LUẬN VĂN:
Tổ chức công tác kế toán tiền lương và
các khoản trích theo lương tại Công ty
TNHH Nhà nước một thành viên Xuất
nhập khẩu và đầu tư Hà Nội Lời nói đầu
Lao động có vai trò cơ bản trong quá trình sản xuất kinh doanh, các chế độ
như sau: “ Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tác động
vào giới tự nhiên, biến chúng thành những vật có ích đối với đời sống của mình”.
Theo định nghĩa trên thì quá trình lao động chính là quá trình sử dụng sức lao
động tức là sử dụng toàn bộ thể lực và trí tuệ tồn tại trong cơ thể sống của con người mà
con người có thể vận dụng trong quá trình sản xuất. Thực chất sức lao động mới chỉ là
khả năng của lao động mà thôi.
Lao động có một vai trò quan trọng đối với xã hội loài người. Loài người ngay từ
khi xuất hiện để tồn tại được trước hết phải tiêu dùng một lượng của cải vật chất nhất
định để thoả mãn những nhu cầu sinh học cơ bản như ăn, mặc, ở Muốn có được của cải
vật chất này không còn cách nào khác là phải lao động và chính nhờ lao động con người
mới khám phá ra thế giới xung quanh, nhận biết được các quy luật của tự nhiên và chinh
phục tự nhiên. Đứng trên góc độ toàn xã hội thì lao động, tư liệu lao động và đối tượng
lao động là ba yếu tố của nền sản xuất xã hội. Trong đó lao động là yếu tố quan trọng
mang tính chủ động,tích cực nhất,vai trò của lao động ngày càng tăng. Nếu thiếu lao
động thì 2 nhân tố còn lại sẽ trở thành vô dụng. Hơn thế nữa lao động là nguồn gốc của
giá trị thặng dư - phần giá trị mới sinh ra là cơ sở cho việc tái sản xuất mở rộng theo cả
chiều rộng lẫn chiều sâu. Như chúng ta đă biết, trong quá trình sản xuất tư liệu sản xuất
và đối tượng sản xuất chuyển hết giá trị sức lao động vào sản xuất mà còn tạo ra thêm
một phần giá trị mới nữa, phần giá trị mới này nếu nhìn ở góc độ các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh thì đó chính là lợi nhuận - mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp.
Quá trình sản xuất diễn ra đòi hỏi phải tiêu dùng liên tục các yếu tố tư liệu lao
động, đối tượng lao động một cách thường xuyên. Mà các yếu tố này không phải là vô
cùng vô tận nên cần phải tái tạo lại, hay tái sản xuất các yếu tố này. Đối với tư liệu lao
động và đối tượng lao động thì tái tạo lại có nghĩa là mua sắm cái mới, nhưng sức lao
động thì khác. Sức lao động gắn liền với hoạt động sống của con người là thể lực, trí lực
con người, cho nên muốn tái tạo lại sức lao động cần phải thông qua hoạt động sống của
con người, người tiêu dùng một lượng vật chất nhất định. Phần vật chất này do người sử
dụng lao động trả cho người lao động dưới hình thức hiện vật, hay giá trị và được gọi là
tiền lương.
phí gồm các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ. Trong đó BHXH được trích lập để tài
trợ cho trường hợp công nhân viên tạm thời hay vĩnh viễn mất sức lao động như ốm đau,
thai sản nghỉ hưu BHYT để tài trợ cho việc phòng chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho
ngươi lao động. KPCĐ để phục vụ chi tiêu cho hoạt động tổ chức của người lao động
nhằm chăm lo, bảo vệ quyền lợi người lao động. Các loại bảo hiểm và KPCĐ được hình
thành và thực hiện theo cơ chế tài chính nhất định .
Với những nét khái quát như vậy về tiền lương và các khoản trích theo lương ta có
thể thấy rằng tiền lương có một vai trò quan trọng và một vị trí quyết định trong việc thực
hiện các quá trình sản xuất kinh doanh.
Đối với nền kinh tế nói chung tiền lương chính là một bộ phận của sản phẩm xã
hội mới sáng tạo được, biểu hiện bằng tiền mà người lao động được hưởng dựa trên số
lượng và chất lượng lao động của mỗi cá nhân để bù đắp lại cho hao phí sức lao động của
họ trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nó giúp cho quá trình tái sản xuất xã hội được
diễn ra liên tục và cũng chính nhờ tiền lương mà người lao động đã tạo lập nên quỹ tiêu
dùng đê nuôi sống bản thân và gia đình mình.
