Luận văn: “Khảo sát các thủ tục kiểm soát trong chu trình Bán hàng - Thu tiền tại khách sạn Hương Giang” - Pdf 15

Báo cáo thực tập giáo trình
Luận văn
“Khảo sát các thủ tục kiểm soát trong
chu trình Bán hàng - Thu tiền tại khách
sạn Hương Giang”
i
Báo cáo thực tập giáo trình
MỤC LỤC
Luận văn i
“Khảo sát các thủ tục kiểm soát trong chu trình Bán hàng - Thu tiền
tại khách sạn Hương Giang” i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU iv
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2. Kiểm soát chu trình bán hàng – thu tiền 6
CHƯƠNG 2 - TỔNG QUAN VỀ KHÁCH SẠN HƯƠNG GIANG 13
2.1. Thông tin chung về khách sạn Hương Giang 13
2.2. Quá trình hình thành và phát triển của đơn vị: 13
2.3. Đặc điểm về ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh 14
2.4. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý 15
2.4.2. Nhiệm vụ của các bộ phận 15
2.5. Nguồn lực của Khách sạn 16
CHƯƠNG 3 – THỰC TRẠNG CÁC THỦ TỤC KIỂM SOÁT TRONG CHU
TRÌNH BÁN HÀNG – THU TIỀN TẠI KHÁCH SẠN HƯƠNG GIANG 21
3.2. Giai đoạn xét duyệt bán chịu 31
3.4. Khi khách đang lưu trú tại khách sạn: 34
3.5. Check out: 38
3.6. Lập hóa đơn chứng từ và thu tiền: 38
3.7. Ghi sổ nghiệp vụ bán hàng: 41
3.8. Thu tiền qua ngân hàng đối với các hãng lữ hành: 42
3.9. Gửi tiền vào ngân hàng: 42

Hình 5: Mẫu SERVICES’ INVOICE

Hình 6: Mẫu PAYMENT REPORT

iv
Báo cáo thực tập giáo trình
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Sự cần thiết của đề tài.
Kinh tế ngày càng phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn tìm cách nâng
cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình. Trong đó, hoạt
động kinh doanh khách sạn mang tính chất của loại hình kinh doanh dịch vụ, ẩn
chứa nhiều rủi ro, dễ xảy ra gian lận và sai sót.Vì vậy, để đảm bảo đạt được
hiệu quả cao và ngăn chặn những tổn thất hay rủi ro có thể xảy ra trong quá
trình hoạt động kinh doanh khách sạn thì trước hết, bản thân khách sạn phải có
những biện pháp hữu hiệu và một trong những biện pháp quan trọng đầu tiên là
phải thiết lập được một hệ thống Kiểm soát nội bộ đầy đủ và có hiệu quả.
Khách sạn Hương Giang là một đơn vị có truyền thống lâu đời trong lĩnh vực
khách sạn, nhà hàng, với đặc trưng của một doanh nghiệp dịch vụ, các chu trình
được thiết kế sao cho hoạt động liên kết với nhau, song song, bổ trợ nhau với
nhiều công đoạn, trình tự phức tạp. Vì vậy để nghiên cứu một cách đầy đủ và
chi tiết các thủ tục kiểm soát phải cần rất nhiều thời gian. Vì lí do hạn chế về
thời gian và khả năng thực hiện, chúng tôi chọn chu trình “Bán hàng - Thu tiền”
được xem là chu trình rất quan trọng đối với tình hình kinh doanh của công ty
để tiến hành nghiên cứu. Do đó, nhóm chúng tôi thực hiện đề tài là “Khảo sát
các thủ tục kiểm soát trong chu trình Bán hàng - Thu tiền tại khách sạn
Hương Giang” nhằm tìm hiểu các thủ tục kiếm soát trong chu trình bán hàng
thu tiền hiện có tại đây.
2. Mục tiêu nghiên cứu.
a) Mục tiêu tổng quát: Tìm hiểu các thủ tục kiểm soát trong chu trình Bán hàng -
thu tiền tại khách sạn Hương Giang nhằm tìm ra ưu nhược điểm của các thủ tục này, từ

