BÀI LUẬN
ĐỀ TÀI
Tư tưởng Hồ Chí Minh về
xây dựng mặt trận dân tộc
thống nhất
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc không chỉ dừng lại ở quan
niệm, ở những lời kêu gọi, hiệu triệu mà phải trở thành một chiến lược cách mạng.
Nó phải biến thành sức mạnh vật chất, trở thành lực lượng vật chất có tổ chức. Tổ
chức đó chính là Mặt trận dân tộc thống nhất. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Mặt trận
Dân tộc Thống nhất là một hệ thống những quan điểm khá hoàn chỉnh về công tác
Mặt trận, bắt nguồn từ quan điểm nhất quán của Người về vai trò quyết định của
quần chúng trong lịch sử, coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân.
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay, không có thời kỳ nào
vắng tổ chức Mặt trận. Thắng lợi huy hoàng của Cách mạng Tháng Tám, khai sinh
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ngày nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Mặt trận Việt Minh. Thành tích của
Mặt trận Việt Minh chính là sự kế tục sự nghiệp cách mạng đã được chuẩn bị từ
trước của Hội Phản đế Đồng Minh (1930 - 1936) và của Mặt trận Dân chủ Đông
Dương (1936 - 1939). Tiếp theo Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt đã góp phần
đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi. Kế tục sự nghiệp của Mặt
trận Liên Việt, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra đời có sứ mệnh cao cả là đoàn kết các
giới đồng bào làm hậu thuẫn cho chính quyền dân chủ nhân dân ở miền Bắc đã được
giải phóng, cùng với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên
minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hoà bình Việt Nam đã đoàn kết quân dân cả
nước làm tròn nhiệm vụ lịch sử vẻ vang là giải phóng miền Nam, hoàn thành cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.
Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam rõ ràng là một nhân tố thắng lợi của
cách mạng, là vũ khí chính trị không thể thiếu để nhân dân ta phát huy sức mạnh
Tổ quốc.
Nghiên cứu đề tài để nắm được những quan điểm, tư tưởng của Đảng và chủ
tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Mặt trận Dân tộc Thống nhất trong xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Từ đó vận dụng trong công cuộc Đổi mới hiện nay,
phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân, đồng tâm hiệp lực, đem hết nhiệt
3
tình, trí tuệ và tài năng cống hiến cho sự chấn hưng đất nước, thực hiện lời dạy của
chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết.
Thành công, thành công, đại thành công!”
5. Kết cấu đề tài
Đề tài gồm có 3 phần:
I. Mở đầu
II. Nội dung chính
III. Kết luận.
4
II. NỘI DUNG
1. Tính tất yếu xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất
Trước Hồ Chí Minh, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin chưa đề cập đến
vấn đề đại đoàn kết dân tộc. Do đặc điểm của thời đại mình, C.Mác và Ăngghen mới
chỉ kêu gọi đoàn kết giai cấp vô sản toàn thế giới và thực hiện liên minh công nông
trong đấu tranh lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa. Tới V.I.Lênin, trong điều kiện chủ
nghĩa tư bản đã chuyển sang chủ nghĩa đế quốc, ách áp bức giai cấp và dân tộc đã
diễn ra trên phạm vi toàn cầu, tư tưởng liên minh công nông của C.Mác được
V.I.Lênin và Quốc tế Cộng sản mở rộng ra trên quy mô toàn thế giới với khẩu hiệu
nổi tiếng: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”. Song, do
chưa đánh giá đầy đủ vấn đề dân tộc, tư tưởng về đoàn kết dân tộc trong Mặt trận
dân tộc thống nhất vẫn chưa được V.I.Lênin và Quốc tế Cộng sản đặt ra.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh tính bức thiết cần phải có một
Mặt trận dân tộc thống nhất để lãnh đạo khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Từ khi thực
nhất quán của Người về vai trò quyết định của quần chúng trong lịch sử, coi cách
mạng là sự nghiệp của quần chúng, Đảng chỉ có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của
mình nếu biết tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân trong Mặt trận Dân tộc Thống
nhất rộng rãi chống kẻ thù chung và xây dựng đất nước.
Trong tác phẩm "Đường kách mệnh", đồng chí Nguyễn ái Quốc đã nói: Kách
mệnh là việc chung của dân chúng, chứ không phải là việc của một hai người. Trong
"Tuyên ngôn của Đảng cộng sản", Mác và Ǎngghen chỉ rõ: " Những người cộng
sản phấn đấu cho sự đoàn kết và liên hợp của các đảng dân chủ ở tất cả các nước".
Lênin còn cho rằng chỉ một mình giai cấp vô sản tiến hành cuộc đấu tranh một cách
đơn độc "thì đó không những là một điều dại dột, mà còn là một tội ác nữa". .