Xét trên phạm vi của Doanh nghiệp thì tiền lương nếu được đánh giá đúng nó có
thể trở thành một đòn bẩy kinh tế tại nên sức mạnh nội lực từ bên trong giúp doanh
nghiệp thành công trong sản xuất kinh doanh. Một trong ba yếu tố của quá trình sản xuất
là lao động, và tiền lương là một bộ phận chi phí cấu thành nên giá thành sản phẩm. Sử
dụng lao động hợp lý, trả lương một cách đúng đắn không những giúp đảm bảo đời sống
người lao động mà còn thúc đẩy tăng năng xuất lao động, khuyến khích tính sáng tạo
trong sản xuất, từ đó làm hạ giá thành sản phẩm. Trong cơ chế thị trường ngày nay
Doanh nghiệp nào càng hạ thấp được chi phí sản xuất thì lợi nhuận mà Doanh nghiệp thu
được sẽ càng lớn. Do đó có thể nói lao động, tiền lương chính là một trong những giải
pháp thiết yếu góp phần dẫn tới sự thành công của Doanh nghiệp.
1.2. Yêu cầu quản lý lao động, tiền lương và các khoản trích theo lương.
Các khoản tiền lương và BHXH, BHYT, KPCĐ đã tạo nên chi phí về lao động
sống trong tổng chi phí của Doanh nghiệp. Việc tính toán và xác định chi phí về lao động
sống phải dựa trên cơ sơ quản lý và theo dõi quá trình huy động sử dụng lao động trong
áp dụng với những người làm công tác quản lý, chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ,
những người làm việc theo dây chuyền công nghệ, máy móc thiết bị và những người làm
công việc mà trả lương thời gian không có hiệu quả hơn các hình thức trả lương khác.
Hình thức trả lương theo thời gian có hai loại: Trả lương theo thời gian giản đơn
và trả lương theo thời gian có thưởng.
*) Trả lương theo thời gian giản đơn:
Đây là số tiền trả cho người lao động căn cứ vào bậc lươngvà thời gian làm việc
thực tế. Hình thức này lại không xét đến thái độ và kết quả lao động. Chế độ trả lương
này thường được chỉ áp dụng cho người lao động không thể định mức và tính toán chặt
chẽ công việc.
Lương tháng: Tiền lương trả cố định hàng tháng trên cơ sở hợp đồng và được áp
dụng cho cán bộ công nhân viên làm ở bộ phận gián tiếp .
Lương ngày: áp dụng cho người làm việc tạm thời đối với từng CNV.
Lương ngày =
Lương tháng
Số ngày làm việc chế độ
Lương giờ: Là lương trả cho một giờ làm việc và được tính bằng tiền lương của
một ngày chia cho số giờ tiêu chuẩn của lao động là không quá 48 giờ/tuần.
*) Trả lương theo thời gian có thưởng.
Hình thức này dựa trên sự kếp hợp giữa tiền lương trả theo thời gian giản đơn với
các chế độ tiền thưởng. Hình thức này không chỉ xét đến thời gian lao động và trình độ tay
nghề mà còn xét đến thái độ lao động, ý thức trách nhiệm, tinh thần sáng tạo trong lao
động.
Mức lương = Lương theo thời gian giản đơn + Tiền thưởng
2.2. Hình thức tiền lương theo sản phẩm :
Tiền lương theo sản phẩm áp dụng với những cá nhân hoặc tập thể người lao động
Đg =
ML x ( 100 + K1 + K2)
Đt x 100
Trong đó :
ML: Mức lương giờ (ngày) của cấp bậc công việc.
Đt : Định mức thời gian đơn vị sản phẩm (giờ hoặc ngày ) K1:
Tỷ lệ khuyến khích trả lương sản phẩm do nhà nước quy định ( %).
K2: Tỷ lệ phụ cấp khu vực ( nếu có ).
*) Tiền lương trả theo sản phẩm tập thể.
Tiền lương căn cứ vào khối lượng sản phẩm của cả tổ và đơn giá chung để tính
lương cho cả tổ, sau đó phân phối lại cho từng người trong tổ. Tuỳ theo tính chất công
việc sử dụng lao động doanh nghiệp có thể áp dụng các cách sau:
- Chia lương theo cấp bậc và thời gian làm việc.
- Chia lương theo cấp bậc và thời gian làm việc kết hợp với bình công chấm điểm
- Chia lương theo bình công chấm điểm .