hàng - thu tiền trong một doanh nghiệp điển hình về loại hình kinh doanh dịch
vụ.
- Giúp sinh viên có thể so sánh giữa lí thuyết và thực tế trong việc kiểm soát
trong chu trình bán hàng - thu tiền. Đề xuất, kiến nghị một số thay đổi để khách
sạn có thể hoàn thiện hơn hệ thống kiểm soát nội bộ.
6. Kết cấu của đề tài.
Phần I: Đặt vấn đề nghiên cứu.
Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu:
Chương 1: Các cơ sở lý luận về thủ tục kiểm soát
Chương 2: Tổng quan về khách sạn Hương Giang
Chương 3: Thực trạng các thủ tục kiểm soát trong chu trình Bán hàng - Thu
tiền tại khách sạn Hương Giang
Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện.
Phần III: Kết luận.
2
Báo cáo thực tập giáo trình
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1 – CÁC CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC KIỂM SOÁT.
1.1. Hệ thống kiểm soát nội bộ:
1.1.1. Khái niệm:
Hệ thống kiểm soát nội bộ thực chất là sự tích hợp một loạt hoạt động, biện
pháp, kế hoạch, quan điểm, nội quy, chính sách và nỗ lực của mọi thành viên
trong tổ chức để đảm bảo tổ chức đó hoạt động hiệu quả, đạt được mục tiêu đặt
ra một cách hợp lý. Có thể hiểu đơn giản là hệ thống kiểm soát nội bộ là hệ
thống của tất cả những gì mà một tổ chức cần làm để có được những điều muốn
có và tránh những điều muốn tránh. Cũng trên nguyên tắc này, các hệ thống
quản lý khác nhau có chuẩn mực quốc tế như ISO, TQM, QA/QC đảm bảo cho
sự hoạt động hiệu quả của một tổ chức đã được xây dựng.
Như vậy, bất kỳ hoạt động nào của tổ chức cũng có thể là đối tượng của kiểm
soát nội bộ, kể cả kiểm toán nội bộ - một hệ thống kiểm tra, đo lường, đánh giá

quản lý chặt chẽ và hiệu quả của các hoạt động trong khả năng có thể.
2) Theo COSO: Kiểm soát nội bộ là 1 qui trình chịu ảnh hưởng bởi Hội đồng
Quản trị, các nhà quản lý và các nhân viên khác của 1 tổ chức, được thiết kế để
cung cấp sự đảm bảo hợp lý trong việc thực hiện các mục tiêu mà Hội đồng
quản trị, các nhà quản lý mong muốn là:
- Hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động.
- Tính chất đáng tin cậy của các báo cáo tài chính.
- Sự tuân thủ các luật lệ và qui định hiện hành.
3) Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC): Hệ thống kiểm soát nội bộ là một
hệ thống chính sách và thủ tục đựơc thiết lập nhằm đạt đựơc 4 mục tiêu sau:
bảo vệ tài sản của đơn vị, bảo đảm độ tin cậy của các thông tin, bảo đảm việc
thực hiện các chế độ pháp lý và bảo đảm hiệu quả của hoạt động.
− Sự cần thiết và lợi ích của hệ thống kiểm soát nội bộ:
Trong một tổ chức bất kỳ, sự thống nhất và xung đột của người sử dụng lao
động với người lao động luôn tồn tại song hành. Nếu không có hệ thống kiểm
soát nội bộ, làm thế nào để người lao động không vì quyền lợi riêng của mình
mà làm những điều thiệt hại đến lợi ích chung của toàn tổ chức, của người sử
dụng lao động? Làm sao biết được tổ chức đang phải đối mặt với những rủi ro
tiềm ẩn nào? Làm thế nào có thể phân quyền, uỷ nhiệm, giao việc cho cấp dưới
một cách chính xác, khoa học chứ không phải chỉ dựa trên sự tin tưởng cảm
tính?…
Một hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh sẽ giúp đem lại các lợi ích sau cho
công ty:
- Đảm bảo tính chính xác của các số liệu kế toán và báo cáo tài chính của công
ty.
- Giảm bớt rủi ro gian lận hoặc trộm cắp đối với công ty do bên thứ ba hoặc
nhân viên của công ty gây ra.
- Giảm bớt rủi ro sai sót không cố ý của nhân viên mà có thể gây tổn hại cho
công ty.
- Giảm bớt rủi ro không tuân thủ chính sách và quy trình kinh doanh của công