Quan điểm cơ bản trên đã được thể hiện trong thực tiễn đấu tranh giành và giữ
chính quyền trước đây, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện
nay. Mặt trận dân tộc thống nhất là sự thực hiện bằng tổ chức việc tập hợp và phát
huy sức mạnh toàn dân trong sự nghiệp chung: giải phóng dân tộc và xây dựng đất
nước. Từ ngày thành lập, Đảng ta đã coi Mặt trận dân tộc thống nhất là vấn đề có ý
nghĩa chiến lược, và đã phê phán mọi biểu hiện coi nhẹ công tác mặt trận, hạ thấp
vai trò của quần chúng, coi thường nhân tố dân tộc trong cách mạng. Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã nói: công tác mặt trận là một công tác rất quan trọng trong toàn bộ công
tác cách mạng.
6
Quá trình phát triển của cách mạng, tuy phải trải qua những bước thăng trầm,
song quan điểm đó luôn luôn nhất quán. Từ Hội Phản đế Đồng minh, Mặt trận Dân
chủ Đông Dương, Mặt trận Phản đế Đông Dương, Mặt trận thống nhất chống phát
xít đến Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên việt, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền
Nam Việt Nam, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ, hoà bình Việt Nam, Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam tất cả những thử nghiệm về lý luận và thực tiễn các phong
trào Mặt trận đã đi đến khẳng định những quan điểm đúng đắn của Hồ Chí Minh về
Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam.
Để hình thành được mặt trận, tập hợp được hết thảy các lực lượng cách mạng và
tiến bộ trong mỗi thời kỳ cách mạng, thực hiên theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng
những đế quốc thực dân lớn mạnh, đã vượt qua biết bao khó khăn, khổ cực, đổ biết
bao xương máu để đưa cách mạng đến thắng lợi vẻ vang cuối cùng. Một trong
những nguyên nhân thắng lợi là Đảng ta luôn chǎm lo xây dựng khối đại đoàn kết
toàn dân trong Mặt trận dân tộc thống nhất theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
"Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết.
Thành công, thành công, đại thành công".
Dựa trên tư tưởng nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh đảng ta đã xây dựng nên
một khối đại đoàn kết vững bền rộng khắp, chính những điều này đã góp phần to lớn
trong thắng lợi của toàn dân tộc không chỉ trong đấu tranh giành độc lập mà còn
trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
3. Nguyên tắc cơ bản về xây dựng và hoạt động của Mặt trận dân tộc
thống nhất
- Thứ nhất, Mặt trận dân tộc thống nhất phải được xây dựng trên nền tảng khối
liên minh công-nông-trí thức, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Mặt trận dân tộc thống nhất là thực thể của tư tưởng đại đoàn kết dân tộc, nơi
quy tụ mọi con dân nước Việt. Song đó không phải là một tập hợp lỏng lẻo, ngẫu
nhiên, tự phát của quần chúng nhân dân, mà là một khối đoàn kết chặt chẽ, có tổ
chức nền tảng khối liên minh công – nông – trí thức, do Đảng Cộng sản lãnh
đạo.Đây là nguyên tắc cốt lõi trong chiến lược đại đoàn kết của Hồ Chí Minh, nó
hoàn toàn khác với tư tưởng đoàn kết, tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước Việt
Nam trong lịch sử.
8
Hồ Chí Minh viết: “Lực lượng chủ yếu trong khối đoàn kết dân tộc là công
nông, cho nên liên minh công nông là nền tảng của Mặt trận dân tộc thống nhất”.
Người chỉ rõ rằng, sở dĩ phải lấy liên minh công – nông làm nền tảng “Vì họ là
người trực tiếp sản xuất tất cả mọi tài phú làm cho xã hội sống. Vì họ đông hơn hết,
mà cũng bị áp bức boc lột nặng nề hơn hết. Vì chí khí cách mạng của họ chắc chắn,
bền bỉ hơn của mọi tầng lớp khác”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi liên minh công nông “là nền”, “là gốc” của đại đoàn
kết và chỉ rõ “nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc
Dân tộc Thống nhất, đồng thời Người cũng chỉ rõ Mặt trận còn là nơi thể hiện sức
mạnh của dân tộc, bao gồm mọi người Việt Nam thực sự yêu nước, tiến bộ. Với
quan điểm đó, Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề giai cấp (liên minh công nông) trong lòng
dân tộc (Mặt trận Dân tộc Thống nhất). Các giai cấp nằm trong Mặt trận Dân tộc
Thống nhất là nằm trong liên minh giai cấp, liên minh với các tầng lớp yêu nước
khác, không phải đấu tranh để lật đổ, tiêu diệt, loại trừ giai cấp, mà là tạo thành lực
lượng thống nhất của cả dân tộc để giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đặt liên minh công nông trong khuôn khổ nền tảng của Mặt trận Dân tộc Thống
nhất, Hồ Chí Minh đã giải quyết một cách sáng tạo mối quan hệ hài hoà giữa dân tộc
và giai cấp ở nước ta.