*) Tiền lương sản phẩm cá nhân gián tiếp :
Chế độ trả lương này chỉ áp dụng cho những công nhân mà công việc của họ có
ảnh hưởng đến kết quả lao động của công nhân chính, hưởng lương theo sản phẩm như
công nhân sửa chữa, công nhân điều chỉnh trong nhà máy
Tiền lương của công nhân hưởng lương theo sản phẩm gián tiếp được xác định
bằng cách nhân số lượng sản phẩm thực tế của công nhân chính người đó phục vụ với
đơn giá lương cấp bậc của họ với tỷ lệ phần trăm hoàn thành định mức sản lượng bình
quân của những công nhân chính.
*) Trả lương theo sản phẩm luỹ tiến : Theo hình thức này thì ngoài tiền lương tính
theo sản phẩm trực tiếp thì còn phải căn cứ vào số sản phẩm vượt định mức để tính thêm
số tiền lương theo tỷ lệ luỹ tiến. Số lượng sản phẩm hoàn thành vượt định mức càng cao
thì số tiền lương tính thêm càng nhiều.
*) Trả lương theo sản phẩm có thưởng : Đây là hình thức trả lương theo sản phẩm
kết hợp với chế độ tiền thưởng trong sản xuất như thưởng nâng cao chất lượng sản
phẩm,thưởng tăng năng suất lao động, thưởng cho tiết kiệm nguyên vật liệu
- Bằng 200% nếu làm thêm vào ngày nghỉ cuối tuần.
- Bằng 300% nếu làm thêm vào ngày lễ.
Nếu doanh nghiệp bố trí làm việc vào ban đêm, ngoài lương thưởng theo thời gian
còn phải trả thêm ít nhất 30% theo lương thực tế cho người lao động.
Trong việc tính lương cho công nhân còn phải tính lương cho ngày nghỉ phép năm
của công nhân, nhưng do việc nghỉ phép của công nhân không đều đặn giữa các tháng, do
đó để tránh khỏi đột biến trong giá thành thì Doanh nghiệp có thể thực hiện trích trước
tiền lương công nhân nghỉ phép để đưa vào chi phí sản xuất kinh doanh.
Mức trích trước tiền
lương
công nhân nghỉ phép
=
Tiền lương thực tế phải trả
người lao động trong tháng
x
Tỷ lệ trích
trước
Trong đó:
Tỷ lệ trích trước=
Tổng số tiền lương nghỉ phép kế hoạch
Tổng số tiền lương chính kế hoạch
của người lao động
Tầng 2 : Là tầng bắt buộc cho những người có công ăn việc làm ổn định .
Tầng 3: Là sự tự nguyện cho những người muốn đóng BHXH cao .
Theo quy định quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp của người sử
dụng lao động, người lao động và một phần từ sự hỗ trợ của nhà nước. Việc quản lý và sử
dụng quỹ BHXH phải thống nhất theo chế độ của nhà nước và theo chế độ hạch toán độc
lập. Bên cạnh đó quỹ BHXH lập tại Doanh nghiệp trích từ tổng quỹ lương cấp bậc và các
khoản phụ cấp của công nhân viên thực tế phát sinh trong tháng theo mức là 20% tiền
lương cơ bản phải trả cho người lao động, trong đó :
+) 15% do đơn vị hay chủ sử dụng lao động nộp và được tính vào chi phí sản
xuất kinh doanh .
+) 5% còn lại do người lao động đóng góp và được trừ và lương tháng
Việc chi các chế độ BHXH ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
do Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam thực hiện. Đối với việc chi chế độ hưu trí tử tuất
do Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội đảm nhận.
3.3. Quỹ BHYT.
BHYT thực chất là sự trợ cấp cho người tham gia bảo hiểm nhằm giúp họ một
phần nào đó tiền khám chữa bệnh, tiền viện phí và thuốc thang. Về đối tượng , BHYT áp
dụng cho người tham gia đóng BHYT thông qua việc mua thẻ bảo hiểm trong đó chủ yếu
là người lao động. Theo quy định của của chế độ tài chính hiện hành thì quỹ BHYT được
hình thành từ hai nguồn:
- 1% tiền lương cơ bản do người lao động đóng góp.
- 2% quỹ lương cơ bản tính vào chi phí sản xuất do người sử dụng lao động chịu,
tính vào chi phí sản xuất kinh doanh.
Doanh nghiệp phải nộp 100% quỹ BHYT cho cơ quan quản lý quỹ.
3.4. Kinh Phí Công Đoàn.
Công Đoàn là một đại diện của người lao động, bảo vệ quyền lợi cho người lao
động. Để hoạt động Công Đoàn cần phải có kinh phí. Kinh phí Công Đoàn được hình
thành do việc trích lập vào chi phí sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp hàng tháng
động đồng thời là cơ sở để Doanh nghiệp tính tiền lương phải trả cho người lao động.