quy, quy chế, quy trình SXKD
Một môi trường kiểm soát tốt sẽ là nền tảng quan trọng cho sự hoạt động hiệu
quả của hệ thống kiểm soát nội bộ.
b) Đánh giá rủi ro (Risk Assessment): Nhận biết và phân tích các rủi ro liên
quan đến mục tiêu kinh doanh của công ty.
Không lệ thuộc vào quy mô, cấu trúc, loại hình hay vị trí địa lý, bất kỳ tổ chức
nào khi hoạt động đều bị các rủi ro xuất hiện từ các yếu tố bên trong hoặc bên
ngoài tác động:
- Các yếu tố bên trong: Sự quản lý thiếu minh bạch, không coi trọng đạo đức
nghề nghiệp. Chất lượng cán bộ thấp, sự cố hỏng hóc của hệ thống máy tính,
của trang thiết bị, hạ tầng cơ sở. Tổ chức và cở sở hạ tầng không thay đổi kịp
với sự thay đổi, mở rộng của sản xuất. Chi phí cho quản lý và trả lương cao,
thiếu sự kiểm tra, kiểm soát thích hợp hoặc do xa Công ty mẹ hoặc do thiếu
quan tâm
- Các yếu tố bên ngoài: Thay đổi công nghệ làm thay đổi quy trình vận hành.
Thay đổi thói quen của người tiêu dùng làm các sản phẩm và dịch vụ hiện hành
bị lỗi thời. Xuất hiện yếu tố cạnh tranh không mong muốn tác động đến giá cả
và thị phần. Sự ban hành của một đạo luật hay chính sách mới, ảnh hưởng đến
hoạt động của tổ chức
5
Báo cáo thực tập giáo trình
Để tránh bị thiệt hại do các tác động nêu trên, tổ chức cần thường xuyên: xác
định rủi ro hiện hữu và tiềm ẩn. Phân tích ảnh hưởng của chúng kể cả tần suất
xuất hiện và xác định các biện pháp để quản lý và giảm thiểu tác hại của chúng.
c) Hoạt động kiểm soát (Control Activities): Là các biện pháp, quy trình, thủ
tục đảm bảo chỉ thị của ban lãnh đạo trong giảm thiểu rủi ro và tạo điều kiện
cho tổ chức đạt được mục tiêu đặt ra được thực thi nghiêm túc trong toàn tổ
chức.
Ví dụ: kiểm soát phòng ngừa và phát hiện sự mất mát, thiệt hại của tài sản,
kiểm soát xem tổ chức có hoạt động theo đúng chuẩn mực mà tổ chức đã quy

doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ với nhà nước, có chính sách hợp lý hơn để
phát triển hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
− Các chức năng cơ bản của chu trình bán hàng - thu tiền gồm:
a) Xử lý đặt hàng của người mua:
Đặt hàng của người mua có thể là đơn đặt hàng, là phiếu yêu cầu mua hàng, là yêu
cầu qua thư, fax, điện thoại và sau đó là hợp đồng về mua - bán hàng hoá, dịch vụ…
Về pháp lý, đó là việc bày tỏ sự sẵn sàng mua hàng hoá theo những điều kiện xác định.
Do đó, có thể xem đây là điểm bắt đầu của toàn bộ chu trình. Trên cơ sở pháp lý này,
người bán có thể xem xét để đưa ra quyết định bán qua phiếu tiêu thụ và lập hoá đơn
bán hàng.
b) Xét duyệt bán chịu:
Do bán hàng gắn liền với thu tiền trong cùng một khái niệm tiêu thụ nên ngay từ
thoả thuận ban đầu, bộ phận xét duyệt sẽ xem xét và quyết định bán chịu một phần
hoặc toàn bộ lô hàng. Chức năng này sẽ giảm thiểu nợ khó đòi và thất thu do khách
hàng mất khả năng thanh toán hoặc cố tình không thanh toán do sơ hở trong thỏa thuận
ban đầu.
c) Chuyển giao hàng:
Là chức năng vận chuyển hàng hoá đến người mua, chuyển giao quyền sở hữu. Đây
là điểm bắt đầu của chu trình (đặc biệt với các công ty bán buôn) nên thường là điểm
chấp nhận được ghi sổ bán hàng.
- Gửi hóa đơn tính tiền cho người mua và ghi rõ nghiệp vụ bán hàng:
Hoá đơn bán hàng là chứng từ chỉ rõ mẫu mã số lượng hàng hoá, giá cả hàng hoá
gồm cả giá gốc hàng hoá, chi phí vận chuyển, bảo hiểm và các yếu tố khác theo luật
thuế giá trị gia tăng. Việc gửi hóa đơn tính tiền cho người mua và ghi rõ nghiệp vụ bán
hàng vừa là phương thức chỉ rõ cho khách hàng về số tiền và thời hạn thanh toán của
từng thương vụ, vừa là căn cứ ghi sổ Nhật ký bán hàng và theo dõi các khoản phải thu.
- Xử lý và ghi sổ các khoản thu tiền:
Trong mọi trường hợp đều cần xử lý và ghi sổ các khoản thông thường về thu tiền
bán hàng nhằm tránh khả năng bỏ sót hoặc dấu giếm các khoản thu nhất là thu tiền mặt
trực tiếp.

