Bài giảng thị trường chứng khoán - Pdf 15

BAI GIANG
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
GV: Nguyễn Văn Huân Hồ Thanh
Hương BM: Hệ thống thông tin kinh
tể
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1.ĐẠI CƯƠNG VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
1.1.1. Khái niệm thị trường tài chính
Nhu cầu về vốn để tiến hành đầu tư và các nguồn tiết kiệm có thể phát sinh từ các chủ
thể khác nhau trong nền kinh tế. Trong đó, thường xảy ra tình huống: những người có vốn
nhàn rỗi lại không có cơ hội đầu tư hoặc không biết đầu tư vào đâu. Từ đó hình thành nên một
cơ chế chuyển đổi từ tiết kiệm sang đầu tư. Cơ chế đó được thực hiện và điều chỉnh trong
khuôn khổ một thị trườn đó là thị trường tài chính. Trên thị trường tài chính, những người
thiếu vốn huy động vốn bằng cách phát hành ra các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái
phiếu Những người có vốn dư thừa, thay vì trực tiếp đầu tư vào máy móc thiết bị, nhà xưởng
để sản xuất hàng hóa hay cung cấp dịch vụ, sẽ đầu tư (mua) các công cụ tài chính được phát
hành bởi những người cần huy động vốn.
Vậy, thị trường tài chính là nơi diễn ra sự chuyển vốn từ những người dư thừa vốn tới
những người thiếu vốn. Thị trường tài chính cũng có thể được định nghĩa là nơi phát hành,
mua bán, trao đổi và chuyển nhượng các công cụ tài chính theo các quy tắc, luật lệ đã được ấn
định.
Trong nền kinh tế thị trường, sự tồn tại và phát triển của thị trường tài chính là tất yếu
khách quan. Hoạt động trên thị trường tài chính có những tác động, hiệu ứng trực tiếp tới hiệu
quả đầu tư của các cá nhân của cac doanh nghiệp và hành vi của người tiêu dùng, và tới động
thái chung của toàn bộ nền kinh tế.
1.1.2. Chức năng của thị trường tài chính
- Huy động và dẫn vốn từ nơi thừa vốn sang nơi thiểu vốn
Thị trường tài chính có chức năng cơ bản là dẫn vốn từ những người dư thừa vốn sang
những người cần vốn. Với những người dư thừa vốn, thu nhập lớn hơn chi tiêu, những người

- Giảm thiểu chi phí choc ac chủ thể tham gia trên thị trường
Đe cho các giao dịch có thể diễn ra, những người mua và những người bán cần phải bỏ
ra các chi phí như chi phí tìm kiếm đối tác và tìm kiếm thông tin trong quá trình trước, trong và
sau khi ra các quyết định đầu tư. Nhờ tính tập trung, các thông tin phục vụ quá trình đầu tư
được cung cấp đầy đủ, chính xác và nhanh chóng trên thị trường tài chính, từ đó cho phép
giảm thiểu những chi phí đối với các chủ thể trên thị trường cũng như đối với toàn bộ nền kinh
tế.
- Khuyến khích cạnh tranh và tăng hiệu quả kinh doanh
Thị trường tài chính là thị trường định giá các công cụ tài chính, vì vậy, sẽ khuyến khích
quá trình phân phối vốn một cách có hiệu quả, góp phần tăng tính cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp và từ đó đặt ra cho các doanh nghiệp phải tăng hiệu quả kinh doanh để có thể tồn tại và
phát triển.
- Ổn định và điều hòa lưu thông tiền tệ
Thị trường tài chính có một chức năng quan trọng là ổn định và điều hòa lưu thông tiền
tệ, đảm bảo sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế. Chức năng này được thể hiện thông qua
việc mua bán các trái phiếu, túi phiếu và các giấy tờ có giá khác của Ngân hang Trung ương
trên thị trường tài chính và thị trường tiền tệ. Thông qua đó, Chính phủ có thể huy động được
nguồn vốn lớn để bù đắp thâm hụt ngân sách và kiểm soát lạm phát. Ngoài ra, Ngân hang
Trung ương cũng có thể mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối để điều chỉnh lượng cung
và cầu ngoại tệ nhằm giúp Chính phủ ổn định tỷ giá hối đoái.
Như vậy, thị trường tài chính có chức năng hết sức quan trọng không những đối với nền
kinh tế mà cả đối với từng cá nhân, tổ chức kinh tế. Thị trường tài chính tạo điều kiện cho phép
vốn được chuyển từ người có tiền nhàn rỗi và không có cơ hội đầu tư hiệu quả sang cho người
có cơ hội đầu tư, có khả năng sản xuất, giúp nâng cao khả năng suất và hiệu quả toàn bộ nền
kinh tế. Ngoài ra, thị trường tài chính cũng trực tiếp cải thiện mức sống của người tiêu dung
bằng cách giúp hị chọn thời điểm cho việc mua sắm tốt hơn. Thị trường tài chính hoạt động
hiệu quả sẽ trực tiếp cải thiện đời sống kinh tế xã hội.
1.1.3. Cấu trúc của thị trường tài chính
Căn cứ vào các tiêu thức khác nhau, người ta phân loại thị trường tài chính thành các
thị trường bộ phận.

