Ôn Văn học Trung đại - Lớp 9 - Pdf 15

TÓM TẮT TRUYỆN KIỀU
Nội dung chính của truyện xoay quanh quãng đời lưu lạc sau khi bán mình
chuộc cha của Thuý Kiều, nhân vật chính trong truyện, một cô gái "sắc nước
hương trời" và có tài "cầm kỳ thi họa".
Theo kịch tính của tác phẩm, có thể chia truyện thành 13 phần nhỏ như sau:
Tóm tắt
Nguyễn Du đem thuyết "tài mệnh tương đố" (tài và mệnh ghét nhau) làm
luận đề cuốn truyện. Sau đó tác giả nói về gia thế và tả tài sắc hai chị em
Vân - Kiều.
Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Lạ gì bỉ sắc tư phong
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.
Kiều thăm mộ Đạm Tiên
Vào khoảng thời vua Minh Thánh Tông (1522-1566), trong một gia đình viên
ngoại họ Vương có 3 người con, con cả là Vương Thuý Kiều, sau là Thuý Vân
và Vương Quan là cậu út. Hai chị em Thúy Kiều và Thuý Vân thì "mỗi người
một vẻ, mười phân vẹn mười", nhưng "so bề tài, sắc" thì Thuý Kiều lại hơn
hẳn cô em. Trong một lần đi tảo mộ vào tiết Thanh minh, khi đi qua mộ Đạm
Tiên, một "nấm đất bên đàng", Kiều đã khóc thương và không khỏi cảm thấy
ái ngại cho một "kiếp hồng nhan" "nổi danh tài sắc một thì" mà giờ đây
"hương khói vắng tanh". Vốn là một con người giàu tình cảm và tinh tế nên
Kiều cũng đã liên cảm tới thân phận của mình và của những người phụ nữ nói
chung:
Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung
Kiều gặp Kim Trọng
Cũng trong ngày hôm đó, Kiều đã gặp Kim Trọng, là một người "vốn nhà
trâm anh", "đồng thân" với Vương Quan, từ lâu đã "trộm nhớ thầm yêu"

Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang!'
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây
Do đau thương quá nên Thuý Kiều đã ngất đi trên tay người thân.
Kiều rơi vào tay Mã Giám Sinh và Tú bà Mã Giám Sinh vốn là "một đứa
phong tình đã quen" cùng với Tú bà mở hàng "buôn phấn bán hương",
chuyên đi mua gái ở các chốn về "lầu xanh". Thấy Thuý Kiều như là một món
hàng ngon, nhất quyết mua về, lấy tiếng là làm vợ nhưng sau khi "con ong
đã tỏ đường đi lối về", Thuý Kiều đã bị Tú bà bắt phải tiếp khách. Nàng nhất
quyết không chịu, tự vẫn bằng dao nhưng không chết. Tú bà đành nhượng bộ
cho nàng ra ở lầu Ngưng Bích. Ở nơi này, nỗi nhớ người thân luôn luôn ấp ủ
trong lòng: Xót người tựa cửa hôm mai Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ.
Và nỗi buồn của người thiếu nữ được thể hiện qua những câu thơ chất chứa
2
đầy cảm xúc: Buồn trông cửa bể chiều hôm Thuyền ai thấp thoáng cánh
buồm xa xa Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu
Buồn trông nội cỏ rầu rầu Chân mây mặt đất một màu xanh xanh Buồn trông
gió cuốn mặt duềnh Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
Kiều mắc lừa Sở Khanh.
Sống một mình giữa không gian mênh mông xa vắng đó nên khi gặp Sở
Khanh, một gã có "hình dong chải chuốt, áo khăn dịu dàng" và cũng khá
"văn vẻ", cô như người đang sắp chết đuối vớ được cọc mà không còn bình
tĩnh nhận ra lời lường gạt sáo rỗng của Sở Khanh.
Than ôi! sắc nước hương trời,
Tiếc cho đâu bỗng lạc loài đến đây?
Kiều vội vàng trao thân cho Sở Khanh và cùng Sở Khanh trốn thoát khỏi lầu
Ngưng Bích. Cô nào ngờ mình đã rơi vào lưới do Tú bà giăng sẵn để giữ cô lại
vĩnh viễn ở lầu xanh. Chưa kịp cao chạy xa bay thì Tú bà đến và lúc này nàng
mới rõ bản chất con người Sở Khanh:
Bạc tình, nổi tiếng lầu xanh,
Một tay chôn biết mấy cành phù dung!

