Hiện trạng mắc bệnh liên quan đến nguồn
nước bị ô nhiễm của người dân vùng nông
thôn ven sông Nhuệ - sông Đáy, tỉnh Hà
Nam
MỞ ĐẦU
Theo đánh giá của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), 2006, khoảng 24% bệnh tật và số ca
tử vong trên thế giới có căn nguyên từ môi trường. Trong số 102 loại bệnh thường gặp
được thống kê ở báo cáo “Sức khỏe toàn cầu của WHO ”có tới 85 bệnh có căn nguyên
từ môi trường. Trong đó, các loại bệnh do ô nhiễm nước gây ra như tiêu chảy, hội
chứng lỵ, ghẻ, viêm kết mạc.
Tại Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Bộ Y tế bước đầu đã có
nghiên cứu mang tính hệ thống hóa về sức khỏe môi trường, trong đó nghiên cứu về
thiết lập kế hoạch triển khai chương trình đánh giá tác động sức khỏe môi trường ở
khu vực ô nhiễm. Chương trình được thực hiện năm 2008 và đã đưa ra danh mục các
loại bệnh do môi trường ô nhiễm, trong đó có các các loại bệnh liên quan đến môi
trường nước bị ô nhiễm.
Vấn đề ô nhiễm môi trường nước, trong đó ô nhiễm các dòng sông đang là một trong
những vấn đề bức xúc cần giải quyết. Lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy là một trong 3
lưu vực có mức độ ô nhiễm cao, ảnh hưởng tới sức khỏe con người và môi trường.
Lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy bao gồm một phần của tỉnh Hòa Bình, Hà Nội và toàn
bộ các tỉnh Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình.
1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Chất lượng nước sông Nhuệ - sông Đáy chảy qua địa phận tỉnh Hà Nam.
- Hiện trạng người dân mắc các loại bệnh có liên quan đến ô nhiễm nước, trong đó là
bệnh tiêu chảy, hội chứng lỵ, ghẻ, bệnh viêm kết mạc tại tỉnh Hà Nam.
Trong 5 tỉnh thuộc lưu vực nêu trên, tỉnh Hà Nam là tỉnh chịu tác động mạnh nhất do
nước sông bị ô nhiễm gây ra, đặc biệt là khu vực nông thôn. Theo điều tra dân số
1/4/2009, Hà Nam có 785.057 người, chiếm 4,01% dân số đồng bằng sông Hồng, mật
độ dân số 913 người/km2. Điều đáng lưu ý là tỷ lệ dân số sống ở khu vực nông thôn
của tỉnh Hà Nam chiếm tới 91,5%, trong khi đó chỉ có 8,5% dân cư sống ở khu vực đô
Luộc (28 km), sông Sặt (sông Kẻ Sặt), sông Chanh, sông Cử An (sông Cửu Yên),
sông Tam Đô, sông Điện Biên Trong các sông, sông Bần và sông Bắc Hưng Hải là
có chất lượng nước thấp nhất. Nhìn chung, nước các con sông của tỉnh chưa bị ô
nhiễm nặng như so với sông Nhuệ - sông Đáy của tỉnh Hà Nam.
2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1. Hiện trạng sử dụng nguồn nước mặt cấp
Nguồn nước cấp cho mục đích sinh hoạt của tỉnh Hà Nam bao gồm từ 2 nguồn chính,
đó là nước mặt và nước ngầm. Hiện trạng khai thác và sử dụng tài nguyên nước mặt
phục vụ mục đích sinh hoạt của tỉnh theo từng khu vực sau:
Vùng phía Tây sông Đáy: Đất dân cư chiếm tỷ lệ nhỏ, nằm rải rác trên những vùng đồi
nên việc khai thác, cấp nước tập trung sẽ khó khăn hơn so với những vùng khác. Hiện
nay, thực trạng nguồn nước cấp tại khu vực này còn nhiều hạn chế, đa số các hộ dân
sử dụng trực tiếp các nguồn nước từ giếng đào, giếng khoan (trừ thị trấn Kiện Khê
được sử dụng nguồn nước tập trung).