Thị trường cho vay ngắn hạn trực tiếp: Gồm có thị trường chính thức và không chính
thức. Thị trường này hoạt động dựa vào hoạt động của các tổ chức tài chính trung gian. Các tổ
chức này sẽ huy động các nguồn vốn nhản rỗi của các tổ chức kinh tế, cá nhân bằng hình thức
huy động tiền gửi tiết kiệm và đem cho các tổ chức kinh tế, cá nhân khác vay lại nếu cần.
Thị trường liên ngân hàng: Là thị trường hoạt động phục vụ cho các giao dịch về vốn
chỉ diễn ra giữa các ngân hàng (kể cả NHTW).
Không phải lúc nào ngân hàng luôn có đủ tiền để cho vay, không phải lúc nào ngân
hàng cũng tìm được khách hàng để cho vay hết khoản tiền mà mình có. Vì thế sẽ phát sinh nhu
cầu vay và cho vay giữa các ngân hàng nhằm phục vụ tốt cho hoạt động chính của mình là huy động vốn và
cho vay vốn.
Thị trường mở: Là thị trường tiền tệ mà ngoài các ngân hàng ra còn có sự tham gia của
các tổ chức phi ngân hàng mua bán các công cụ thị trường mở.
Thị trường hối đoái: Thị trường này là nơi diễn ra các hoạt động mua bán và trao đổi
ngoại tệ tiền mặt và các phương tiện thanh toán ghi bằng ngoại tệ. Khác với các loại thị trường
khác, người ta dùng tiền để đổi lấy hàng hoá, thì trên thị trường này người ta dùng tiền để đổi
lấy tiền. Một đặc tính riêng biệt nữa của thị trường ngoại hối đó là tất yếu nó sẽ là thị trường
quốc tế. Khi nào người dân ở các khu vực khác nhau còn dùng những đồng tiền khác nhau thì
thị trường ngoại hối tồn tại là cần thiết.
Thị trường vốn: Thị trường vốn là thị trường mua bán các chứng khoán nợ dài hạn (có
thời gian luân chuyển vốn trên 1 năm) và các chứng khoán vốn. Thị trường này cung cấp vốn
cho các khoản đầu tư dài hạn các doanh nghiệp, của chính phủ, và các hộ gia đình. Do thời
gian luân chuyển vốn trên thị trường này dài hạn hơn so với thị trường tiền tệ nên các công cụ
trên thị trường vốn có độ rủi ro cao hơn và đi theo nó là mức lợi tức kỳ vọng cũng cao hơn.
Thị trường tiền tệ là thị trường được hình thành trước vì ban đầu do kinh tế chưa phát
triển nên nhu cầu vốn và nhu cầu tiết kiệm vốn chưa nhiều chủ yếu là ngắn hạn. Sau khi nền
kinh tế phát triển, nhu cầu về các nguồn vốn dài hạn cho đầu tư xuất hiện thì thị trường vốn ra
đời. Bên cạnh việc huy động vốn dài hạn thông qua các định chế tài chính trung gian thì chính
phủ và các doanh nghiệp còn tự huy động vốn bằng cách phát hành chứng khoán.
Một khi chứng khoán ra đời thì tất yếu sẽ xuất hiện nhu cầu mua bán chứng khoán.
Chính vì thế mà thị trường chứng khoán ra đời với tư cách là một bộ phận của thị trường vốn

tại một thời điểm bất kỳ nào đó trên thị trường, người ta phải tham khảo lãi suất của ngân hàng
được hình thành trên thị trường tiền tệ. Giữa lãi suất thị trường và giá của trái phiếu có mối
quan hệ tỷ lệ nghịch: khi lãi suất của ngân hàng tăng cao hơn lãi suất trái phiếu, trái phiếu sẽ
sụt giá và tình hình ngược lại khi lãi suất ngân hàng hạ xuống hơn lãi trái phiếu.
Ngược lại, các thay đổi về chỉ số giá cổ phiếu của thị trường vốn cũng phản ảnh các hiện tượng tốt hay xấu,
đã đang hoặc sẽ xảy ra trên thị trường tiền tệ. Đối với thị trường vốn, việc duy trì một lãi suất
ổn đinh không thăng trầm quá đáng là cần thiết cho sự ổn đinh của thị trường.
Trên thực tế, các hoạt động của thị trường tiền tệ và thị trường vốn được thực hiện
đồng bộ xen lẫn nhau, tác động và chịu sự ảnh hưởng của nhau, tạo thành cơ cấu hoàn chỉnh
của một thị trường tài chính.
* Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
Căn cứ vào tính chất của việc phát hành các công cụ tài chính, thị trường tài chính
được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.
Thị trường sơ cấp là thị trường phát hành chứng khoán lần đầu tiên.Thị trường sơ cấp
là nơi duy nhất mà chứng khoán đem lại vốn cho nhà phát hành. Sau đó, việc mua bán các
chứng khoán này trên thị trường chứng khoán thứ cấp sẽ không làm ảnh hưởng đến số vốn của
nhà phát hành. Cũng từ thị trường này mà lượng vốn đầu tư cho nền kinh tế. Giá của chứng
khoán trên thị trường sơ cấp (giá phát hành) do tổ chức phát hành quy định. Việc phát hành lần
đầu tiên chứng khoán ra công chúng là giai đoạn quan trọng nhất, vì nếu không đạt được kết
quả tốt thì chứng khoán phát hành sẽ không tiêu thụ được và làm mất uy tín của đơn vị phát
hành. Không phải nhà phát hành nào cũng có đủ điều kiện để thực hiện tốt việc phát hành nên
trên thị trường sơ cấp xuất hiện một tổ chức trung gian giữa nhà phát hành và người đầu tư, đó
là nhà bảo lãnh phát hành. Tuỳ thuộc vào cung cầu, giá chứng khoán ở thị trường sơ cấp có thể
cao hơn hoặc thấp hơn giá trị danh nghĩa của chứng khoán.
Người bán và người mua trên thị trường sơ cấp: Hoạt động giao dịch ở thị trường này
thương được thực hiện theo hình thức bán buôn giữa nhà phát hành là bên cần huy động vốn
(công ty, các tổ chức tài chính, Chính phủ, ) và các nhà đầu tư lớn (các công ty chứng khoán, ngân hàng đầu
tư, công ty bảo hiểm, ).
Các nhà đầu tư đóng vai trò như nhà bảo lãnh đợt phát hành chứng khoán. Họ sẽ mua
lại toàn bộ số chứng khoán phát hành ra theo mức giá thoả thuận (thường là thấp hơn mức giá

