra, so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu được.
7
Kết quả sản xuất kinh doanh là những sản phẩm được con người tạo ra trong
sống dân cư, tạo điều kiện thuận lợi cho đất nước phát triển cùng với các nước tiên
tiến trên thế giới. Những nguyên nhân khắc phục những hạn chế của nền kinh tế đó
là do hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngày càng có hiệu quả.
Hiệu quả kinh tế nền sản xuất xã hội là một phạm trù kinh tế quan trọng biểu
hiện quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế mà xã hội đạt được với chi phí bỏ ra để
có được kết quả đó.
Trong giới hạn các doanh nghiệp thì hiệu quả sản xuất kinh doanh được xem
là vấn đề sống còn của doanh nghiệp. Vì vậy vai trò của thống kê hiệu quả sản xuất
là rất quan trọng trong việc nghiên cứu, đánh giá, phân tích hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Khi phấn đấu đạt được hiệu quả cao trong nền kinh tế quốc dân có ý nghĩa
rất lớn, biểu hiện :
-Tận dụng và tiết kiệm nguồn lực hiện có.
-Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là yếu tố thúc đẩy tiến bộ khoa học
kỹ thuật và công nghệ.
-Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh có ya nghĩa là đưa doanh nghiệp
phát triển theo chiều sâu với tốc độ nhanh.
-Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ đưa đến kết quả cuối cùng là
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động.
Nâng cao hiệu quả kinh tế nền sản xuất xã hội có ý nghĩa quan trọng đối với
yêu cầu tăng trưởng và phát triển kinh tế nói riêng và sự phát triển của loài người
nói chung. Nâng cao hiệu quả nền sản xuất xã hội là cơ sở vật chất để khôn ngừng
nâng cao mức sống dân cư. Như vậy, tăng hiệu quả kinh tế nền sản xuất xã hội là
một trong những yêu cầu khách quan trong tất cả hình thái kinh tế xã hội. Nâng cao
hiệu quả kinh tế nền sản xuất xã hội ngày càng có ý nghĩa đặc biệt trong một số
điều kiện nhất định: Khi khả năng phát triển nền sản xuất theo chiều rộng (tăng
nguồn lao động, tài nguyên thiên nhiên, vốn ) bị hạn chế, khi chuyển sang nền
9
kinh tế thị trường. Tăng hiệu quả kinh tế nền sản xuất xã hội là một trong những
kinh tế hiểu sâu hơn về các mặt hoạt động của doanh nghiệp mình, từ đó đưa ra cơ
chế điều hành đảm bảo tạo ra kết quả, hiệu quả cao nhất của mọi quá trình, mọi giai
đoạn. Vì hiệu quả sản xuất kinh doanh là thước đo chất lượng, phản ánh trình độ tổ
chức quản lý kinh doanh và sự sống còn của mỗi doanh nghiệp.
2.Nhiệm vụ của thống kê hiệu quả sản xuất kinh doanh :
-Thu thập thông tin ban đầu một cách đầy đủ, các thông tin đó là : GO, VA,
IC, doanh thu, lợi nhuận, lao động mình quân, vốn đầu tư, vốn sản xuất kinh doanh.
-Xây dựng hệ thống chỉ tiêu về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
-Trên cơ sở hệ thống chỉ tiêu được xây dựng, ta tính toán tổng hợp các chỉ
tiêu.
-Đánh giá chung và phân tích chi tiết tình hình hiệu quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
-Dự báo về hiệu quả sản xuất kinh doanh trong thời kỳ tới và đề xuất những
kiến nghị, biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp.
CHƯƠNG II : XÁC ĐỊNH HỆ THỐNG CHỈ TIÊU VÀ MỘT SỐ PHƯƠNG
PHÁP THỐNG KÊ ĐỂ ĐÁNH GIÁ VÀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT
KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP.
I.Mục tiêu, yêu cầu của hệ thống chỉ tiêu :
11
Cùng với sự mở cửa nền kinh tế là sự thay đổi lớn lao trong tư duy kinh tế
của nhà nước, mọi thành phần kinh tế đều có điều kiện tham gia vào hoạt động sản
định.
-Nộp đủ các khoản thuế theo quy định.
-Trả lương cho người lao động tối thiểu phải bằng mức lương bình quân của
các doanh nghiệp trên địa bàn.
