Tài liệu Đề tài " Một số phương pháp xử lý nguồn nước bị ô nhiễm " - Pdf 10


BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
đề tài : “MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP XỬ
LÝ NGUỒN NƯỚC BỊ Ô NHIỄM”

LỜI NÓI ĐẦU
***&***
Trong môi trường sống nói chung, vấn đề bảo vệ và cung cấp nước sạch là
vô cùng quan trọng. Đồng thời với việc bảo vệ và cung cấp nước sạch, việc thải
và xử lý nước thải trước khi đổ vào nguồn là một vấn đề bức xúc đối với toàn
thể loài người.
Trong những năm gần đây,cùng với sự phát triển của nền công ghiệp nước ta,
tình hình ô nhiễm môi trường cũng gia tăng đến mức báo động. Do đặc thù của
nền công nghiệp mới phát triển, chưa có sự quy hoạch tổng thể và nhiều nguyên
nhân khác nhau như: điều kiện kinh tế của nhiều xí nghiệp còn khó khăn, hoặc
do chi phí xử lý ảnh hưởng đến lợi nhuận nên hầu như chất thải công nghiệp của
nhiều nhà máy chưa được xử lý mà thải thẳng ra môi trường. Mặt khác nước ta
là một nước đông dân, có mật độ dân cư cao, nhưng trình độ nhận thức của con
người về môi trường còn chưa cao, nên lượng chất thải sinh hoạt cũng bị thải ra
môi trường ngày càng nhiều. Điều đó dẫn tới sự ô nhiễm trầm trọng của môi
trường sống, ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của đất nước, sức khỏe, đời
sống của nhân dân cũng như vẻ mỹ quan của khu vực.
Trong đó, ô nhiễm nguồn nước là một trong những thực trạng đáng ngại nhất
của sự hủy hoại môi trường tự nhiên do nền văn minh đương thời. Ngày nay vấn
đề xử lý nước và cung cấp nước sạch đang là một mối quan tâm lớn của nhiều
quốc gia, nhiều tổ
chức xã hội và chính bản thân mỗi cộng đồng dân cư. Và đây cũng là một vấn đề
cấp bách cần giải quyết của nước ta trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước.Nhằm
mục đích góp phần vào việc bảo vệ môi trường sống của con người, em chọn đề
tài “MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NGUỒN NƯỚC BỊ Ô NHIỄM “.

II.1. Lọc qua song chắn rác .13
II.2. Lắng tụ 14
II.3. Lọc 14
II.4. Đông tụ và keo tụ 14
II.5. Tuyển nổi . .15
II.6. Hấp phụ 15
II.7. Trao đổi ion . .15
II.8 Thẩm thấu ngược 16
III. Các phương pháp hóa học 16
IV. Các phương pháp hóa sinh 17
IV.1. Xử lý nước thải trong điều kiện tự nhiên .17
IV.2. Xử lý nước thải trong điều kiện nhân tạo 18
$.Các công trình xử lý phụ khác 19
I. Khử trùng nước thải 19
I.1. Khử trùng bằng phương pháp vật lý 19
I.2. Khử trùng bằng phương pháp hóa học 19
II. Khử mùi và vị 21
III. Loại chất phóng xạ 21
Phần IV. Kết luận 22
Tài liệu tham khảo 23.
Phụ lục 23
PHẦN I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
I. Lý do chọn đề tài:
Hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm nguồn nước nói
riêng đang là một thực trạng đáng lo ngại. Vấn đề xử lý nước và cung cấp nước
sạch đang là một mối quan tâm lớn của nhiều quốc gia, nhiều tổ chức xã hội và
chính bản thân của mỗi cộng đồng dân cư, nước ta cũng không ngoại lệ. Nhằm
góp phần vào việc bảo vệ môi trường sống của con người, em đã chọn đề tài
này.