- Bán hàng cho khách hàng chưa được phê duyệt.
- Chấp nhận bán hàng khi không có đủ hàng trong kho.
b) Đối với việc xét duyệt bán chịu.
- Bán hàng cho khách hàng có tình hình tài chính không tốt.
- Bán hàng cho khách hàng không có khả năng thanh toán hoặc chậm trễ trong việc
thanh toán.
8
Báo cáo thực tập giáo trình
c) Đối với việc điền vào phiếu xuất kho và việc chuyển giao hàng hóa.
- Hàng hóa chuyển giao nhầm đối tượng khách hàng.
- Hàng hóa vận chuyển đi mà không có sự phê duyệt.
- Số hàng chuyển đi không khớp với số hàng khách hàng đặt mua.
- Giao hàng sai quy cách, phẩm chất, số lượng.
- Giao hàng không kịp thời cho khách hàng.
- Xuất nhầm hàng, nhầm kho, nhầm phương tiện vận chuyển, nhầm địa điểm.
d) Đối với việc lập hóa đơn và gửi hóa đơn cho khách hàng.
- Hóa đơn bán hàng được lập cho nghiệp vụ bán hàng giả mạo hoặc lập nhiều hóa đơn
bán hàng cho mỗi lần vận chuyển.
- Số hàng đã vận chuyển không được lập hóa đơn.
- Hóa đơn bán hàng ghi số tiền không đúng.
- Việc ký duyệt giảm giá, chiết khấu không được thực hiện bởi người có thẩm quyền.
e) Đối với việc ghi sổ nghiệp vụ bán hàng.
- Hóa đơn bán hàng có thể không được ghi sổ nhật ký và sổ chi tiết phải thu khách
hàng.
- Hóa đơn bán hàng có thể ghi sổ chi tiết sai khách hàng.
f) Đối với việc thu tiền.
+ Thu tiền mặt trực tiếp.
- Tiền mặt bị biển thủ trước khi ghi sổ.
- Số tiền thu được không đúng với giá bán.
+ Thu tiền qua ngân hàng:

- Trước khi lập hóa đơn phải kiểm tra sự khớp đúng giữa đơn đặt hàng với phiếu xuất
kho, Phiếu vận chuyển đã được phê duyệt do các bộ phận khác gửi tới.
- Ghi các dữ liệu cần thiết vào hóa đơn.
- Trước khi hóa đơn được gửi đi, cần có sự kiểm tra độc lập về giá và sự chính xác của
hóa đơn.
- Đối chiếu số tổng cộng trên Phiếu vận chuyển với số tổng cộng trên hóa đơn bán
hàng.
- Tất cả hóa đơn được lập phải đánh số thứ tự trước.
e) Ghi sổ nghiệp vụ bán hàng:
- Bộ phận kế toán ghi sổ phải tách biệt với các bộ phận còn lại.
10
Báo cáo thực tập giáo trình
- Việc ghi sổ Nhật ký bán hàng và người ghi sổ Chi tiết Phải thu khách hàng phải do 2
người thực hiện.
- Khi ghi sổ phải có đầy đủ chứng từ gốc.
- Hóa đơn bán hàng được đánh số trước. Đồng thời kế toán phải kiểm tra sự khớp đúng
giữa HĐBH với các nghiệp vụ trên Nhật ký bán hàng.
- Độc lập đối chiếu số dư định kỳ trên Sổ cái tổng hợp với sổ chi tiết.
- Sử dụng một sơ đồ tài khoản đầy đủ và đúng đắn.
- Một người độc lập lập Bảng đối chiếu tiền hàng và gửi đến cho mỗi khách hàng.
f) Thu tiền mặt trực tiếp:
- Phân cách nghiệp vụ bán hàng và thu tiền.
- Sử dụng thiết bị thu tiền.
- Đối chiếu các chứng từ gốc trước khi lập Phiếu thu.
- Phiếu thu được đánh số thứ tự trước và có nhiều liên.
- Phiếu thu phải được phê duyệt bởi kế toán trưởng và giám đốc. Cuối ngày, kế toán có
trách nhiệm lập bảng kê thu tiền để làm căn cứ ghi sổ kế toán.
- Thủ quỹ căn cứ vào Phiếu thu đã được duyệt, tiến hành thu tiền và ghi số thực tế đã
nhập quỹ trước khi ký tên và yêu cầu người nộp ký tên.
- Có sự kiểm tra độc lập giữa số tiền trên Bảng kê với Sổ quỹ.

cùng với đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, phong cách phục vụ lịch thiệp và tận tình
chu đáo khách sạn Hương Giang đã để lại nhiều ấn tượng sâu đậm trong lòng mỗi du
khách mỗi khi xa Huế.
2.2. Quá trình hình thành và phát triển của đơn vị:
− Công ty cổ phần du lịch Hương Giang:
Ngày 3/10/1994 Công ty khách sạn Hương Giang được thành lập.
Ngày 2/11/1996 Công ty khách sạn Hương Giang đổi tên thành Công ty du lịch
Hương Giang. Công ty bao gồm 19 đơn vị thành viên hoạt động trong những lĩnh vực
kinh doanh khách sạn, nhà hàng, lữ hành quốc tế… trong đó khách sạn Hương Giang
là đơn vị kinh doanh lớn nhất.
− Khách sạn Hương Giang:
Tọa lạc tại số 51 đường Lê Lợi, khách sạn được khởi công vào năm 1960 do kiến
trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế. Lúc đầu khách sạn được dùng làm cơ sở của hội liên
hiệp phụ nữ miền Trung và từ 1963 chuyển thành câu lạc bộ sỹ quan vùng 1 của quân
ngụy.
Sau năm 1975, cơ sở này được Sở Thương Mại Bình Trị Thiên cũ chuyển giao với
tên gọi khách sạn Hương Giang chuyên thực hiện chức năng như một nhà khách của
tỉnh.
Với chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, vào năm 1990, khách sạn đã trở
thành một đơn vị hạch toán kinh doanh trực thuộc của Công ty du lịch Thừa Thiên
Huế.
13
Báo cáo thực tập giáo trình
Với sự nỗ lực và phấn đấu của mình, sản phẩm của khách sạn Hương Giang đã
được hội đồng chất lượng quốc gia trao giải bạc năm 1996 và giải vàng năm 1999,
được hội đồng Tổng cục du lịch bình chọn 1 trong 10 khách sạn hàng đầu Việt Nam ba
năm liền 1999, 2000 và 2001. Đặc biệt là sự kiện khách sạn Hương Giang được Tổng
Cục Du Lịch Việt Nam công nhận là khách sạn đạt tiêu chuẩn 4 sao vào ngày
21/10/2002 là thành quả to lớn mà khách sạn đã đạt được trong suốt chặn đường dài
phấn đấu của mình.