Các chứng khoán giao dịch tại thị trường này là những chứng khoán đã được đăng ký yết giá
(niêm yết).
Thị trường phi tập trung (OTC): Thị trường phi tập trung là thị trường mà việc mua
bán các chứng khoán chưa hoặc không được niêm yết trên thị trường tập trung, được thực hiện
phân tán ở những địa điểm khác nhau. Các giao dịch này thường được thực hiện thông qua
mạng máy vi tính. Thị trường OTC không phải là thị trường hiện hữu và không có địa điểm tập
trưng nhất định. Giao dịch diễn ra tại các quầy thông qua mạng máy vi tính. Những ai bán hay
mua loại chứng khoán nào với mức giá nào đều được hiển thị hết qua mạng vi tính, do vậy tính
cạnh tranh của thị trường này rất cao. Ngoài ra có thể bán trao tay các chứng khoán (thị trường
chợ đen, thị trường tự do). Giá cả trên thị trường này do đó được hình thành theo nguyên tắc
thoả thuận. Lượng giao dịch và giá trị giao dịch là lớn hon nhiều so với mua bán tại Sở giao
dịch (theo thống kê của các nước phát triển).
* Thị trường nợ và thị trường vốn cổ phần
Căn cứ vào phương thức huy động vốn của tổ chức phát hành, thị trường tài chính
được phân thành thị trường nợ và thị trường vốn cổ phần.
Thị trường nợ là thị trường mà hàng hóa được mua bán tại đó là các công cụ nợ. Thực
chất của việc phát hành các công cụ nợ này là nhà phát hành đứng ra đi vay theo phương thức
có hoàn trả cả gốc và lãi. Người cho vay không chịu bất cứ trách nhiệm nào về kết quả hoạt
động sử dụng vốn của người vay và trong mọi trường hợp, nhà phát hành phải có trách nhiệm
hoàn trả theo các cam kết đã được xác định trong họp đồng vay. Các công cụ nợ có thời hạn
xác định, có thể là ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn. Tín phiếu và trái phiếu là 2 ví dụ điển hình
của các công cụ nợ.
Khác với thị trường nợ, thị trường vốn cổ phần là nơi mua bán các cổ phiếu, giấy xác
nhận cổ phần đóng góp của cổ đông, cổ đông là chủ sở hữ của công ty và phải chịu trách
nhiệm trong phần đóng góp của mình, cổ phiếu sẽ cho phép họ có quyền yêu cầu đối với lợi
nhuận sau thuế của công ty cũng như đối vowistaif sản của công ty. cổ phiếu là vô thời hạn vò
chúng không xác định cụ thể ngày mãn hạn. Người sở hữu cổ phiếu chỉ có thể lấy lại tiền bằng
cách bán lại cổ phiếu đó trên thị trường thứ cấp hoặc khi công ty tuyên bố phá sản.
1.1.4. Các công cụ của thị trường tài chính
I.I.4.I. Các công cụ của thị trường tiền tệ