Cho nên để tính đúng tiền lương cho công nhân viên thì điều kiện trước tiên phải là hạch
toán lao động chính xác, đầy đủ, khách quan.
4.2. Tính lương và trợ cấp BHXH.
Cuối tháng, trên cơ sở các tài liệu hạch toán lao động và chính sách xã hội về lao
động - tiền lương và BHXH do nhà nước ban hành mà Doanh nghiệp đang áp dụng, kế
toán tiến hành tính lương và trợ cấp BHXH phải trả cho công nhân viên.
Việc tính toán tiền lương thời gian, tiền lương sản phẩm phải trả cho người lao
động đã được trình bầy ở phần trên. Tiền lương được tính riêng cho từng người, sau đó
được tổng hợp riêng cho từng bộ phận, tổ đội sử dụng lao động và được kế toán phản ánh
vào “Bảng thanh toán lương” lập cho từng bộ phận đó. Việc trả lương có thể được thực
hiện làm hai lần trong tháng. Lần 1 được tạm ứng 60% - 70% lương tháng. Số lương còn
lại lần 2 thanh toán nốt và các khoản trợ cấp trả sau cùng. Trường hợp công nhân viên
được hưởng trợ cấp BHXH trong tháng thì căn cứ vào các chứng từ liên quan như : Phiếu
nghỉ hưởng BHXH, biên bản điều tra tai nạn lao động để tính toán và tổng hợp vào
“Bảng thanh toán BHXH ”, “Bảng thanh toán tiền lương” của các bộ phận trong Doanh
nghiệp là cơ sở để chi trả, thanh toán lương cho công nhân viên, đồng thời là cơ sở để kế
toán tổng hợp phân bổ tiền lương và trích BHXH (lập Bảng phân bổ tiền lương và
BHXH), “ Bảng thanh toán BHXH ” có thể được lập theo từng bộ phận sử dụng lao động
hay lập chung toàn Doanh nghiệp và làm căn cứ để chi trả BHXH cho công nhân viên
được hưởng trợ cấp BHXH.
Trường hợp áp dụng tiền thưởng cho công nhân viên , cần tính toán và phản ánh
vào “Bảng thanh toán tiền lương” để theo dõi và chi trả cho đúng.
Tiền lương, trợ cấp BHXH và tiền thưởng chi trả cho công nhân viên phải kịp
thời, đầy đủ và trực tiếp cho người lao động. Công nhân viên khi nhận tiền cần kiểm tra
các khoản được hưởng, các khoản bị khấu trừ và có trách nhiệm ký nhận đầy đủ vào
“Bảng thanh toán lương”.
Những vấn đề trên được trình bày theo sơ đồ sau:
Tính
lương s
ản
ph
ẩm
Ch
ứng từ hạch toán
LĐ:
Bảng chấm công,
phi
ếu xác nhận SP
Chứng từ
Về tiền
thư
ởng
Chứng từ
trợ cấp
BHXH
Bảng
Thanh toán
lương
Bảng
Phân bổ lương
và các khoản
trích theo
Bảng
Kế toán tiền lương, BHXH, BHYT, KPCĐ sử dụng các tài khoản
chủ yếu: TK334, TK338.
Tài khoản 334 - Phải trả công nhân viên: được dùng để phản ánh tiền lương và các
khoản thanh toán trợ cấp BHXH, tiền thưởng, thanh toán khác có liên quan đến thu nhập
của công nhân viên. Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 334 như sau:
TK 334
*) Các khoản tiền lương và
khoản khác đã trả công nhân
viên.
*) Các khoản khấu trừ vào
tiền lương và thu nhập của
công nhân viên
*) Tiền lương, tiền công và
các khoản thanh toán khác
phải trả cho công nhân viên
trong kỳ
*) Các khoản tiền lương và
thu nhập công nhân viên
chưa lĩnh chuyển sang các
khoản thanh toán khác.
Dư nợ (nếu có): Số tiền trả
thừa cho công nhân viên
Dư có: Các khoản tiền lương,
tiền công và các khoản khác
còn phải trả CNV.
TK 334 có thể có số dư bên Nợ trong trường hợp đặc biệt khi số tiền thanh toán
vượt quá số tiền phải trả công nhân viên .
Việc hạch toán trên TK 334 phải theo dõi chi tiết, riêng biệt theo các nội dung
thanh toán tiền lương và các khoản khác
*) Các khoản phải trả khác.
*) Doanh thu chưa thực hiện
Dư nợ( nếu có):
*) Số trả thừa, nộp thừa, vượt chi
chưa thanh toán.