ánh lượng oxy cần thiết để oxy hoá các hợp chất hữu có trong mẫu nước nhờ
hoạt động sống của vi sinh vật. BOD thể hiện được lượng chất hữu cơ dễ bị
phân huỷ có trong nước mẫu.
Đơn vị: mg/l.
• Nhu cầu oxy hoá học (Chemical Oxygen Demand – COD): là chỉ số phản ánh
lượng oxy cần thiết để oxy hoá các chất có nhu cầu về oxy trong nứơc mẫu. Giá
trị COD thể hiện toàn bộ các chất hữu cơ có thể bị oxy hoá bằng tác nhân hoá
học và luôn cao hơn giá trị BOD. Đơn vị: mg/l.
• Hàm lượng các kim loại và kim loại nặng: asen, cadimi, chì, niken, crom, sắt,
kẽm, mângn, thuỷ ngân, thiếc, Đơn vị: mg/l.
• Hàm lượng dầu mỡ khoáng, dầu động thực vật. Đon vị: mg/l.
• Photpho tổng số, photpho hữu cơ. Đơn vị: mg/l.
• Tổng nitơ, amoniac theo nitơ. Đơn vị: mg/l.
• Hàm lượng florua, clorua, sunfua. Đơn vị: mg/l.
• Hàm lượng phenol, xianua. Đơn vị: mg/l.
• Coliform: là chỉ số cho biết số lượng các vi khuẩn gây bệnh đường ruột trong
mẫu nước. Đơn vị: MPN/100ml.
A.Tình trạng ô nhiễm nước trên thế giới và Việt Nam
I.Tình trạng ô nhiễm nước trên thế giới:
Trong thập niên 60 của thế kỷ 20, ô nhiễm nước đang với nhịp độ đáng lo ngại.
Tiến độ ô nhiễm phản ánh trung thực tiến bộ phát triển kỹ nghệ. Ta có thể kể ra:
_ Ở Anh Quốc chẳng hạn: Đầu thế kỷ 19, nước sông Thames rất sạch. Nó trở
thành ống cống lộ thiên vào giữa thế kỷ này. Các sông khác cũng có tình trạng
tương tự trước khi người ta đưa ra các biện pháp xử lý và bảo vệ nghiêm ngặt.
_ Nước Pháp rộng hơn, kỹ nghệ phân tán và nhiều sông lớn nhưng vấn đề cũng
không khác bao nhiêu. Dân Paris còn uống nước sông Seine đến cuối thế kỷ 18.
Từ đó vấn đề đổi khác: các sông lớn và nước ngầm nhiều nơi không còn dùng
làm nước sinh hoạt được nữa, 5000 km sông của Pháp bị ô nhiễm mãn tính.
Sông Rhin chảy qua vùng kỹ nghệ hóa mạnh, khu vực có hơn 40 triệu người, là
nạn nhân của nhiều tai nạn thêm vào các nguồn ô nhiễm thường xuyên.