chức đấu thầu nên các ngân hàng quy mô nhỏ hơn không có điều kiện tham gia và trúng thầu.
Một điểm cần lưu ý là các tín phiếu do kho bạc phát hành là nhằm bù đắp cho bội chi
ngân sách nhà nước trong ngắn hạn, bù đắp bội chi tạm thời. Còn đối với tín phiếu được phát
hành bởi Ngân hàng Nhà nước thì lại có mục đích chống lạm pháp thông qua hấp thụ lượng
tiền đã phải bỏ ra để hấp thụ lượng ngoại tệ quá dư thừa trong nền kinh té.
- Các chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng được (CD)
Chứng chỉ tiền gửi là một công cụ nợ do các ngân hàng phát hành, cam kết trả lãi định
kỳ cho khoản tiền gửi và sẽ hoàn trả cả vốn gốc cho người gửi tiền khi đáo hạn. Trước đây CD
không được phép bán lại và nếu người gửi tiền rút vốn trước hạn thì sẽ bị chịu lãi phạt. Tuy
nhiên về sau, nhằm tăng tính hấp dẫn và linh hoạt cho CD nên các ngân hàng bắt đầu đã cho
phép các CD mệnh giá lớn được phép bán lại trước hạn và thậm chí là bán cho chính ngân
hàng phát hành. Năm 1966, Citibank đã lần đầu phát hành CD bán lại được với những loại có
mệnh giá cao trên $100.000, và từ đó CD được gọi là chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng
được (NCDs). CD có thể được bán lại ở thị trường cấp 2. Đối với các khoản tiền dân cư gửi
tiết kiệm vào ngân hàng cũng được coi là chứng chỉ tiền gửi, cùng bản chất là khoản tiền gửi
vào ngân hàng và được ngân hàng cam kết trả lãi định kỳ cho khoản tiền gửi, trả gốc khi đáo
hạn nhưng chứng chỉ cho khoản tiết kiệm lại không chuyển nhượng được.
- Thương phiếu (commercial paper)
Thương phiếu là giấy nhận nợ mà các công ty uy tín hoặc ngân hàng phát hành để vay
vốn ngắn hạn từ thị trường tài chính. Được phát hành theo hình thức chiết khấu. Thương phiếu
là loại trái phiếu doanh nghiệp ngắn hạn nhất với thời gian từ 30 đến 270 ngày. Nó thường
được chào bán bởi các công ty phát hành hoặc các hãng môi giới, và thường được bán theo lô.
Thương phiếu có độ rủi ro cao hơn tín phiếu kho bạc nên mức chiết khấu của nó cũng vì thế
mà cao hơn. Thương phiếu nguyên thuỷ xuất hiện trong các hoạt động mua bán chịu hàng hoá
giữa các công ty. Ngày nay thương phiếu còn được dừng để vay vốn trên thị trường tiền tệ.
- Chấp phiếu ngân hàng (banker’s acceptance)
Chấp phiếu ngân hàng là các hối phiếu kỳ hạn do các công ty ký phát và được ngân
hàng đảm bảo thanh toán bằng cách đóng dấu “chấp nhận” lên tờ hối phiếu. Ngân hàng đứng
ra bảo lãnh thanh toán trong quan hệ buôn bán với nhau, việc không chắc chắn về năng lực tài
chính và khả năng thanh toán của đối tác là một điều dễ hiểu. Do vậy nhu cầu cần có người

công cụ này đã ngày càng phát huy vai trò là một công cụ chủ yếu nhằm điều tiết tiền tệ của
các tổ chức tín dụng.
- Dự trữ vượt mức
Mỗi ngân hàng khi nhận được một khoản tiền gửi sẽ phải trích một tỷ lệ phần trăm
nhất định gửi lên NHTW làm khoản dự trữ bắt buộc. Phần dự trũ bắt buộc này sẽ một phần
giúp cho các ngân hàng đảm bảo khả năng thanh toán. Lượng tiền vượt quá số tiền dự trữ bắt
buộc thì được gọi là dự trữ vượt mức. Có số tiền này là do số lượng tiền được gửi và ngân
hàng mỗi ngày không như nhau và do đó lượng dự trữ bắt buộc của ngày trước đó tính cho
ngày hôm nay là thừa hoặc đôi khi một số ngân hàng cần tăng mức dự trữ để gia tăng hệ số an
toàn cho khả năng thanh toán, hoặc do thị trường tài chính biến động ở mức khó dự báo, Khi
một ngân hàng nào đó chưa đủ lượng dự trữ bắt buộc tại NHTW, trường hợp để đảm bảo yêu
cầu đủ lượng dự trữ vượt mức theo luật định thì ngân hàng này sẽ vay ngắn hạn lượng dự trữ
vượt mức của ngân hàng khác bù vào số thiếu hụt đó.
Tại Mỹ, các ngân hàng có thể vay các khoản vay nợ ngắn hạn (thường chỉ qua 1 đêm)
giữa các ngân hàng. Đối tưọng vay ở đây là các khoản tiền gửi của các ngân hàng tại cục dự
trữ liên bang Mỹ FED.
Ngoài các công cụ phổ biến trên, ở các nước có thị trường tiền tệ phát triển còn có
thêm công cụ khác:
- Euro dollars
Euro dollars là những đồng dollar Mỹ do các ngân hàng ngoại quốc ở bên ngoài nước
Mỹ hoặc do những chi nhánh ngân hàng Mỹ ở ngoại quốc nắm giữ.
Thời hạn giao dịch: Khi cần vốn, các ngân hàng của Mỹ có thể huy động dollar từ
nguồn cung như trên. Các giao dịch của đồng euro dolllar rất phổ biến và linh hoạt, đặc biệt
thời hạn có thể từ một ngày đến 6 tháng (hiếm các giao dịch kéo dài hơn 5 năm).
Lãi suất: Mặc dù được nắm giữ ở nhiều nơi trên thế giới nhưng lãi suất của euro dolllar
lại chủ yếu bị ảnh hưởng bởi tình hình nền kinh tế Mỹ. Nhìn chung khi FED có dấu hiệu sẽ
tiến hành quản lý hoặc thực hiện quản lý chặt chẽ các tài khoản tiền gửi thì lãi suất euro dolllar
sẽ tăng và ngược lại. Mức lãi suất này cũng thay đổi tuỳ theo từng thời điểm trong ngày và
tuân theo quan hệ cung cầu, do đó nếu sử dụng lãi suất này làm điểm tham chiếu sẽ là không
phù họp, thay vào đấy có thể sử dụng lãi suất LIBOR và các lãi suất khác.