Dạy rằng: Cứ phép gia hình!
Ba cây chập lại một cành mẫu đơn.
Phận đành chi dám kêu oan,
Đào hoen quẹn má liễu tan tác mày.
Một sân lầm cát đã đầy,
Gương lờ nước thủy mai gầy vóc sương.
May thay vị quan đó tuy tỏ ra nghiêm khắc nhưng cũng có tình người. Thấy
Thúc Sinh đau khổ khi thấy Kiều vì mình mà gặp nạn, ông đã cho Kiều làm
một bài thơ bày tỏ nỗi niềm. Đọc thơ của Kiều, vị quan khen ngợi rồi khuyên
Thúc Ông nên rộng lượng chấp nhận Kiều lại cho đồ sính lễ cưới xin. Nhờ thế
Kiều thoát kiếp thanh lâu nhưng chưa được bao lâu thì nàng lại mắc vạ với
Hoạn Thư, vợ chính của Thúc Sinh.
Kiều và Hoạn Thư
Khi biết chuyện, cha mẹ Thúc Sinh nổi giận đòi trả Kiều trở về chốn cũ,
nhưng khi biết Thuý Kiều tài sắc vẹn toàn, có tài làm thơ, bố của Thúc Sinh
đã phải thốt lên:
Thương vì hạnh trọng vì tài
Thúc ông thôi cũng dẹp lời phong ba
Kiều đã ở cùng Thúc Sinh suốt 1 năm ròng và vẫn luôn khuyên Thúc Sinh về
thăm vợ cả Hoạn Thư, họ vẫn chưa có con chung sau nhiều năm sống cùng
nhau. Sau chuyến đi thăm và quay trở lại gặp Kiều, Thúc Sinh không ngờ
rằng Hoạn Thư đã sai gia nhân đi tắt đường biển để bắt Thuý Kiều về tra hỏi.
Thuý Kiều bị tưới thuốc mê bắt mang đi, còn mọi người trong nhà lúc đó cứ
ngỡ cô bị chết cháy sau trận hỏa hoạn. Kiều trở thành thị tì nhà Hoạn Thư với
cái tên là Hoa Nô. Lúc Thúc Sinh về nhà, nhìn thấy Thuý Kiều bị bắt ra chào
mình, "phách lạc hồn xiêu", chàng nhận ra rằng mình mắc lừa của vợ cả.
Hoạn Thư đã bắt Kiều phải hầu hạ, đánh đàn cho bữa tiệc của hai vợ chồng.
Đánh đàn mà tâm trạng của Kiều đau đớn:
4
Bốn giây như khóc như than

Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi
Từ rằng tâm phúc tương tri
Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình
Trong lúc Từ Hải đi chinh chiến, nàng ở nhà nhớ tới bố mẹ chắc đã "da mồi
tóc sương", còn em Thuý Vân chắc đang "tay bồng tay mang" vui duyên với
Kim Trọng.
Từ Hải sau đó đã chiến thắng trở về, mang binh tướng tới đón Kiều làm lễ vu
quy.
5
Kiều báo thù
Lúc vui mừng cũng là lúc Thuý Kiều nghĩ đến những ngày "hàn vi", nàng kể
hết mọi chuyện cho Từ Hải và muốn có sự "ân đền oán trả". Những Bạc Bà,
Bạc Hạnh, Sở Khanh, đều bị chịu gia hình, còn những vị sư đã giúp đỡ Kiều
trong cơn hoạn nạn đều được thưởng. Riêng Hoạn Thư nhờ khéo nói "Rằng
tôi chút phận đàn bà. Ghen tuông thì cũng người ta thường tình" nên được
tha. Sau đó Kiều có gặp sư Giác Duyên, được bà báo rằng 5 năm nữa hai
người sẽ gặp nhau vì Kiều còn phải trải qua nhiều lận đận nữa.
Kiều tự vẫn
Hồ Tôn Hiến bấy giờ là một quan tổng đốc của triều đình, mang nhiệm vụ
đến khuyên giải Từ Hải đầu hàng và quy phục triều đình. Hồ Tôn Hiến đã bày
mưu mua chuộc Thuý Kiều, đánh vào ham muốn có một cuộc sống "an bình"
của phụ nữ, nàng đã thật dạ tin người và xiêu lòng nghe theo lời Hồ Tôn Hiến
về thuyết phục Từ Hải ra hàng:
Trên vì nước dưới vì nhà,
Một là đắc hiếu hai là đắc trung.
Sau đó, Hồ Tôn Hiến đã thừa cơ bao vây, nhìn thấy Từ Hải, Thuý Kiều định
lao tới để tự vẫn nhưng chàng bị mắc mưu và đã "chết đứng giữa đàng".
Thuý Kiều cảm thấy hối tiếc và dằn vặt bản thân:
Mặt nào trông thấy nhau đây?
Thà liều sống thác một ngày với nhau!