vùng ven biển sông Hồng, sôngThái Bình, sông Cửu Long, ven biển miền
Trung,…
II.2. Ở vùng nông thôn Việt Nam
Theo kết quả tổng quan điều tra dân số thì dân số nông thôn Việt Nam chiếm
76,5% tổng dân số cả nước. Tuy nhiên nếu tính cả dân số các đô thị loại V
chiếm khoảng 7% thì địa bàn cấp nước và vệ sinh nông thôn phải phục vụ là hơn
83% hay khoảng 64 triệu người. Dự báo đến năm 2020 dân số nông thôn và các
đô thị nhỏ khoảng 69 triệu người. Trong đó dân số tại các đô thị nhỏ là 19%. Đô
thị nhỏ ở đây chủ yếu là đô thị loại V với dân số tới 30.000 người, là những thị
trấn, thị tứ nhỏ nằm rải khắp và gắn bó mật thiết với các vùng nông thôn. Ngoài
gần 9000 xã vùng nông thôn, còn có 520 thị trấn, đô thị nhỏ. Trong số các xã,
xét theo địa lý có 2.061 xã vùng cao, 1763 xã vùng núi, 335 xã biên giới, 47 xã
hải đảo, 556 xã ven biển, 800 xã ven đô.
Có thể nói, nông thôn nước ta là nơi cung cấp nhân tài, vật lực cho đất nước.
Trong khi đó đời sống nhân dân nông thôn vẫn còn nghèo, gặp nhiều khó khăn,
bao gồm cả vấn đề cấp nước, thoát nước và vệ sinh môi trường.
Nước sạch và vệ sinh môi trường là nhu cầu cơ bản trong đời sống hàng ngày
của mọi người và đang trở thành đòi hỏi bức bách trong việc bảo vệ sức khoẻ và
cải thiện điều kiện sinh hoạt cho nhân dân.
Hiện nay ý thức bảo vệ môi trường nông thôn chưa tốt, việc xả rác thải sinh hoạt
hàng ngày xuóng các ao hồ tự nhiên vẫn còn diễn ra khá phổ biến, gây ô nhiễm,
đe doạ đến chất lượng nguồn nước ngầm do lượng nước thải không qua xử lý
thấm xuống các tầng nước ngầm và mất mỹ quan môi trường sống.
Ngoài ra, do không được đầu tư đúng mức nên hệ thống cống thoát nước chưa
được xây dựng hoàn chỉnh, hầu hết các cống không có nắp nên ô nhiễm môi
trường là không thể tránh khỏi. Mỗi gia đình có trung bình từ 4 – 5 người;
chuồng lợn có từ 2 – 4 con; chuồng trâu, bò có từ 1 – 2 con; chuồng gà với
khoảng 10 – 15 con, 10 – 20 con ngan vịt. Có một đến hai ao nhỏ để thả cá.
Phần đất còn lại để trồng rau và cây ăn quả.
B. Phân loại nước ô nhiễm và tính chất của nó:

Nước thải từ các cơ sở chế biến nông sản, thực phẩm và thủy sản (đường, sữa,
bột tôm cá, rượu, bia,…,) có nhiều chất hữu cơ dễ bị phân hủy; nước thải của
các xí nghiệp làm acquy có nồng độ axit và chì cao,… Tóm lại, nước thải từ các
ngành hoặc xí nghiệp khác nhau có thành phần hóa học và hóa sinh khác nhau
II. Tính chất:
Các tính chất đặc trưng của nước thải sinh hoạt, công nghiệp được tóm tắt như
sau:
* Các tính chất vật lý, hóa học và sinh học đặc trưng của nước thải, và nguồn
gốc của chúng:
Tính chất Nguồn phát sinh
Các tính chất vật lý:- Màu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . - Mùi . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . Chất rắn . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . - Nhiệt
độ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . - Các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, sự phân
rã tự nhiên các chất hữu cơ. - Sự thối rữa nước thải và các chất thải công nghiệp.
- Cấp nước cho sinh hoạt, các chất thải sinh hoạt và sản xuất, xói mòn đất, dòng
thấm, chảy vào hệ thống cống. - Các chất thải sinh hoạt và sản xuất.
Thành phần sinh học: - Các động vật . . . . . . . . . . . . . . . Thưc
vật . . . . . . . . . . . . . . . . . . Sinh vật nguyên sinh, virut. . . . . . . - Các dòng
nước hở và các nhà máy xử lý. - Các dòng nước hở và các nhà máy xử lý. - Các
chất thải sinh hoạt và nhà máy xử lý các chất thải sinh hoạt.
_Thành phần hóa học: + Nguồn gốc hữu cơ: . . . . . . . . . . .+ Nguồn gốc vô
cơ: . . . . . . . . . . .+Các khí : . . . . . . . . . . . . . . . . - Các chất thải nông nghiệp,
sinh hoạt và thương mại, sản xuất Các chất thải công nghiệp, sự thấm của nước
ngầm- Nước thải sinh hoạt, cấp nước sinh hoạt và sự thấmcủa nước ngầm.
PHẦN III:
CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NƯỚC Ô NHIỄM
Thông thường có các phương pháp xử lý sau:
_ Xử lý bằng phương pháp sinh học.
_ Xử lý bằng phương pháp hóa lý.
_ Xử lý bằng phương pháp hóa học.