Trong quá trình hoạt động, khách sạn Hương Giang đã không ngừng hoàn thiện cơ
cấu bộ máy tổ chức của đơn vị mình. Cho đến nay, hệ thống hoạt động kinh doanh của
khách sạn đã được thiết lập theo sơ đồ sau:
2.4.2. Nhiệm vụ của các bộ phận
- Tổng giám đốc: là người trực tiếp chịu trách nhiệm điều hành các hoạt động kinh
doanh của khách sạn, theo dõi việc kiểm tra thực hiện các nhiệm vụ được đưa xuống
cho các bộ phận thực hiện.
- Phó tổng giám đốc: giúp Tổng giám đốc điều hành, quản lý kinh doanh, vạch ra
phương hướng kinh doanh và chịu trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra tiến độ thực hiện
công việc của các bộ phận.
- Phòng Tổ chức hành chính: chịu trách nhiệm quản lý về hồ sơ nhân sự, ký kết hợp
đồng lao động, phân công công việc, theo dõi các hoạt động thi đua, khen thưởng, tiền
lương tiền công.
- Phòng Kế hoạch – Vật tư: trên cơ sở kế hoạch của các phòng ban và của các bộ phận
trong khách sạn tiến hành tổng hợp và xây dựng kế hoạch tổng thể cho khách sạn.
- Phòng kế toán: thực hiện công tác quản lý tài chính, đảm bảo tính kịp thời, đầy đủ và
đúng nguyên tắc; kết hợp với lãnh đạo và các phòng ban khác để tiến hành kiểm tra
đánh giá và phân tích kết quả hoạt động kinh doanh.
- Phòng Sale: có nhiệm vụ triển khai các kế hoạch kinh doanh, thực hiện các chương
trình marketing cho khách sạn, đảm bảo công tác nghiên cứu và phát triển thị trường.
- Bộ phận lễ tân: là nơi liên hệ chính của khách khi ở khách sạn. Làm thủ tục nhận trả
phòng, chịu trách nhiệm giải quyết các phàn nàn, thắc mắc của khách trong phạm vi có
15
Báo cáo thực tập giáo trình
thể, kết hợp thường xuyên với các bộ phận buồng nhằm đảm bảo đón tiếp khách kịp
thời.
- Bộ phận nhà hàng: phục vụ khách ăn uống tại nhà hàng, đảm bảo công tác vệ sinh an
toàn thực phẩm cũng như phục vụ theo yêu cầu của khách hàng khi có sự đặt trước.
- Bộ phận bếp: chuẩn bị và cung cấp thức ăn cho khách trong thời gian khách lưu trú
theo thực đơn và số lượng khách đã đặt trước hoặc được yêu cầu trực tiếp từ khách.

- Về nhà hàng: Tổng số ghế phục vụ khoảng 520 ghế, phân bổ:
- Nhà hàng Cung Đình: 150 ghế
- Nhà hàng Riverside: 200 ghế
- Nhà hàng Hoa Mai: 120 ghế
- Nhà hàng Hàn Quốc: 50 ghế
- Phòng hội nghị, hội thảo: 550 ghế - gồm phòng họp lớn, phòng nhánh và phòng VIP
tại tầng 5 khu C.
- Về dịch vụ bổ sung: có các quầy bar, dịch vụ Massage, beauty salon, phòng tập thể
dục, bể bơi, dịch vụ vận chuyển và dịch vụ trò chơi có thưởng dành cho khách nước
ngoài.
Có thể nói với một cơ sở vật chất, trang thiết bị như trên, khách sạn Hương Giang
cơ bản đã được hoàn thiện, đủ khả năng cạnh tranh và phát triển trong thị trường kinh
doanh du lịch trên địa bàn, tạo việc làm và ổn định thu nhập cho 237 người lao động.
ĐVT: đồng
Bảng 1: Bảng tóm tắt tình hình Tài sản – Nguồn vốn của khách sạn
2.5.3. Tình hình lao động.
17
Khoản mục 30/09/2011 01/01/2011
Tài sản ngắn hạn 46.369.678.584 109.291.765.892
Tài sản dài hạn 256.906.422.766 261.751.533.011
Nợ phải trả 79.372.806.233 143.131.613.497
Vốn chủ sở hữu 223.903.295.117 227.911.705.406
Tổng tài sản 303.276.101.350 371.043.318.903
Báo cáo thực tập giáo trình
Có thể nói lao động trong kinh doanh du lịch có những đặc trưng riêng biệt thể hiện
rõ nét ở đối tượng và sản phẩm của lao động. Muốn tạo ra một dịch vụ được người tiêu
dùng chấp nhận và đánh giá cao thì người phục vụ du lịch phải tìm cách điều chỉnh
hành vi của mình cho phù hợp với hành vi của người tiêu dùng. Đối với những đặc thù
riêng vừa đề cập ở trên, trong hoạt động kinh doanh du lịch đòi hỏi một lượng lao
động cao. Khách sạn Hương Giang cũng không nằm ngoài quy luật đó. Lao động trực