Sau 15 năm lưu lạc, Thuý Kiều đã trở về đoàn viên với gia đình. Nhưng nàng
chính là người sợ việc đoàn viên hơn ai cả. Trong việc tái ngộ này, Thuý Vân
chính là người đầu tiên đã lên tiếng vun vào cho chị. Nhưng trong đêm gặp
lại ấy, Thuý Kiều đã tâm sự với Kim Trọng:
Thân tàn gạn đục khơi trong
Là nhờ quân tử khác lòng người ta
Nàng ghi nhận tấm lòng của Kim Trọng nhưng tự thấy mình không còn xứng
đáng với chàng nữa. Hai người trở thành bạn "chẳng trong chăn gối, cũng
ngoài cầm thơ".
Nguyễn Du đã gửi gắm toàn bộ thế giới quan của mình về xã hội phong kiến
lúc đó qua các câu thơ nhận xét về cuộc đời lưu lạc của Thuý Kiều:
Ngẫm hay muôn sự tại trời
Trời kia đã bắt làm người có thân.
Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao
Nguồn - INTERNET
KIỀU Ở LẦU NGƯNG BÍCH
I. VỊ TRÍ ĐOẠN TRÍCH
1. Đoạn trích nằm ở phần thứ 2 của tp phần gia biến và lưu lạc. Trước cảnh
này là sự kiện Kiều phải bán mình chuộc cha, bị MGS và TÚ Bà lừa gạt làm
gái lầu xanh. Kiều uất ức định tự vẫn, tú bà sợ mất món hời nên vờ hứa đợi
kiều bình phục sẽ gã chồng cho nàng. Sau đó tú bà đưa Kiều đến ở lầu ngưng
bích nhưng thực ra là giam lỏng nàng và chờ thực hiện 1 âm mưu mà mụ đối
với Kiều
7
- Còn tiếp theo đoạn này là Kiêuf bị sở khanh lừa gạt phải chấp nhận làm gái
lầu xanh
- Suy ra Đoạn trích nằm giữa 2 biến cố lớn của cuộc đời kiều, âm hưởng
chung của đoạn thơ là sự bàng hoàng, cô dơn của nhân vật trong hoàn cảnh
hiẹn tại; và cũng là dụe cảm đầy lo âu trc 1 tương lai bất đắc của kiều.

mông, hoang vắng được nhìn từ cảnh ngộ của Kiìêu.”khoá xuân “ bị
giam lỏng – tài hoa
- “vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung” tạo ra cảm giác bất ngờ K/C ko
gian đc đo bằng tâm lý nhân vật diễn tả đc 2 điều
+ trăng vốn xa nay lại gần, núi gần lại xa gợi lên hình ảnh của lầu NB như
chơi vơi giữa mênh mông đất trời.
+ Từ lầu NB Kiều chỉ nhàin ta tứ phía chỉ thấy 1 ko gian mênh mông”bốn bề
bát ngát xa trông, cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia” ko có bóng người chỉ
có n~ dãy núi mờ xa và có bụi mờ của n~ cồn cát và ko gian ấy gắn với thiên
nhiên ấy xuất hiện 2 tính từ: cát vàng, bụi hồng vậy mà thiên nhiên ấy ko
ấm áp hơn, ko rực rỡ hơn, ko sinh động hơn. Ngược lại màu sắc âý đi với ko
gian ấy lại đánh thức trong lòng người cái cảm giác trôi dạt, bơ vơ của kẻ tha
phương gữa mênh mang trời đất.
- thiên nhiên vốn hoang vắng ko bóng người nghĩa là lòng ngừơi hoang vắng,
điều đó gợi lên 1 cảm giác trơ chọi, cô dơn, bé nhỏ của Kiều trc thiên nhiên
ấy. Nói cách khác chính cảnh ngộ bẽ bàng của Kiều đã khiêếnKiều thấy thiên
nhiên mà sao lạnh lùng, sao mà hững hờvới thân phận chua xót của mình.
- Trong ko gian ấy cảnh ngộ bẽ bàng của Kiều, tâm trạng buồn tủi và cô dơn
của Kiều càng đc tô đậm. Làm bạn với nàgn chỉ có “mây sớm, đèn khua”, cái
cụm từ này nó gợi thức thời gian, nó diễn tình cảnh đơn lẻ, thui thủi 1 mình
của Kiều người đọc có cảm giác như bị tách biệt khỏi thế giới của con người.
4. Tám câu tiếp theo.
diễn tả nỗi thương nhớ của Kiều dành cho chàng Kim và cha mẹ. Trong nỗi
coo đơn đến buồn thảm của mình. Đặc sắc NT của ND thể hiện ở 8 câu thơ
này là ngôn ngữ độc thoại nội tâm của nhân vật
- Ở tám câu thơ này ND đã khéo léo để Kiều nhớ KT trc nhớ chan mẹ sau.
Nỗi thương nhớ theo trật tự ấy hợp lí ở chỗ:
+ trước đó trong cơn gia biến Kiều đã phải hi sinh tình để làm trọn chữ hiếu
nàng đã chọn chữ hiếu, tự nguyện hi sinh tuổi xuân , ước mơ của mình để
cứu gia đình nhưng sâu thẳm trong trái tim nàng chữ tình vẫn luôn dang dở.