đáo hạn
Căn cứ vào chủ thể phát hành: trên thị trường vốn có các loại trái phiếu Chính phủ, trái
phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu công ty
Trái phiếu chính phủ (Government bond) : Thường được phát hàng dưới dạng trái
phiếu kho bạc nhằm bù đắp thâm hụt NSNN hàng năm. Trái phiếu kho bạc trung hạn (treasury
note) có thời hạn dưới 10 năm, trái phiếu kho bạc dài hạn (treasury bond) có thời hạn trên 10
năm. Chú ý là trái phiếu kho bạc ở dạng ngắn hạn có tên gọi là tín phiếu kho bạc Nhà nước và
được giao dịch trên thị trường tiền tệ. Trái phiếu Chính phủ là loại trái phiếu được mua bán
mạnh nhất trên thị trường vốn các nước nên được xem là công cụ lỏng nhất trên thị trường
vốn. Các nhà đầu tư vào loại công cụ này gồm có các ngân hàng (kể cả NHTW), các tổ chức
tài chính và các cá nhân.
Trái phiếu chính quyền địa phương: Do các cơ quan trực thuộc chính phủ phát hành
(govemment agency bonds); trái phiếu của chính quyền địa phương (local govemment bonds
or municipal bonds)_dùng để tài trợ cho ngân sách địa phương hoặc để đầu tư cho từng công
trình cụ thể theo kế hoạch. Các trái phiếu loại này thường có ưu đãi là không phải chịu thuế.
Trái phiếu công ty (corporate bond): Loại trái phiếu này thường do các công ty lớn và
có uy túi phát hành. Các giao dịch về trái phiếu công ty nhìn chung nhỏ hơn so với các giao
dịch về trái phiếu chính phủ. Tại các nước phát triển, quy mô thị trường trái phiếu công ty cũng
nhỏ hơn quy mô thị trường cổ phiếu công ty nhưng tốc độ phát triển bù lại là nhanh hơn. Các
trái chủ luôn là người được thanh toán lãi từ việc đầu tư trái phiếu trước các cổ đông mà không
cần phụ thuộc vào tình hình tài chính của công ty.
Trái phiếu công ty gồm có: trái phiếu có đảm bảo bằng tài sản của công ty hoặc được
bảo lãnh bởi uy túi của một doanh nghiệp khác (thường là ngân hàng đầu tư hoặc công ty
chứng khoán; trái phiếu không cần đảm bảo; trái phiếu có thể chuyển đổi thành cổ phiếu; trái
phiếu phát hành dưới mệnh giá.
Tại Việt Nam chưa phổ biến phát hành trái phiếu công ty. Hiện chủ yếu mới chỉ có các
ngân hàng phát hành trái phiếu để huy động vốn từ dân chúng.
Căn cứ vào việc ghi danh gồm trái phiếu ghi danh và trái phiếu vô danh.
Trái phiếu ghi danh: Là loại trái phiếu có ghi tên và địa chỉ của chủ sở hữu trên chứng
chỉ, trên sổ của người phát hành.