4. Giá vốn hàng bán 11 VI.2
7
11.039.852.188 8.495.674 728
5. Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp
dịch vụ (20 = 10 - 11)
20 1.762.908.188 897.647.781
6. Doanh thu hoạt động tài chính 21 VI.2
6
111.097.070 29.514.218
7. Chi phí tài chính 22 VI.2
8
9.731.398
- Trong đó: Chi phí lãi vay 23
8. Chi phí bán hàng 24
9. Chi phí quản lý doanh nghiệp 25 1.653.340.584 2.018.539.718
10 Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh
doanh {30 = 20 + (21 - 22) - (24 + 25)}
30 210.933.276 (1.091.377.791)
11. Thu nhập khác 31 458.289.477 18.800.531
12. Chi phí khác 32 439.053.412 80.104.667
13. Lợi nhuận khác (40 = 31- 32) 40 19.236.065 (61.304.136)
14. Tổng LN kế toán trước thuế (50 = 30 +
40)
50 230.169.341 (1.152.681.885)
15.Chi phí thuế TNDN hiện hành
16. Chi phí thuế TNDN hoãn lại
51
52
VI.3
0

giá cho họ nhưng sau đó khách sạn sẽ phải trả tiền môi giới cho người đưa khách đến
(tiền này có thể trả ngay hoặc lễ tân sẽ xin tên tuổi, địa chỉ của người môi giới để khi
khách check out sẽ thông báo với họ tới lấy tiền môi giới). Cụ thể, một cá nhân hay tập
thể nào đó giới thiệu cho Công ty một đoàn khách đạt doanh thu ở ngưỡng tối thiểu
quy định thì sẽ được hưởng % hoa hồng trên doanh thu đó, phần trăm hoa hồng sẽ
được trích là 5% đối với doanh thu phòng và 10% doanh thu ăn.
- Khách do các công ty lữ hành đặt trước với khách sạn.
Trước khi đặt quan hệ chính thức với bất kỳ hãng lữ hành nào, khách sạn đều có quá
trình tìm hiểu thông tin về hãng lữ hành đó. Khách sạn sẽ cử nhân viên Sales đến trụ
sở của hãng lữ hành, tham gia 1 tour du lịch của hãng lữ hành đó để xem xét tình hình
hoạt động của hãng như thế nào, tìm hiểu các thông tin khác về hãng lữ hành: tình
hình tài chính, tình hình kinh doanh, lượng khách bình quân, chất lượng các tour, quan
điểm của nhà quản lý… Sau khi tìm hiểu đầy đủ thông tin, khách sạn mới quyết định
có đặt mối quan hệ kinh doanh với hãng hay không.
Nếu quyết định sẽ hợp tác với nhau, 2 bên cùng ngồi lại, thỏa thuận các điều khoản
trong hợp đồng sẽ được ký kết. Trong hợp đồng sẽ không quy định giá cụ thể mà chỉ
đưa ra mức giá bình quân, sau đó căn cứ trên điều kiện thị trường mà mỗi lần hợp tác,
khách sạn sẽ thông báo mức giá chính thức. Tùy hãng lữ hành mà khách sạn sẽ tái ký
hợp đồng 1 năm 1 lần. Khi ký hợp đồng, 2 bên có thể ngồi lại cùng nhau để ký hợp
đồng hoặc giám đốc mỗi bên sẽ ký và gửi hợp đồng chính thức qua bưu điện cho đối
tác.
Theo nguyên tắc, 3 loại khách trên đều có 2 dạng:
- Khách lẻ (là cá nhân).
- Khách đoàn (gồm nhiều người).
21

Trích đoạn Lập hóa đơn chứng từ vàthu tiền: Gửi tiền vào ngân hàng:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status