con người vang lên đau đớn, xót xa, bế tắc và vô vọng.Ngoại cảnh cũng
chính là tâm cảnh là như vậy.
- Buồn trông 4 cảnh, cảnh nào cũng buồn
- buồn trông lặp lại nhấn mạnh tâm trạng tất cả hình ảnh lọt vào
tầm nhìn của Kiều đều mang 1 nét nghĩa giống nhau : buồn thảm, trôi dạt,
vô định.
- Cái biến đổi của tâm trạng tầm nhì, hướng nhìn của Kiều nhìn về 4
hướng ở ngã nào cũng là nỗi buồn, ở ngã nào Kiêề cũng pải đối diện với
nỗi buồn. Nỗi buồn như kéo dài ra, triền miên và ko koá điểm dừng.
- Âm thanh duy nhất trong đoạn trích, tiếng vọng từ chính nội tâm của
Kìêu bế tắc của Kiều
- Ẩn chứ đằng sau đệp khúc nỗi bùn về tâm trạng, về thân fận là n~ câu
hỏi hỏi để cảm nhận rõ hơn thân fận nổi trôi và lạc loài của mình, n~ câu
hỏi có thể vang lên từ chính tâm hồn kiều.
10
= Ngôn ngữ tg hoà vào ngôn ngữ nhân vật tấm long cảu ND dành cho
những người tài hoa bạc mệnh 1 nét sâu sắc trong cảm hứng nhân đạo
của Kiều.
(Sưu tầm)
Nghệ Thuật Tả Cảnh của Thi Hào Nguyễn Du trong Truyện Kiều.
Đoạn Trường Tân Thanh hay Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du là một áng
văn chương tuyệt tác trong lịch sử văn học nước ta. Truyện Kiều có giá trị về
mọi mặt : tư tưởng , triết lý , luân lý , tâm lý và văn chương.
Truyện Kiều vì thế đã trở thành quyển truyện thơ phổ thông nhất nước ta: từ
các bậc cao sang quyền quý , trí thức khoa bảng , văn nhân thi sĩ , cho đến
những người bình dân ít học , ai cũng biết đến truyện Kiều , thích đọc truyện
Kiều , ngâm Kiều và thậm chí bói Kiều.
Giá trị tuyệt hảo của truyện Kiều là một điều khẳng định mà trong đó giá trị
văn chương lại giữ một địa vị rất cao. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi
xin được bàn đến nghệ thuật tả cảnh của thi hào Nguyễn Du trong tác phẩm