ã Ao ổn định nước thải:
Phương pháp xử lý sinh học đơn giản nhất là kỹ thuật “ổn định nước thải”. Đó là
một loại ao chứa nước trong nhiều ngày phụ thuộc vào nhiệt độ, oxy được tạo ra
qua hoạt động tự nhiên của tảo trong ao. Cơ chế xử lý trong ao ổn định chất thải
bao gồm cả hai quá trình hiếu khí và kị khí.
_ Ao ổn định chất thải hiếu khí: là loại ao cạn cỡ 0,3-0,5m được thiết kế sao cho
ánh sáng mặt trời thâm nhập vào lớp nước nhiều nhất làm phát triển tảo do hoạt
động quang hợp để tạo oxy. Điều kiện không khí bảo đảm từ mặt ao đến đáy ao.
_ Ao ổn định chất thải kỵ khí: là loại ao sâu không cần oxy hòa tan cho hoạt
động vi sinh. Ở đây các loại vi sinh kỵ khí và vi sinh tùy nghi dùng oxy từ các
hợp chất như nitrat, sunfat để oxy hóa chất hữu cơ thành mêtan và CO2. Như
vậy các ao này có khả năng tiếp nhận khối lượng lớn chất hữu cơ và không cần
quá trình quang hợp tảo. Ao ổn định chất thải tùy nghi là loại ao hoạt động theo
cả quá trình kỵ khí và hiếu khí. Ao thường sâu từ 1-2m, thích hợp cho việc phát
triển tảo và các vi sinh tùy nghi. Ban ngày khi có ánh sáng, quá trình xảy ra
trong ao là hiếu khí. Ban đêm ở lớp đáy ao quá trình chính là kỵ khí. Ao ổn định
chất thải tùy nghi thường được sử dụng nhiều hơn hai loại trên. Ngoài ba loại ao
trên, theo phương pháp “ ao ổn định chất thải ” người ta còn kết hợp với các loại
ao nuôi cá, ao thủy thực vật ao rau muống, lục bình Để tăng cường hiệu quả xử
lý nước thải, ta nên kết nối các loại ao với nhau.
I.2. Các phương pháp thiếu khí ( anoxic ):
Trong điều kiện thiếu oxy hòa tan việc khử nitrit hóa sẽ xảy ra. Oxy được giải
phóng từ nitrat sẽ oxy hóa chất hữu cơ và nitơ sẽ được tạo thành.
NO3 Vi sinh NO2 + O2
O2 Chất hữu cơ N2 + CO2 +H2O
Trong hệ thống xử lý theo kỹ thuật bùn hoạt tính sự khử nitrit hóa sẽ xảy ra khi
không tiếp tục thông khí. Khi đó oxy cần cho hoạt động của vi sinh giảm dần và
việc giải phóng oxy từ nitrit sẽ xảy ra. Theo nguyên tắc trên, phương pháp thiếu
khí ( khử nitrit hóa ) được sử dụng để loại nitơ ra khỏi nước thải.
I.3. Các phương pháp kỵ khí:

người ta có thể dùng rây.Đây là hình thức xử lý sơ bộ. Đây là bước quan trọng
đảm bảo an toàn và điều kiện làm việc thuận lợi cho cả hệ thống xử lý nước tự
nhiên lẫn nước thải.
II.2. Lắng tụ:
Được dùng để lắng các tạp chất tan thô ra khỏi nước thải ( sinh hoạt và công
nghiệp ). Lắng tụ diễn ra dưới tác dụng của trọng lực. Để lắng người ta sử dụng
bể lắng cát, bể lắng và bể lắng trong.
• Bể lắng cát:
Được dùng để loại sơ bộ chất bẩn khoáng và hữu cơ ( 0,2-0,25mm ) ra khỏi
nước thải. Bể lắng cát ngang là hồ chứa có tiết diện ngang là tam giác hoặc hình
thang. Chiều sâu bể lắng cát 0,25-1m. Vận tốc chuyển động của nước không quá
0,3m/s. Bể lắng cát dọc có dạng hình chữ nhật, tròn, trong đó nước chuyển động
theo dòng từ dưới lên với vận tốc 0,05m/s.
• Bể lắng trong:
Bể lắng được sử dụng để làm sạch tự nhiên và để làm trong nước thải công
nghiệp. Người ta thường sử dụng bể lắng trong với lớp cặn lơ lửng trong đó
người ta cho nước với chất đông tụ đi qua đó .
II.3. Lọc:
Lọc được dùng để xử lý nước thải, để tách các loại tạp chất nhỏ ra khỏi nước
thải mà bể lắng không lắng được. Trong các loại phin lọc thường có các loại
phin lọc dùng vật liệu lọc dạng tấm hoặc dạng hạt. Vật liệu dạng tấm có thể làm
bằng tấm thép có đục lỗ hoặc lưới bằng thép không gỉ, nhôm, niken, đồng, thau,
… và cả các loại vải khác nhau ( thủy tinh, amiăng, bông, len, sợi tổng hợp ).
Tấm lọc cần có trở lực nhỏ, đủ bền và dẻo cơ học, không bị trương nở và bị phá
hủy ở điều kiện lọc
II.4. Đông tụ và keo tụ:
a. Đông tụ:
Hỗn hợp phân tán nhỏ được loại ra khỏi nước bằng phương pháp đông tụ. Đông
tụ là phương pháp xử lý nước bằng tác chất nhằm hình thành các phân tử lớn từ
các phân tử nhỏ. Phần tử các chất đục mang điện tích âm. Việc loại các chất này

chất hữu cơ hòa tan sau khi xử lý sinh học cũng như xử lý cục bộ khi trong nước
thải có chứa một hàm lượng rất nhỏ các chất đó. Những chất này thường không
phân hủy bằng con đường sinh học và thường có độc tính cao. Nếu các chất này
bị hấp phụ tốt và khi chi phí riêng lượng chất hấp phụ không lớn thì việc ứng
dụng phương pháp này là hợp lí hơn cả
Trong xử lý nước thải công nghiệp, hấp phụ được ứng dụng để khử độc nước
thải khỏi thuốc diệt cỏ, phenol, thuốc sát trùng, các hợp chất hữu cơ vòng thơm,
chất hoạt động bề mặt, thuốc nhuộm, màu hoạt tính .Ưu điểm của phương pháp
này là hiệu quả cao, có khả năng xử lý nhiều chất trong nước thải và có thể thu
hồi các chất này.
II.7. Trao đổi ion:
Phương pháp này được ứng dụng để làm sạch nước hoặc nước thải khỏi các kim
loại như: Zn, Cu, Cr, Pb, Ni, Hg, Cd, V, Mn,…, cũng như các hợp chất của asen,
photpho, xyanua và các chất phóng xạ, khử muối trong nước cấp, cho phép thu
hồi các chất có giá trị và đạt mức độ làm sạch cao. Vì vậy, nó được ứng dụng
rộng rãi để tách muối trong xử lý nước và nước thải.
II.8. Thẩm thấu ngược:
• Cơ chế của quá trình:
Màng bán thấm không có khả năng hòa tan. Nếu như chiều dày của lớp phân tử
nước bị hấp phụ bằng hoặc lớn hơn một nửa đường kính mao quản của màng thì
dưới tác dụng của áp suất chỉ có nước sạch đi qua, mặc dù kích thước của nhiều
ion nhỏ hơn kích thước cuả phân tử nước. Lớp hiđrat của các ion này cản trở
không cho chúng đi qua mao quản của màng. Kích thước màng hiđrat của các
ion khác nhau sẽ khác nhau. Nếu chiều dày của lớp phân tử nước bị hấp phụ nhỏ
hơn nửa đường kính mao quản thì các chất hòa tan sẽ chui qua màng cùng với
nước.
· Ưu điểm:
_ Không có pha chuyển tiếp trong tách tạp chất cho phép tiến hành quá trình với
chi phí năng lượng thấp.
_ Có thể tiến hành quá trình ở nhiệt độ phòng không có bổ sung hoặc bổ sung ít