Khu đồng bằng phía đông sông Đáy:
- Tiểu khu đồng bằng cao (huyện Duy Tiên, thị xã Phủ Lý và một phần đồng bằng
thuộc huyện Kim Bảng): sử dụng nguồn nước từ nhà máy nước Phủ Lý với công suất
cấp nước khoảng 5000 m3/ngày đêm - lấy nguồn nước mặt của sông Đáy. Ngoài thị
xã Phủ Lý, thị trấn Quế và một số xã như Đồng Hóa, Nhật Tân, Văn Xá, Lê Hồ,
Nguyễn Úy có nguồn nước cấp tập trung cung cấp một phần cho nhu cầu sinh hoạt;
còn lại các huyện, thị đều phải sử dụng trực tiếp các nguồn nước mặt và nước ngầm.
- Tiểu khu đồng bằng thấp (huyện Lý Nhân, huyện Bình Lục và một phần đồng bằng
thuộc huyện Thanh Liêm): Hiện tại, chỉ có hai khu vực thuộc thị trấn Bình Mỹ và thị
trấn Vĩnh Trụ có nguồn cấp nước tập trung. Còn lại các vùng thuộc nông thôn vẫn
chưa có hệ thống nước máy, người dân vẫn phải tìm cách khai thác nước sinh hoạt
thông qua nguồn nước ngầm tầng nông (giếng khoan, giếng đào) hoặc nước mặt. Đặc
biệt, đây là vùng trũng nên việc khai thác nước cho mục đích sinh hoạt vào mùa mưa
sẽ gặp khó khăn hơn. Nguyên nhân là các vùng trũng, khả năng tiêu thoát nước rất
khó nên nước không lưu thông - chính vì vậy sẽ tăng phát triển dịch bệnh thông qua
nước.
A2).
Thậm chí, nếu so sánh với tiêu chuẩn QCVN 08-2008, Loại B1 (Dùng cho mục đích
tưới tiêu thủy lợi hoặc các mục đích sử dụng khác có yêu cầu chất lượng nước tương
tự) nước sông Nhuệ tại các điểm quan trắc trên cũng không đạt tiêu chuẩn quy định.
Tóm lại, hiện trạng nước sông Nhuệ, đoạn chảy qua tỉnh Hà Nam (trước khi nhập với
sông Đáy) không đạt tiêu chuẩn QCVN 08- 2008, Loại B1. Điều này cũng có nghĩa là
nước sông Nhuệ không phù hợp cho mục đích sinh hoạt cả trong 2 trường hợp sử
dụng trực tiếp (không qua xử lý) cũng như cấp cho nhà máy nước.
Hiện trạng ô nhiễm nước sông Đáy
Theo kết quả quan trắc chất lượng nước sông Đáy 6 tháng đầu năm 2009 (bảng 4), tất
cả các điểm quan trắc nước sông đều đạt tiêu chuẩn (so với QCVN 08-2008, loại B1).
Nếu so với QCVN 08:2008, loại A2, độ pH dao động trong khoảng 7,2- 7,6 nằm trong
tiêu chuẩn cho phép; Giá trị BOD và dinh dưỡng đa số đều đạt giới hạn cho phép. Chỉ
có tại cầu Hồng Phú nồng độ COD là 16 mg/l vượt 1,06 lần giới hạn cho phép. Nồng
độ NH4+ tại tất cả các vị trí lấy mẫu đều cao hơn giới hạn cho phép loại A2 theo
QCVN 08:2008, cao nhất tại vị trí cầu Bồng Lạng là 1,845 mg/l-N gấp 9,22 lần Quy
chuẩn loại A2. Nồng độ NO2- cao hơn giới hạn cho phép loại A2 từ 3,3-7,2 lần.
Thông số coliform tại một số vị trí lấy mẫu cao hơn giới hạn cho phép.
Nhìn chung, chất lượng nước tại sông Đáy vẫn vượt quá mức độ cho phép của QCVN
08-2008, loại A2. Tuy nhiên, mức độ ô nhiễm ở đây thấp hơn so với sông Nhuệ.
2.3. Tình trạng người dân mắc các bệnh liên quan đến nguồn nước bị ô nhiễm
Tại Hà Nam, các loại bệnh người dân mắc phải liên quan đến nguồn nước ô nhiễm
gây nên như bệnh đường tiêu hóa (viêm nhiễm, tiêu chảy ), bệnh ngoài da, bệnh phụ
khoa được thể hiện tương đối rõ tại Bảng 5.
Qua những số liệu về một số bệnh có liên quan đến chất lượng nước bị ô nhiễm có thể
nhận thấy, tại các xã ven sông thường có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn so với các xã không
chịu ảnh hưởng của nước sông, đặc biệt là các bệnh như ngoài da, phụ khoa, tiêu chảy
(Bảng 6).