Hình ảnh một mảnh trăng khuyết soi nghiêng nhìn Kim Trọng khi chàng nửa
tỉnh nửa mê, chập chờn với hình ảnh Kiều sau lần gặp gỡ đầu tiên:
‘Chênh chênh bóng Nguyệt xế mành
Tựa ngồi bên triện một mình thiu thiu”
Chàng biếng nhác cả việc sách đèn , để phòng đọc sách lạnh tanh với tiếng
gió quạnh hiu phập phồng qua màn cửa :
Buồng văn hơi giá như đồng
Trúc se ngọn thỏ tơ chùng phím loan
Mành Tương phất phất gió đàn
Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình.
Rồi những giờ phút thề ước ba sinh đã qua, khi phải tạm xa nhau thì dòng
sông kia bỗng sao trở thành kẻ khắt khe để chia rẽ duyên tình:
Sông Tương một giải nông sờ
Bên trông đầu nọ bên chờ cuối kia
Một đoạn tả cảnh khác , tình người ẩn sâu trong cảnh vật . Đó là cảnh Kim
Trọng sau khi hộ tang cha , về tìm lại Kiều nơi vườn Lãm Thúy, nhưng người
xưa nay còn thấy đâu , chỉ còn cảnh vườn hoang cỏ dại lạnh lùng dưới ánh
trăng.
Đầy vườn cỏ mọc lau thưa
Song trăng quạnh quẽ vách mưa rã rời
Lần thứ hai , Kim Trọng tìm về nhà Vương Viên Ngoại để hỏi thăm Kiều thì
cảnh nhà bây giờ thật sa sút , sân ngoài cỏ hoang mocï dại, ướt dầm dưới
cơn mưa , tiêu điều như nỗi buồn tênh trong lòng chàng:
Một sân đất cỏ dầm mưa
Càng ngao ngán nỗi càng ngơ ngẩn dường
Khi Kiều ở lầu Ngưng Bích , nhìn qua song cửa thấy cảnh biển chiều hôm ,
với những cánh buồm xa xa lại tưởng tới thân phận bọt bèo không định
hướng của mình :
Buồn trông cửa biển chiều hôm
12

Hoặc bức tranh sơn thủy của một khung trời chiều long lanh phản chiếu trên
mặt sông êm ả :
Long lanh đáy nước in trời
Thành xây khói biếc non phơi ánh vàng
13
Hay bóng liễu rủ bên cầu và thướt tha soi bóng trên sông tạo nên một khung
cảnh đẹp mộng thơ :
Dưới cầu nước chảy trong veo
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha
Khi chị em kiều đi viếng mộ Đạm Tiên, thì cảnh vật cũng theo đó đìu hiu ảm
đạm : cơn gió đìu hiu lay động một vài cành lau trên vùng cỏ mờ nhạt theo
sương chiều :
Một vùng cỏ áy bóng tà
Gió hiu hiu thổi một vài bông lau.
Cảnh thanh tịnh của ngôi chùa Giác Duyên nơi Kiều đã được cứu vớt , mà
đường tới thì quanh co theo giải sông ,có khu rừng lau như cách biệt với cuộc
sống rộn rã bên ngoài :
Quanh co theo giải giang tân
Khỏi rừng lau đã tới sân Phật Đường
Nghệ thuật tả cảnh của Nguyễn Du tuyệt vời đến nỗi Giáo sư Nghiêm Toản
đã có nhận định như sau: “trong Đoạn Trường tân thanh, luôn luôn có những
bức tranh nho nhỏ như những hạt kim cương rải rác đính trên một tấm thêu
nhung” ( Việt Nam văn Học Sử Trích Yếu)
Hãy xem cảnh bóng trăng chênh chếch soi mình trên sóng nước , đẹp lãng
đãng như nỗi tưởng nhớ miên man của Kiều về Kim Trọng sau buổi gặp gỡ
lần đầu. Chỉ vài nét đon sơ giữa trăng , nước và sân nhà đã đủ diễn tả một
khung cảnh tuyệt nhã đẹp như một bức tranh :
Gương nga chênh chếch dòm song
Vàng gieo ngấn nước , cây lồng bóng sân
Lối tả cảnh tượng trưng:

Hãy xem cảnh Kiều và Thúc Sinh chia tay nhau:
Người lên ngựa kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.
Đó là sự phân ly buồn bã tuy chỉ giữa hai người , nhưng đã làm ảm đạm cả
một vùng cảnh vật chung quanh.
Hay cảnh Kiều thất vọng cuộc đời , mở cửa phòng nhỏ bé để gieo mình xuống
dòng bao la của sông Tiền Đường :
Cửa bồng vội mở rèm châu
Trời cao sông rộng một màu bao la.
Nói về nghệ thuật tả cảnh tượng trưng này, giáo sư Dương Quảng Hàm đã
viết: “ tả cảnh thì theo lối phác họa mà cảnh nào cũng linh hoạt.”
Lối tả cảnh dùng màu sắc.
Nghệ thuật tả cảnh bằng thơ của Nguyễn Du cũng dùng rất nhiều màu sắc
như bức tranh của một người họa sĩ. Trước tiên phải là ánh sáng , một yếu tố
15
cơ bản, rồi sau đó mới tới các màu sắc với sự c pha chế sao cho làm nổi được
cảnh chính và cảnh phụ .
Hãy xem một cảnh Xuân tươi mát trên đồng quê qua ngòi bút tả cảnh đầy
màu sắc của Nguyễn Du:
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Thật là một bức tranh màu sắc thanh nhã tuyệt hảo: trên thảm cỏ xanh mướt
bao la, nổi những bông hoa lê trắng tinh . Chỉ có hai màu xanh và trắng như
nỗi thanh khiết của tâm hồn chị em Kiều đi dự lễ Thanh Minh . Ở đây cũng
cần để ý tới lối đảo chữ tài tình của Nguyễn Du. Thay vì “ cành lê điểm một
vài bông hoa trắng” thì Nguyễn Du đã viết:”cành lê trắng điểm một vài bông
hoa” . Tất nhiên có thể Nguyễn Du đã phải đảo chữ chỉ vì tôn trọng luật
“bằng trắc” của thơ lục bát , nhưng cũng phải công nhận đó là một lối đảo
chữ tài tình mà không phải ai cũng làm được .
Cũng một cảnh cỏ xanh nữa , nhưng lần này là màu xanh thẫm soi mình

nên trong lãnh vực văn chương tả cảnh trong truyện Kiều , cụ có khi dùng
những chữ thật trang nhã quý phái , có khi lại dùng những chữ thật giản dị
bình dân.
Những chữ dùng trang nhã quý phái đă được kể nhiều qua những câu thơ ở
trên, thiết tưởng chẳng cần lậïp lại. Bây giờ chúng ta hãy xem những chữ rất
bình dân mà Nguyễn Du dùng trong lúc tả cảnh.
Ví dụ chị em Kiều du Xuân ra về thì trời vừa ngả bóng hoàng hôn , Nguyễn
Du dùng hai chữ “tà tà “ chỉ một hành động chậm rãi, có thể là chị em Kiều
thong thả bước chân ra về, mà cũng có thể chỉ sự xuống chầm chậm của mặt
trời chiều:
Tà tà bóng ngả về tây
Chị em thơ thẩn dan tay ra về.
Thế rồi gặp cảnh mả Đạm Tiên đắp vội , chỉ còn một nắm đất thấp “ sè sè “
bên đường, chen lẫn vài ngọn cỏ úa :
Sè sè nắm đấ bên đường
Rầu rầu ngon cỏ nửa vàng nửa xanh.
Rồi ngọn gió gọi hồn “ ào ào “ thổi tới như muốn nhắn nhủ điều chi :
Ào ào đổ lộc rung cây
Ở trong dường có hương bay ít nhiều.
Hay cảnh vườn Thúy khi Kim Trọng trở lại tìm Kiều mà không thấy nàng , chỉ
thấy cánh én xập xè bay liệng trên mặt đất hoang phủ đầy rêu phong:
Xập xè én liệng lầu không
Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giầy .
Và đêm xuống ánh trăng soi “ quạnh quẽ “ lẻ loi nơi vườn vắng, tri âm chỉ
còn là những cọng cỏ dại mọc lưa thưa:
Đầy vườn cỏ mọc lau thưa
Song trăng quạnh quẽ vách mưa rã rời
17
Chính vì Nguyễn Du đã kết hợp được cả hai lối hành văn bác học và bình dân
một cách tài tình nên truyện Kiều đã được tất cả mọi giai tầng trong xã hội

Sông Tần lấy từ câu “ dao vọng Tần Xuyên, can trường đoạn tuyệt” ý nói ở xa
nhìn nước sông Tần như nát gan xé ruột . Dương Quan là tên một cửa ải xa ở
phía tây nam tỉnh Cam Túc. Cả hai điển tích trên đều mang ý nghĩa một sự
nhớ nhung khi xa cách. Đó là lúc Thúy Kiều tiễn đưa Thúc Sinh trở về thăm
vợ cũ là Hoạn Thư.
18
Hay:
Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung
Chữ Khóa Xuân lấy từ điển tích Châu Du bị gió đông cản việc phóng hỏa đốt
trại Xích Bích , nên Đài Đồng Tước không bị cháy , nhưng chính vì đó mà đã
khóa chặt tuổi xuân hai chị em tên Đại Kiều và Tiểu Kiều ,một người vợ Tôn
Sách và một người vợ Châu Du
Đông phong bất dữ Chu lang tiện,
Đồng Tước xuân thâm tỏa nhị Kiều .
Hai câu thơ trên ngụ ý tả cảnh lầu Ngưng Bích như là nơi đã khóa kín tuổi
xuân của Thúy Kiều.
Một đoạn khác khi Kim Trong trở về vườn Thúy để tìm Kiều , nhưng nàng đã
không còn ở đó, chỉ còn ngàn cánh hoa đào hồng thắm đang cười như tiễn
biệt gió đông:
Trước sau nào thấy bóng người
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông
Hai câu này lấy từ điển tích nho sinh Thôi Hộ đời nhà Đường , trở về Đào Hoa
Trang để thăm người con gái năm xưa đã dâng cho chàng nước uống trong
lúc dự hội Đạp Thanh. Nhưng người đẹp đã vắng bóng dù cảnh cũ vẫn còn
đấy, chìm ngập trong ngàn cánh hoa đào phe phẩy dưới nắng xuân . Thôi Hộ
đã viêt hai câu thơ nguyên văn văn :
Nhan diện bất tri hà xứ khứ ,
Đào hoa y cựu tiếu đông phong
Kết luận .