cặn độc.
IV.1. Xử lý nước thải trong điều kiện tự nhiên:
Các quá trình xử lý sinh học có thể diễn ra trong điều kiện tự nhiên và trong các
công trình nhân tạo. Trong điều kiện tự nhiên việc xử lý xảy ra trên các cánh
đồng tưới, cánh đồng lọc và các ao sinh học. Các công trình nhân tạo là các bể
thông khí (aerotank) và các thiết bị lọc sinh học. Kiểu công trình xử lý được
chọn phụ thuộc vào vị trí nhà máy, điều kiện khí hậu, nguồn cấp nước, thể tích
nước thải công nghiệp và sinh hoạt, thành phần và nồng độ chất ô nhiễm. Trong
các công trình nhân tạo, các quá trình xử lý xảy ra lớn hơn trong điều kiện tự
nhiên.
a) Cánh đồng tưới:
Đó là khu đất được chuẩn bị riêng biệt để sử dụng đồng thời hai mục đích: Xử lý
nước thải và gieo trồng. Xử lý nước thải trong điều kiện tự nhiên diễn ra dưới
tác dụng của hệ vi thực vật dưới đất, mặt trời, không khí và dưới ảnh hưởng của
thực vật. Trong đất, cánh đồng tưới có vi khuẩn, men, nấm, rêu tảo, động vật
nguyên sinh và động vật không xương sống. Nước thải chứa chủ yếu là vi
khuẩn. Trong lớp đất tích cực xuất hiện sự tương tác phức tạp của các vi sinh vật
có bậc cạnh tranh. Số lượng vi sinh vật trong cánh đồng tưới phụ thuộc vào thời
tiết trong năm. Vào mùa đông, số lượng vi sinh vật nhỏ hơn rất nhiều so với mùa
hè. Nếu trên các cánh đồng không gieo trồng cây nông nghiệp và chúng chỉ
được dùng để xử lý sinh học nước thải thí chúng được gọi là các cánh đồng lọc
nước. Các cánh đồng tưới sau khi xử lý sinh học nước thải, làm ẩm và bón phân
được xử dụng để gieo trồng cây có hạt và cây ăn tươi, cỏ, rau cũng như để trồng
cây lớn và cây nhỏ (dạng cây bụi, khóm).
Cánh đồng tưới có các ưu điểm sau :
1. Giảm chi phí đầu tư và vận hành.
2. Không thải nước ra ngoài phạm vi diện tích tưới.
3. Bảo đảm được mùa cây nông nghiệp lớn và bền.
4. Phục hồi đất bạc màu.
Ao sinh học:

trong aerotank. Lượng khí lên men rất lớn, đến 0,5 – 0,7m3/kg BODtp
$ Các công trình xử lý phụ khác:
I. Khử trùng nước thải:
Qua các công trình xử lý cơ học cũng như sinh học không loại trừ được một
cách triệt để các loại vi khuẩn, nhất là vi khuẩn gây bệnh, bởi vậy nước thải cần
được khử trùng trước khi xả vào nguồn. Để khử trùng nước thải, người ta có thể
sử dụng hai phương pháp là : phương pháp vật lí và phương pháp hóa học.
I.1. Khử trùng bằng phương pháp vật lý:
I.1.1. Phương pháp nhiệt:
Đây là phương pháp đơn giản và lâu đời nhất, giết được các vi thể gây bệnh như
các vi khuẩn, vi trùng, nang , trứng. Đó là biện pháp hiệu quả trong xử lý phạm
vi hộ gia đình, song không khả thi trong xử lý nước cấp cho cộng đồng, chỉ sử
dụng trong trường hợp khẩn cấp
I.1.2. Khử trùng bằng tia cực tím:
Là phương pháp khử trùng đối với nước trong, hiệu quả giảm đáng kể khi nước
đục hoặc chứa các phần tử như nitrat, sunfat và sắt.
Nước làm sạch bằng phương pháp này không bị thay đổi tính chất và vị của nó.
Tuy nhiên, phương pháp này giá thành cao chỉ thấy ở các nước phát triển I.1.3.
Khử trùng bằng siêu âm: Đây là một phương pháp khử trùng triệt để nhưng tốn
kém. Dưới tác dụng của sóng siêu âm giết chết các tế bào thực, động vật, các vi
sinh và cả những cơ thể lớn hơn rất độc có trong nước uống và nước kỹ thuật.
I.2. Khử trùng bằng phương pháp hóa học:
Cơ sở của phương pháp này là sử dụng các chất oxy hóa mạnh để oxy hóa men
của tế bào vi sinh vật và tiêu diệt chúng. Các hóa chất thường dùng là các
halogen như: clo, brôm, iod, clodioxit và các hợp chất khác của clo, ozon, kali
permanganat, hydro, peoxit,…
Phương pháp khử trùng hóa học có hiệu suất cao nên được sử dụng rất rộng rãi
và cho mọi quy mô
I.2.1. Sát trùng nước bằng clo và các hợp chất của clo:
Bản chất tác dụng khử trùng của clo là quá trình oxy hóa khử diễn ra khi tương