II.Xác định hệ thống chỉ tiêu và một số phương pháp thống kê để đánh
giá và phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.Công thưc tổng quát xác định các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất
kinh doanh.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh được đo lường bằng các chỉ tiêu tương đối
cường độ phản ánh mối quan hệ so sánh giữa đầu vào (chi phí kinh tế: C) và đầu ra
(kết quả kinh tế: Q). Quan hệ so sánh đó được xác lập theo phương pháp ma trận,
tức là nếu có M chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh tế Q và N chỉ tiêu phản ánh chi phí
kinh tế C thì ta có 2 x M x N chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh, trong
đó có ít nhất M x N chỉ tiêu có ý nghĩa.
Để phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh ta xác lập hai loại chỉ tiêu :
a.Dạng thuận : Kết quả kinh tế Q
H= =
Chi phí kinh tế C
Chỉ tiêu H biểu thị mỗi đơn vị đầu vào có khả năng tạo ra bao nhiêu đơn vị
đàu ra.
Chỉ tiêu H được dùng để xác định ảnh hưởng của hiệu quả sử dụng nguồn
lực hay chi phí thường xuyên đến kết quả kinh tế.
b.Dạng nghịch : Chi phí kinh tế C
E = =
Kết quả kinh tế Q
13
Chỉ tiêu E cho biết để có được một đơn vị đầu ra cần bao nhiêu đơn vị đầu
vào. Chỉ tiêu E là cơ sở để xác định quy mô tiết kiệm hay lãng phí nguồn lực hay
chi phí thường xuyên.
Tổng giá trị sản xuất bao gồm : giá trị những sản phẩm vật chất và giá
trị những hoạt động dịch vụ phi vật chất.
Mỗi doanh nghiệp thường hoạt động trên nhiều lĩnh vực, vì vậy để
tính tổng giá trị sản xuất của doanh nghiệp, thống kê cần tính ra giá trị sản xuất của
từng loại hoạt động của doanh nghiệp, sau đó tổng hợp lại mới có chỉ tiêu tổng giá
trị sản xuất.
Chỉ tiêu tổng giá trị sản xuất phản ánh quy mô kết quả hoạt động sản
xuất của doanh nghiệp trong thời kỳ nghiên cứu, chỉ tiêu này biểu hiện thành tựu
hoặc kết quả của tập thể lao động của một doanh nghiệp. Theo hệ thống tài khoản
quốc gia (SNA), GO được xác định theo phương pháp xí nghiệp, phương pháp
ngành, phương pháp nền kinh tế quốc dân. Để xác định GO của một doanh nghiệp,
trong thống kê sử dụng phương pháp xí nghiệp, GO của doanh nghiệp công nghiệp
làm cơ sở để xác định GO của ngành và của nền kinh tế quốc dân.
-Nội dung kinh tế : tuỳ từng điều kiện của mỗi doanh nghiệp có thể
tìm GO theo hai loại giá :
+Chỉ tiêu GO theo giá so sánh ( cố định ) bao gồm :
Giá trị thành phẩm bằng nguyên vật liệu của xí nghiệp
gồm cả thành phẩm bán ra ngoài, tồn kho và gửi bán.
Giá trị thành phẩm bằng nguyên vật liệu của khách hàng.
Giá trị phế liệu, phế phẩm, thứ phẩm thu hồi đã tiêu thụ
được.
Giá trị dịch vụ công nghiệp đã hoàn thành cho bên ngoài
như (Sửa chữa máy móc thiết bị, phưng tiện vận tải cho khách hàng).
Những chênh lệch giữa cuối kỳ và đầu kỳ của sản phẩm
trung gian (sản phẩm dở dang và nửa thành phẩm).
15
Giá trị cho thuê máy móc thiết bị
+Chỉ tiêu GO theo giá hiện hành bao gồm :
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm chính
+Khấu hao tài sản cố định : giá trị khấu hao tài sản cố định phát
sinh trong năm được coi là một bộ phận giá trị gia tăng của doanh nghiệp.
+Thuế sản xuất bao gồm tất cả các loại thuế đánh vào sản xuất
như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu
+Lãi (lỗ) của doanh nghiệp : đây là phần lãi gộp mà doanh
nghiệp thu được trong quá trình sản xuất kinh doanh.
-Ý nghĩa : chỉ tiêu giá trị gia tăng phản ánh tổng hợp toàn bộ thành quả
của đơn vị trong một thời gian nhất định. Nó là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện tái
sản xuất mở rộng, cải thiện đời sống người lao động và là cơ sở để tính thuế VAT
thay cho thuế doanh thu.