buôn bán ở phương Tây, các thương gia thường tụ tập tại các quán cà phê để trao đổi việc mua
bán trao đổi các vật phẩm hàng hoá. Lúc đầu chỉ một nhóm nhỏ, dần dần sau đó tăng dần và
hình thành một khu chợ riêng. Cuối thế kỷ 15, để thuận tiện hơn cho việc làm ăn, khu chợ trở
thành “thị trường” với việc họ thống nhất các quy ước và dần dần các quy ước được sửa đổi
hoàn chỉnh thành những quy tắc có giá trị bắt buộc chung cho mọi thành viên tham gia ” thị
trường”.
Phiên chợ riêng đầu tiên được diễn ra vào năm 1453 tại một lữ điếm của gia đình Vanber
ở Bruges Bỉ, tại đó có một bảng hiệu hình ba túi da với một tiếng Pháp là “Bourse” tức là “mậu
dịch thị trường” hay còn gọi là “Sở giao dịch”.
Vào năm 1547, thành phố ở Bruges Bỉ mất đi sự phồn thịnh do eo biển Even bị cát lấp
nên mậu dịch thị trường ở đây bị sụp đổ và được chuyển qua thị trấn Auvers Bỉ, ở đây thị
trường phát triển rất nhanh và giữa thế kỷ 16 một quan chức đại thần của Anh quốc đã đến
quan sát và về thiết lập một mậu dịch thị trường tại London Anh, nơi mà sau này được gọi là
Sở giao dịch chứng khoán London. Các mậu dịch thị trường khác cũng lần lượt được thành lập
tại Pháp, Đức và Bắc Âu.
Sự phát triển của thị trường ngày càng phát triển cả về lượng và chất với số thành viên
tham gia đông đảo và nhiều nội dung khác nhau. Vì vậy theo tính chất tự nhiên nó lại được
phân ra thành nhiều thị trường khác nhau như: Thị trường giao dịch hàng hoá, thị trường hối
đoái, thị trường giao dịch các họp đồng tương lai và thị trường chứng khoán với đặc tính
riêng của từng thị trường thuận lợi cho giao dịch của người tham gia trong đó.
Quá trình các giao dịch chứng khoán diễn ra và hình thành như vậy một cách tự phát
cũng tương tự ở Pháp, Hà Lan, các nước Bắc Âu, các nước Tây Âu và Bắc Mỹ.
Các phương thức giao dịch ban đầu được diễn ra sơ khai ngay cả khi ở ngoài trời với
những ký hiệu giao dịch bằng tay và có thư ký nhận lệnh của khách hàng. Ở Mỹ cho đến năm
1921, khu chợ này được chuyển từ ngoài trời vào trong nhà, Sở giao dịch chứng khoán chính
thức được thành lập.
Ngày nay, theo sự phát triển của công nghệ khoa học kỹ thuật, cácphương thức giao dịch
ở các Sở giao dịch chứng khoán cũng được cải tiến dần theo tốc độ và khối lượng yêu cầu
nhằm đem lại hiệu quả và chất lượng cho giao dịch, các Sở giao dịch đã dần dần sử dụng máy
vi tính để truyền các lệnh đặt hàng và chuyền dần từ giao dịch thủ công kết hợp Với máy vi

mua bán các chứng khoán. TTCK là biểu hiện bên ngoài, là hình thức giao dịch vốn cụ thể. Do
đó, các thị trường này không thể phân biệt, tách rời nhau mà thống nhất và cùng phản ánh các
quan hệ bên trong và bên ngoài của thị trường tư bản.
Quan điểm thứ hai của đa số các nhà kinh tế cho rằng: ‘Thị trường chứng khoán được
đặc trưng bởi thị trường vốn chứ không phải đồng nhất là một”. Như vậy, theo quan điểm này,
TTCK và thị trường vốn là khác nhau, trong đó TTCK chỉ giao dịch, mua bán các công cụ tài
chính trung và dài hạn nhu trái phiếu chính phủ, cổ phiếu và trái phiếu công ty. Các công cụ tài
chính ngắn hạn được giao dịch trên thị trường tiền tệ, không thuộc phạm vi hoạt động của
TTCK.
Quan điểm thứ ba, dựa trên những gì quan sát được tại đa số các Sở giao dịch chứng
khoanslaịĩ cho rằng “Thị trường chứng khoán là thị trường cổ phiếu”, hay là nơi mua bán các
phiếu cổ phần được các công ty phát hành ra để huy động vốn. Theo quan điểm này, thị trường
chứng khoán được đặc trưng bởi thị trường mua bán các công cụ tài chính mang lại quyền
tham gia sở hữu.
Các quan điểm trên đều được khái quát dựa trên những cơ sở thực tiễn và trong từng
điều kiên lich sử nhất đinh.
Tuy nhiên, quan diểm đầy đủ và rõ rang, phù hợp với sự phát triển chung của TTCK
hiện nay là:
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các loại chứng
khoán. Chứng khoán được hiểu là các loại giấy tờ có giá hay bút toán ghi sổ, nó cho phép chủ
sở hữu có quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản của tổ chức phát hành hoặc quyền sở hữu. Các
quyền yêu cầu này có sự khác nhau giữa các loại chứng khoán, tùy theo tính chất sở hữu của
chúng.
Các giao dịch mua bán, trao đổi chứng khoán có thể diễn ra ở thị trường sơ cấp
(Primary Market) hay thị trường thứ cấp (Secondary Market), tại Sở giao dịch (Stock
Exchange) hay thị trường chứng khoán phi tập trung (Over the Counter Market), ở thị trường
giao ngay (Spot Market) hay thị trường có kỳ hạn (Future Market). Các quan hệ mua bán trao
đổi này làm thay đổi chủ sở hữu của chứng khoán, và như vậy, thực chất đây chính là quá trình
vận động của tư bản, chuyển từ tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh.
Thị trường chứng khoán không giống với thị trường các hàng hóa thông thường khác

TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với cơ hội lựa chọn
phong phú. Các loại CK trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, vì thế
cho phép các NĐT có thể lựa chọn loại hàng hóa phù họp với khả năng, mục tiêu và sở thích
của mình. Chính vì vậy, TTCK góp phần đáng kể làm tăng mức tiết kiệm quốc gia.
Bên cạnh đó, nhờ có TTCK mà các NĐT có thể chuyển đổi các CK họ sở hữu thành
tiền mặt hoặc các loại CK khác khi họ muốn. Khả năng thanh khoản là một trong những đặc
tính hấp dẫn của CK đối với NĐT. Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu
tư. TTCK hoạt động càng năng động và hiệu quả thì càng có khả năng nâng cao tính thanh
khoản của các CK giao dịch trên thị trường.
1.2.3.3. Kích thích các DN hoạt động hiệu quả hcm
Khi tham gia niêm yết trên TTCK tập trung, các DN niêm yết cần phải đáp ứng được
một số điều kiện cụ thể, nhất đinh theo qui đinh như: vốn điều lệ, tình hình tài chính, và các
DN phải công khai tình hình tài chính, kết quả hoạt động SXKD theo chế độ báo cáo định kỳ
và NĐT chỉ mua CP của các công ty tăng trưởng. Với sức ép thường xuyên của thị trường, với
quyền tự do lựa chọn mua CK của NĐT đòi hỏi các nhà quản lý DN phải biết tính toán, nâng
cao hoạt động kinh doanh một cách có hiệu quả. Từ đó, tạo ra một môi trường cạnh tranh lành
mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới và nâng cao
chất lượng sản phẩm.
1.2.3.4. Tạo tiền đề cho quá trình CPH
TTCK là nơi tập trung được toàn bộ cung cầu về vốn và cũng là nơi hội tụ nhiều nhất
các NĐT, do đó nó có tác động rất lớn trong việc nhanh chóng chuyển các DNNN thành các
CTCP một cách có hiệu quả nhất. Với nguyên tắc hoạt động trung gian, đấu giá, công khai và
là nơi mà hoạt động mua bán CK diễn ra hàng ngày, hàng giờ. TTCK chính là cơ sở làm cho
quá trình CPH theo đúng pháp luật và phù họp với tâm lý của NĐT. Chỉ có thông qua TTCK,
Nhà nước mới có thể thực hiện được CPH đối với bất kỳ loại hình DN nào. Mặt khác, nếu
không có TTCK thì vốn đầu tư qua CK sẽ bị bất động và như vậy sẽ rất khó khăn trong việc
phát hành. Mục tiêu chủ yếu của CPH các DNNN và các loại hình DN khác là thu hút mọi
nguồn vốn nhỏ lẻ trong dân chúng vào đầu tư. Vì vậy, TTCK còn là tiền đề vật chất cho quá
trinh CPH.
1.2.3.5. Tạo môi trường giúp Chỉnh phủ thực hiện các chỉnh sách kỉnh tê vĩ mô và phát triên

các quyết định đầu tư của mình.
1.2.4.2. Nguyên tắc trung gian
Theo nguyên tắc này, các giao dịch trên TTCK được thực hiện thông qua tổ chức trung
gian là các CTCK. Trên thị trường sơ cấp, các NĐT thường không mua trực tiếp từ nhà phát
hành mà mua từ các nhà bảo lãnh phát hành. Trên thị trường thứ cấp, thông qua các nghiệp vụ
môi giới, kinh doanh, các CTCK mua bán CK giúp cho khách hàng.
Nguyên tắc này nhằm bảo vệ quyền lợi của các NĐT, đảm bảo các CK lưu thông trên
thị trường đều là CK hợp pháp, tránh cho NĐT bị lừa gạt do thiếu kinh nghiệm hoặc thiếu
thông tin chính xác.
1.2.4.3. Nguyên tắc đẩu giá
Mọi việc mua bán CK trên TTCK đều hoạt động theo nguyên tắc đấu giá. Nguyên tắc
đấu giá dựa trên quan hệ cung cầu do thị trường quyết định.
Căn cứ vào hình thức và phương thức đấu giá có các loại đấu giá: đấu giá trực tiếp, đấu
giá gián tiếp, đấu giá tự động, đấu giá định kỳ và đấu giá liên tục.
Khi thực hiện nguyên tắc đấu giá bao giờ cũng tuân thủ theo các thứ tự ưu tiên về giá
(giá đặt mua cao nhất và giá đặt bán thấp nhất), thời gian (cùng mức giá, lệnh nào đặt trước sẽ
được ưu tiên trước), khách hàng (ưu tiên các nhà đầu tư cá nhân trước) và qui mô lệnh (cùng
một mức giá, ưu tiên các lệnh có khối lượng lớn hơn).
1.2.5. Các chủ thể tham gia trên TTCK
Các tổ chức và cá nhân tham gia trên TTCK có thể được chia thành 3 nhóm sau: tổ
chức phát hành, NĐT và các tổ chức có liên quan đến TTCK.
1.2.5.1. Tổ chức phát hành
Các tổ chức phát hành tham gia thị trường với tư cách là người tạo ra hàng hóa cho thị
trường sơ cấp và mua bán lại các CK ở thị trường thứ cấp.
Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các TP Chính phủ và TP địa
phương. Công ty là nhà phát hành các CP và TP công ty. Các tổ chức tài chính là nhà phát hành
các công cụ tài chính như TP, chứng chỉ thụ hưởng, phục vụ cho hoạt động của họ.
1.2.5.2. Nhà đầu tư
Các NĐT tham gia trên TTCK chia làm 2 loại: NĐT cá nhân và NĐT tổ chức.
NĐT cá nhân: là những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham gia mua bán trên TTCK