2.Nguyễn Du sinh trưởng trong một thời đại có nhiều biến động
dữ dội: Xã hội phong kiến Việt Nam bước vào thời kì khủng
hoảng sâu sắc, phong trào nông dân khởi nghĩa nổ ra liên tục
mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn. Phong trào
nông dân Tây Sơn thất bại, chế độ phong kiến triều Nguyễn
được thiết lập.
3.Trong hoàn cảnh ấy, Nguyễn Du đã sống nhiều năm phiêu bạt
trên đất Bắc( 1786 – 1796 ) rồi về ở ẩn tại quê nội Hà Tĩnh
( 1796 – 182). Sau khi Nguyễn ánh lên ngôi, Nguyễn Du ra làm
quan bất đắc dĩ với triều Nguyễn. Năm 1813 – 1814, ông được
cử làm chánh sứ sang Trung Quốc, năm 1820 khi chuẩn bị làm
chánh sứ sang Trung Quốc lần thứ hai, nhưng chưa kịp đi thì
ông bị bệnh và mất tại Huế.
4.Nguyễn Du là người có kiến thức sâu rộng, am hiểu văn hoá
dân tộc và văn chương Trung Quốc. Cuộc đời từng trải, đi
nhiều, tiếp xúc nhiều đã tạo cho ông một vốn sống phong phú
và niềm cảm thông sâu sắc với những đau khổ của nhân dân.
Nguyễn Du là một thiên tài văn học, một nhà nhân đạo chủ
20
nghĩa lớn.
5.Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du gồm những tác phẩm có
giá trị lớn bằng chữ Hán và chữ Nôm. Về chữ Hán Nguyễn Du
có ba tập thơ ( Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc
hành tạp lục ) với tổng số 243 bài. Về chữ Nôm xuất sắc nhất là
Đoạn trường tân thanh, thường gọi là Truyện Kiều, ngoài ra còn
có Văn chiêu hồn.
II.Truyện Kiều
1.Nguồn gốc Truyện Kiều: Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du có dựa
theo cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân
( Trung Quốc ). Nhưng phần sáng tạo của Nguyễn Du là hết sức

và số phận hồng nhan bạc mệnh của Thuý Kiều.
2.Phân tích đoạn thơ
a.Ở bốn câu thơ đầu, nhà thơ giới thiệu hai người con gái đẹp,
đầu lòng của gia đình Vương viên ngoại
Đầu lòng hai ả tố nga
…Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười
Cả hai chị em đều xinh đẹp: vóc dáng thanh cao cốt cách như
mai, tinh thần trong trắng như tuyết. Vẻ đẹp ở mỗi người đều
có những nét riêng, và đều đạt dến độ hoàn mĩ “ Mỗi người một
vẻ, mười phân vẹn mười”. Tác giả dùng tiểu đối, dùng những
hình ảnh tượng trưng, phép ẩn dụ ( mai, tuyết ) làm cho câu
thơ vừa đẹp vừa có sức gợi cảm.
b.Chân dung Thúy Vân:
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da
Chân dung Thúy Vân được nhà thơ miêu tả chỉ có bốn câu.
Trong bốn câu đó, ta thấy một sự miêu tả tinh tế và toàn vẹn,
từ khuôn mặt, màu da, mái tóc, nụ cười và phong thái ứng xử.
Nàng có khuôn mặt đầy đặn, sáng sủa như mặt trăng tròn, lông
mày đẹp như mày con ngài, miệng cười tươi như hoa, tiếng nói
trong như ngọc, tóc óng ả hơn cả mây, da trắng hơn cả tuyết.
Bằng cách sử dụng sáng tạo những biện pháp nghệ thuật có
tính ước lệ…tác giả đã khắc hoạ một Thúy Vân xinh đẹp, thuỳ
mị, đoan trang, phúc hậu, tròn trịa, khiêm nhường. Từ thông
22
điệp nghệ thuật ( ngôn ngữ, hình tượng ) này, Thúy Vân tất sẽ
có trong tương lai một cuộc sống yên vui, hạnh phúc.
c.Chân dung Thúy Kiều:

MÃ GIÁM SINH MUA KIỀU
23
1.Tìm hiểu vị trí đoạn trích
- Đoạn thơ thuộc phần Gia biến và lưu lạc trong kết cấu Truyện
Kiều, mở đầu kiếp đoạn trường của người con gái đầu lòng họ
Vương
- Có thể tóm tắt sự việc chính dẫn đến cảnh Mã Giám Sinh mua
Kiều: Gia đình Kiều bị tên bán tơ vu vạ, cha và em bị bắt giữ, bị
đánh đập dã man, nhà cửa bị sai nha lục soát, vơ vét hết mọi
của cải. Thúy Kiều quyết định bán mình để cứu cha và gi đình
thoát khỏi tai họa. Được mụ mối mách bảo Mã Giám Sinh tìm
đến mua Kiều.
2.Phân tích nhân vật Mã Giám Sinh
- Về diện mạo và cử chỉ: vẻ ngoài thì trải chuốt mà lố lăng,
không phù hợp, tuổi ngoài bốn mươi mà vẫn “ mày râu nhẵn
nhụi, áo quần bảnh bao”. Cách nói năng của Mã Giám Sinh thì
cộc lốc vô lễ: “ Hỏi tên, rằng…- Hỏi quê rằng…”. Câu trả lời
nhát ngừng không có chủ ngữ, không thèm thưa gửi, đó chỉ có
thể là lời của những kẻ vô học hoặc hợm của, cậy tiền. Cử chỉ
thái độ thì bất lịch sự đến trơ trẽn, hỗn hào: “ Ghế trên ngồi tót
sỗ sàng”. “ Ghế trên” là ghế ở vị trí trang trọng, dành cho bậc
cao niên huynh trưởng đáng kính. Kẻ đi hỏi vợ là hàng con cái
mà lại “ ngồi tót” thì thật chướng mắt vô lễ.
- Về bản chất, Mã Giám Sinh là điển hình của bản chất con
buôn lưu manh với đặc tính giả dối bất nhân và vì tiền
+ Giả dối từ lai lịch xuất thân mù mờ, giới thiệu là khách
phương xa ( viễn khách ) mà lại xưng quê “ cũng gần”. Đến
tướng mạo, tính danh cũng giả dối, tuổi tác đã nhiều nhưng lại
cố tô vẽ cho trẻ ra, ra vẻ thư sinh phong lưu, lịch sự mà “ trước
sau tớ xôn xao” rất láo nháo ô hợp.

mấy hàng”.
4.Tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du thể hiện qua đoạn
trích
- Tác giả tỏ thái độ khinh bỉ và căm phẫn sâu sắc bọn buôn
người, đồng thời tố cáo thế lực đồng tiền chà đạp lên con người
+ Thái độ khinh bỉ và căm phẫn sâu sắc bọn buôn người của
Nguyễn Du thể hiện qua cách tác giả miêu tả Mã Giám Sinh
qua cái nhìn mỉa mai, châm biếm, lên án: bộ mặt mày râu nhẵn
nhụi cho thấy sự thiếu tự nhiên, râu cạo nhẵn, lông mày tỉa tót
rất trai lơ. Hai từ “nhẵn nhụi” gợi cảm giác về một sự trơ tráo,
25

Trích đoạn Kim Kiều có những kỷ niệm êm đềm khó quê nở vườn Thúy, nơi sau này Kim Trọng trở lại Trương Sinh, những người đàn ông đặc đầu óc “nam quyền”, chà đạp lên quyền sống của người phụ nữ Tính ghen tuông của cá nhân cộng với tư tưởng “nam Nhận diện nhân vật Hoạn Thư trong "Đoạn trường tân thanh" của Nguyễn Du Phân tích nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm ''Người Con gái Nam Xương'' Chiếc bóng tấm lòng yêu thương >trở thành nguyên nhân của nỗi oan bi kịch.
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status