Thuế doanh thu đánh vào doanh thu của doanh nghiệp ảnh hưởng đến
kết quả sản xuất kinh doanh và thu nhập của doanh nghiệp.
Thuế VAT là thuế gián thu, người tiêu dùng phải chịu nhưng lại thông
qua kết quả sản xuất của doanh nghiệp nên không ảnh hưởng đến kết quả sản xuất
kinh doanh và thu nhập của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu VA được tính theo phương pháp SNA, là một bộ phận của giá
trị sản xuất của doanh nghiệp, là cơ sở để tính tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và
tổng sản phẩm quốc dân (GNP) của nền kinh tế quốc dân. Nó phản ánh phần giá trị
mới sáng tạo ra của từng doanh nghiệp đóng góp vào chỉ tiêu chung của nền kinh
tế.
*Chỉ tiêu doanh thu:
-Khái niệm : doanh thu là chỉ tiêu tổng hợp tính bằng tiền bao gồm toàn bộ
giá trị sản phẩm mà doanh nghiệp đã tiêu thụ và thu tiền về trong một thời kỳ dưới
dạng tiền mặt hay thông qua chuyển khoản ở ngân hàng.
17
-Nội dung kinh tế : chỉ tiêu doanh thu được tính theo giá hiện hành bao gồm :
+Giá trị sản phẩm vật chất và các dịch vụ đã hoàn thành được tiêu thụ
ngay trong kỳ báo cáo.
+Giá trị sản phẩm vật chất hoàn thành trong các kỳ trước tiêu thụ được
Tổng lãi thuần trước thuế (LT) là chỉ tiêu lãi sau khi đã trừ đi các
khoản chi phí tiêu thụ.
Tổng lãi thuần sau thuế (L) là chỉ tiêu lãi sau khi đã trừ đi thuế thu
nhập của doanh nghiệp nộp ngân sách nhà nước.
-Ý nghĩa : lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh một trong mục tiêu quan trọng về
kinh doanh và dùng để tính các chỉ tiêu kinh tế như : mức lợi nhuận bình quân mỗi
lao động, mức doanh lợi cả vốn Lợi nhuận quyết định sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp.
2.2.Nhóm các chỉ tiêu phản ánh chi phí kinh tế (C) :
2.2.1.Chi phí tạo ra nguồn lực :
*Chỉ tiêu vốn đầu tư :
Vốn đầu tư cơ bản là việc bỏ tiền để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ
bản gồm xây dựng mới, xây dựng lại, mở rộng và khôi phục các tài sản cố định của
doanh nghiệp.
Để nghiên cứu hiệu quả vốn đầu tư, thống kê tính các chỉ tiêu : thời hạn thu
hồi vốn đầu tư, hệ số thu hồi vốn đầu tư, xuất vốn đầu tư, hệ số vốn đầu tư, hệ số
hiệu quả vốn đầu tư. Trong đó chỉ tiêu hiệu quả vốn đầu tư là quan trọng nhất.
*Chỉ tiêu vốn sản xuất kinh doanh : vốn sản xuất kinh doanh là điều kiện
kiên quyết để doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn sản xuất
kinh doanh giúp doanh nghiệp hoạt động liên tục, đảm bảo mục tiêu đề ra. Quy mô
của doanh nghiệp lớn hay nhỏ cũng phụ thuộc vào vốn sản xuất kinh doanh.
-Nếu xét theo nguồn vốn hình thành thì vốn sản xuất kinh doanh được hình
thành từ các nguồn sau :
19
+Vốn do ngân sách nhà nước cấp.
+Vốn tự bổ sung.
+Vốn đi vay.
+Vốn huy động khác.
-Nếu xét theo tính chất hoạt động thì vốn sản xuất kinh doanh bao gồm hai
Tài sản lưu động khác tài sản cố định ở tính chất tái sản xuất và mức độ
chuyển dịch giá trị của chúng vào sản phẩm. Tài sản lưu động tham gia một lần vào
quá trình sản xuất do đó toàn bộ giá trị của nó được chuyển dịch một lần vào giá trị
sản phẩm. Vì thế tài sản lưu động có tốc độ chu chuyển nhanh hơn, không phải
nhiều năm như tài sản cố định mà thông thường thời hạn quay vòng tối đa là một
năm. Vì vậy trong mỗi vòng quay, khối lượng vốn lưu động không cần nhiều như
khối lượng vốn cố định.
Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động ta tính giá trị bình quân theo
công thức :
Giá TSLĐ đầu kỳ + Giá trị TSLĐ cuối kỳ
Giá trị TSLĐ bình quân trong kỳ (V) =
2
+V2+ +
Hoặc Giá trị TSLĐ bình quân trong kỳ =
n-1
Trong đó V1, V2, ,Vn là giá trị tài sản lưu động tại các thời điểm thống kê
trong kỳ nghiên cứu.
*Chỉ tiêu số lao động bình quân.
Số lượng lao động của doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng vì con người là
chủ thể của quá trình sản xuất kinh doanh, mọi quá trình sản xuất kinh doanh được
thông qua người lao động với những trình độ nhất định về nghề nghiệp, quan điểm,
thái độ về kinh tế chính trị xã hội.
2
1V
2
Vn
21
Số lượng lao động sử dụng vào sản xuất kinh doanh trong kỳ có thể nghiên
-Chi phí trung gian.
-Tổng số thời gian của lao động
3.Hệ thống chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
Để xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, các chỉ tiêu kết
quả kinh tế thường là giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm, doanh thu, lợi nhuận Có 2
chỉ tiêu kết quả cần phải xem xét khi tính các chỉ tiêu hiệu quả đó là : giá trị sản
xuất và giá trị tăng thêm.
22
Đối với chỉ tiêu hiệu quả kinh tế nguồn lực sản xuất thì kết quả kinh tế là chỉ
tiêu giá trị tăng thêm. Bởi nếu sử dụng chỉ tiêu giá trị sản xuất để xác định hiệu quả
kinh tế nguồn lực dẫn đến vi phạm nguyên tắc so sánh vì nguồn lực sản xuất không
bao hàm tính trùng chi phí lao động quá khứ, còn giá trị sản xuất bao gồm yếu tố
này. Mặt khác việc sử dụng giá trị sản xuất để xác định hiệu quả kinh tế nguồn lực
không phản ánh được ảnh hưởng của tiết kiệm hao phí, lao động quá khứ (IC). Đại
lượng này không phản ánh cả trong đại lượng kết quả kinh tế và nguồn lực sản
xuất. Còn chỉ tiêu giá trị tăng thêm so sánh được với chỉ tiêu nguồn lực sản xuất. Vì
chỉ tiêu (VA) không gồm tính trùng hao phí lao động quá khứ, đồng thời phản ánh
được ảnh hưởng của tiết kiệm chi phí lao động quá khứ (IC).
Đối với chỉ tiêu hiệu quả kinh tế chi phí thường xuyên thì kết quả kinh tế là
chỉ tiêu giá trị sản xuất. Bởi vì chi phí thường xuyên gồm cả chi phí lao động vật
hoá và bao gồm tính trùng yếu tố này. Tiết kiệm lao động vật hoá làm giảm chi
pơhí thường xuyên và do vậy làm tăng chỉ tiêu hiệu quả tính được. Chỉ tiêu (VA)
về cơ bản không gồm yếu tố chi phí lao động vật hoá, khi tiết kiệm chi phí trung
gian làm tăng (VA) do vậy sẽ làm tăng chỉ tiêu hiệu quả tính được, nếu chọn chỉ
tiêu này làm kết quả kinh tế đem ra so sánh thì ảnh hưởng tiết kiệm lao động quá
khứ được tính đến hai lần : một lần ở chỉ tiêu chi phí, và một lần ở chỉ tiêu kết quả.
Chi tiêu (GO) tính toàn bộ giá trị sản phẩm trong đó gồm toàn bộ chi phí lao động
vật hoá. Nếu chỉ tiêu giá trị sản xuất đảm bảo nguyên tắc so sánh được với chi phí
Q(giá trị sản phẩm)
W
tt
=
T
-Mức năng suất lao động bình quân 1 giờ làm việc (Wg)
Q
Wg =
Tgc
-Mức năng suất lao động bình quân 1 ngày làm việc (Wn)
Q
Wn =
Tnc
-Mức năng suất lao động bình quân 1 công nhân (Wcn)
Q
Wcn =
T(số công nhân tham gia sản xuất bình quân)
-Trường hợp tổng thể bao gồm nhiều bộ phận cùng tham gia sản xuất ta có
mức năng suất lao động bình quân chung của tổng thể (W )
24
Q
W =
T
*Chỉ tiêu lượng lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị kết quả sản
xuất(t).
-Công thức
1 T
t = =
W Q