pháp này cũng rất ít sử dụng.
II. Khử mùi và vị:
Là xử lý nước với mục đích khử các mùi hôi và vị gây nên bởi các chất khác
nhau có mặt trong nước đôi khi với lượng không xác định được qua phân tích.
Mùi trong nước có thể do: H2S, C6H5OH, Cl2, các muối hòa tan,…, các chất
hoạt động bề mặt trong nước hay các chất độc trong nông nghiệp đưa đến. Khử
mùi và vị bằng cách lọc qua lớp than hoạt tính. Để khử phenol và clophenol ứng
dụng clo hóa nước, nhận được dẫn xuất polyclo không có mùi hôi. Tác dụng khử
mùi và vị của clo có thể tăng lên nếu thêm permanganat. Phương pháp ozon hóa
cũng là phương pháp làm vị nước tốt hơn. Phương pháp này được dùng trong
làm sạch các chất hoạt động bề mặt có trong
III. Loại chất phóng xạ:
Trong nước tự nhiên có chứa các chất phóng xạ có nguồn gốc tự nhiên hay nhân
tạo. Có thể khử hoạt tính của nước bằng hai cách:
_ Giữ nước trước khi đưa đi sử dụng một khoảng thời gian đủ để phân hủy các
đồng vị có thời gian sống ngắn.
_ Loại các chất phóng xạ lơ lửng. Loại các chất phóng xạ trong nước bằng cách
chưng cất, để lắng, lọc, keo tụ, hấp phụ ( bằng đất sét, than hoạt tính, các chất
hấp phụ kim loại và các chất khác ) trao đổi ion và kết hợp giữa các phương
pháp trên
Trong ngành công nghiệp xử lý các chất phóng xạ từ trước đến nay người ta
thường chôn chúng trong các hố khoan sâu trong lòng đất ở các nơi hoang vắng,
cách xa các khu dân cư. Đối với các chất thải phóng xạ có cường độ thấp người
ta thường pha loãng rồi đổ xuống biển hay đại dương. Trong một số trường hợp
nguy hiểm người ta trộn bả thải khô với một số chất phụ gia rồi nấu chảy thành
thủy tinh sau đó cất giữ các khối thủy tinh rắn này vào trong các hầm chứa đặc
biệt. Hiện nay, người ta cho rằng đây là phương pháp bảo quản chất thải phóng
xạ bảo đảm nhất và an toàn nhất
PHẦN VI:
KẾT LUẬN

dệt nhuộm - Năm 1999.
3. Công nghệ xử lý nước thải bằng biện pháp sinh học - Nhà xuất bản giáo dục.
4. Tạp chí Bảo Vệ Môi Trường
5. Tạp chí Nước sạch vệ sinh môi trường
6. Tạp chí Khoa Học Công Nghệ - Môi Trường, Bộ Khoa Học, Công Nghệ Và
Môi Trường
7. Xử lý nước thải sinh hoạt quy mô nhỏ và vừa - Nhà xuất bản khoa học và kỹ
thuật.
8. express.net/GL/Xa-hoi/2009/
9. http:// vnecon.com


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status