Dư có:
*) Số tiền còn phải trả, phải nộp.
*) Giá tri tài sản thừa chờ xử lý.
Ngoài các TK 334, TK 338, kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương còn
liên quan đến các tài khoản như : TK 335 – Chi phí phải trả, TK 622 - Chi phí nhân công
trực tiếp, TK 627 - Chi phí sản xuất chung, TK 641 - Chi phí bán hàng, TK 642 - Chi phí
quản lý Doanh nghiệp, TK 111, 112, 138, Những tài khoản này dùng để tập hợp và kết
chuyển số chi phí tiền công của công nhân viên vào tài khoản tính giá thành và tài khoản
xác định kết quả kinh doanh.
5.2. Tổng hợp phân bổ tiền lương, trích BHXH, BHYT, KPCĐ
Hàng tháng, kế toán tiến hành tổng hợp tiền lương phải trả trong kỳ theo từng đối
tượng sử dụng (bộ phận sản xuất, loại sản phẩm ) và tính toán trích BHXH, BHYT,
KPCĐ theo quy định trên cơ sở tổng hợp tiền lương phải trả và các tỷ lệ trích BHXH,
BHYT, KPCĐ được thực hiện trên “Bảng phân bổ tiền lương và trích BHXH ”.
Bảng 01
bảng phân bổ tiền lương và BHXH
Tháng năm
Đơn vị:
TT
Ghi Có
TK
Ghi
Nợ TK
Đối tượng sử
YT
338
4
Cộ
ng
TK
3381
TK 622-
CFNCTT
PX ( Sản phẩm )
PX ( Sản phẩm )
2 TK 627- CF SXC
PX ( Sản phẩm )
PX ( Sản phẩm )
3 TK 641- CF BH
4
TK 642- CF
QLDN
5 TK 142- CF TT
Tổng cộng
Ngày tháng năm200
5.4. Sổ kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương
+) Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương thường sử dụng các sổ kế toán
sau :
- Sổ cái tài khoản 334, tài khoản 338.
- Sổ chi tiết TK 334, TK 338.
- Bảng phân bổ tiền lương.
TK 334
TK
622,627,641,64
TK 335
Kho
ản
phải
tr
ả
Trích trư
ớc
lương nghỉ
phép c
ủa CNSX
Ti
ền th
ư
ởng
từ
qu
ỹ khen
BHXH
Trích BHXH,
BHYT, KPCĐ vào
chi phí
S
ố chi
vượt đư
ợc
c
các thông số cơ bản cho phần mềm và máy tính sẽ tự động tính toán số tiền lương phải trả
cũng như các khoản trích có liên quan. Đồng thời chương trình sẽ tự tạo các bảng phân
bổ tiền lương và tự động tập hợp chi phí vào bảng tập hợp chi phí để tính giá thành phần
chi phí nhân công trực tiếp (TK 622), phần chi phí nhân công trong chi phí sản xuất
chung (TK 6271) hoặc chi phí nhân công trong tài khoản 641, 642 để xác định được kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên việc áp dụng kế toán máy trong phần hành kế toán tiền lương và các
khoản trích theo lương hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, vì để có thể vận hành được
phần mềm kế toán đòi hỏi ở kế toán viên bên cạnh trình độ chuyên môn vững chắc phải
có được một trình độ về tin học nhất định và các điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo. Bên
cạnh đó mỗi doanh nghiệp khác nhau sẽ có các hình thức tổ chức quản lý sản xuất khác
nhau, sử dụng lao động với những mục đích khác nhau và phương thức trả lương cũng
như việc hạch toán chi phí tiền lương khác nhau. Do đó phần mềm kế toán áp dụng cho
mỗi đơn vị là không giống nhau, tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể từng doanh nghiệp mà
các chương trình kế toán máy có thể được thiết kế chi tiết và phù hợp hơn. Chương II
Thực tế công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo tiền lương tại Công ty
TNHH Nhà nước một thành viên xuất nhập khẩu và đầu tư Hà Nội
1. Đặc điểm chung của Công ty TNHH Nhà nước một thành viên xuất nhập khẩu và
đầu tư Hà Nội
1.1. Vài nét khái quát về Công ty TNHH Nhà nước một thành viên xuất nhập khẩu
và đầu tư Hà Nội.
Công ty vốn chỉ là một trung tâm sản xuất, dịch vụ của Trường Đoàn cao cấp (
Học viện thanh thiếu niên ngày nay ), hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực may mặc theo
các hợp đồng gia công, với cơ sở vật chất thiếu thốn gồm 250 m
2