CK để bán trong các giao dịch bảo chứng. Các tổ chức tài trợ CK ở các nước khác nhau có đặc
điểm khác nhau và ở một số nước không có loại hình tổ chức này.
Công ty đánh giá hệ số túi nhiệm: là công ty chuyên cung cấp dịch vụ đánh giá năng lực thanh toán và tiềm
lực tài chính của các tổ chức phát hành.
1.2.6. Giới thiệu một số TTCK trên thế giói
1.2.6.1. Thị trường chứng khoán Mỹ
Thị trường chứng khoán Mỹ có lịch sử phát triển lâu dài và đã đạt đến trình độ cao về
mọi mặt. Mô hình TTCK Mỹ đã được nhiều nước học tập, áp dụng và sửa đổi cho phù hợp với
điều kiện thực tế của từng nước. Thời điểm đánh dấu sự ra đời TTCK Mỹ là 17 tháng 05 năm
1792 khi một số nhà môi giới công bố thỏa thuận của họ sau khi nhóm họp dưới gốc cây ngô
đồng ở số 68 phố Wall (gọi là Hiệp ước cây ngô đồng) và đến năm 1800 đánh dấu sự ra đời Sở
giao dịch chứng khoán (SGDCK) đầu tiên, tiếp theo đó là hàng loạt các SGDCK được hình
thành trên khắp nước Mỹ. Thị trường chứng khoán Mỹ hiện nay là một thị trường quan trọng
bậc nhất trên thế giới nếu xét trên tổng thể khối lượng tư bản giao dịch và sự ảnh hưởng to lớn
của nó đối với các thị trường chứng khoán khác. Điều đáng chú ý là 2/3 nghiệp vụ giao dịch
chứng khoán ở Mỹ được thực hiện trên thị trường phi tập trưng, đặc biệt là đối với các hàng
hóa là trái phiếu chính phủ.
Năm 1793, ủy ban Chứng khoán và Giao dịch New York mở cửa tại Phố Wall. Dù
không phải là sở giao dịch đầu tiên tại Mỹ, NYSE nhanh chóng trở thành trung tâm tài chính
của đất nước non trẻ.
Cũng như tại London, NYSE ban đầu không rộng và nhiều hoạt động phải được tiến
hành ở bên ngoài. Địa điểm này bị lửa thiêu rụi nên phải chuyển tới phố Broad và đổi tiên
thành Sở giao dịch chứng khoán New York.
NYSE không mất nhiều thời gian để trở thành một trung tâm trong giới tài chính. Khối
lượng giao dịch chứng khoán tăng 6 lần trong giai đoạn 1896-1901. Sự thành công này phần
lớn là nhờ địa điểm của sở giao dịch tại thành phố New York, trưng tâm của gần như mọi giao
dịch và buôn bán của nước Mỹ tại thời điểm đó. NYSE cũng là sở giao dịch đầu tiên có điều
kiện niêm yết và phí, giúp đem lại khoản thu nhập lớn cho sở giao dịch. Trong hon 200 năm,
Sở giao dịch chứng khoán New York luôn giữ vị trí số một.
I.2.6.2. TTCK Trung Quốc

dẫn đến sự giàu sang.
Bất chấp sự lạc quan và kỳ vọng lợi nhuận của một bộ phận lớn các nhà đầu tư trên thị
trường, các cơ quan quản lý Nhà nước về TTCK ở Trung Quốc đã tỏ ra thận trọng với sự mở
rộng nhanh chóng của thị trường. Chính phủ Trung Quốc thông báo thành lập một lực lượng
đặc nhiệm nhằm kiểm soát và ngăn chặn các hoạt động bất hợp pháp trên TTCK. Hơn nữa, các
chỉ số chứng khoán cao ngất ngưỡng trong thời gian qua không nói lên được những vấn đề cốt
lõi của TTCK Trung Quốc hiện nay.
I.2.6.3. TTCKHàn Quốc
TTCK Hàn Quốc ra đời và chính thức đi vào hoạt động vào năm 1956 cùng với sự ra
đời của Sở giao dịch chứng khoán Daehan - tiền thân của Sở giao dịch chứng khoán Hàn
Quốc. Từ đó đến nay, TTCK Hàn Quốc đã phát triển một cách nhanh chóng và trở thành một
trong 10 TTCK lớn nhất thế giới.
Nhờ sự tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan, TTCK Hàn Quốc đã liên tục
tăng trưởng trong những tháng đầu năm 2007 khi chỉ số TTCK tổng hợp Hàn Quốc (KOSPI)
vượt ngưỡng 1.700 điểm, tổng vốn hóa của TTCK tổng hợp Hàn Quốc và Sàn CK công nghệ
Hàn Quốc (KOSDAQ) đã lên đến 1.000 tỷ USD. Như vậy, Hàn Quốc trở thành nước thứ 4 ở

Trích đoạn Rủi ro của danh mục đầu tư 5.5.ĐA DẠNG HÓA DANH MỤC ĐẦU TƯ NHẰM GIẢM RỦI RO 6.1.THỊ TRƯỜNG CÁC CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH Sử dụng giao dịch kỳ hạn Hợp đồng tươnglai trên thị trường hàng hóa và thị trường chứng khoán
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status