Theo Hồ Chí Minh, đại đoàn kết là công việc của toàn dân tộc, song nó chỉ có
thể được củng cố và phát triển vững chắc khi được Đảng lãnh đạo. Sự lãnh đạo của
Đảng đối với Mặt trận vừa là vấn đề mang tính nguyên tắc, vừa là một tất yếu bảo
đảm cho Mặt trận tồn tại, phát triển và có hiệu lực trong thực tiễn.Bởi vì chỉ có chính
Đảng của giai cấp công nhân được vũ trang bởi chủ nghĩa Mác – Lênin mới đánh giá
đúng được vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, mới vạch ra được đường
lối chiến lược và sách lược đúng đắn để lôi kéo, tập hợp quần chúng vào khối đại
đoàn kết trong Mặt trận, biến tiến trình cách mạng thành ngày hội thật sự của quần
chúng.Chính vì vậy, Hồ Chí Minh luôn xác định, mối quan hệ giữa Đảng và Mặt
trận là mối quan hệ máu thịt. Không có Mặt trận, Đảng không có lực lượng, không
thể thực hiện được những nhiệm vụ cách mạng; không có sự lãnh đạo của Đảng, Mặt
trận không thể hình thành, phát triển và không có phương hướng hoạt động đúng
đắn.Hồ Chí Minh cho còn rằng, sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận vừa là một
tất yếu, vừa phải có điều kiện. Tính tất yếu thể hiện ở năng lực nắm bắt thực tiễn,
phát hiện ra các quy luật khách quan của sự vận động lịch sử để vạch ra đường lối và
phương pháp cách mạng phù hợp, lãnh đạo Mặt trận thực hiện thành công các nhiệm
vụ cách mạng mà không một lực lượng nào, một tổ chức chính trị nào trong Mặt trận
10
có thể làm được. Mục tiêu của Đảng là đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng
giai cấp, kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Ngoài lợi ích giai cấp và lợi
một mục đích, một số phận. Nếu không suy nghĩ như nhau, nếu không có chung
một mục đích, chung một số phận thì dù có kêu gọi đoàn kết thế nào đi nữa, đoàn kết
vẫn không thể có được.
Tin vào dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của dân. Đây là nguyên tắc xuất
phát từ tư tưởng lấy dân làm gốc của ông cha ta được Hồ Chí Minh kế thừa và nâng
lên một bước và là phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử: cách mạng là sự
nghiệp của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử. Tin vào dân, dựa vào
dân và lấy dân làm gốc có nghĩa là phải tin tưởng vững chắc vào sức mạnh to lớn và
năng lực sáng tạo của nhân dân, phải đánh giá đúng vai trò của lực lượng nhân dân.
Người viết: “Có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy cũng làm được.
Không có thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề
một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ mà những người tài giỏi, những đoàn thể to
lớn nghĩ mãi không ra”.
Mục đích chung của Mặt trận dân tộc thống nhất được Hồ Chí Minh xác định cụ
thể phù hợp với từng giai đoạn cách mạng, nhằm tập hợp tới mức cao nhất lực lượng
dân tộc vào khối đại đoàn kết. Đại đoàn kết phải được xây dựng trên cơ sở bảo đảm
những lợi ích tối cao của dân tộc, lợi ích của nhân dân lao động và quyền thiêng
liêng của con người: Bởi vì trong mỗi quốc gia, mỗi dân tộc bao giờ cũng tồn tại
những tầng lớp, giai cấp khác nhau. Mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp lại có lợi ích khác
nhau nhưng tất cả các lợi ích khác nhau đó đều có một điểm chung là lợi ích dân tộc.
Quyền lợi của các tầng lớp, giai cấp có thực hiện được hay không còn phụ thuộc vào
dân tộc đó có được độc lập tự do, có đoàn kết hay không và việc nhận thức, giải
quyết đúng đắn các quan hệ lợi ích đó như thế nào. Nguyên tắc đại đoàn kết dân tộc
Hồ Chí Minh là tìm kiếm, trân trọng và phát huy những yếu tố tương đồng, thu hẹp
đến mức thấp nhất những yếu tố khác biệt, mâu thuẫn và Người bao giờ cũng tìm ra
những yếu tố của đoàn kết dân tộc thay cho sự đào sâu tách biệt, thực hiện sự quy tụ
thay cho việc loại trừ những yếu tố khác nhau về lợi ích. Theo Hồ Chí Minh, lợi ích
tối cao của dân tộc là độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, là bình đẳng, dân chủ,
tự do. Lợi ích tối cao này là ngọn cờ đoàn kết, là sức mạnh dân tộc và là nguyên tắc
bất di bất dịch của cách mạng Việt Nam. Đó cũng là nguyên tắc bất biến trong tư
Hiệp thương, tự nó đã nói nên tính chất bình đẳng, bao hàm sự nhân nhượng,
thậm chí không loại trừ cả sự thỏa hiệp khi cần thiết, theo đúng nghĩa tích cực của
khái niệm này. Ở khía cạnh khác, hiệp thương cũng là sự thể hiện của văn hóa dân
chủ. Trong hiệp thương dân chủ thì hiệp thương là cách thức, phương thức, còn dân
13
chủ vừa là tiền đề vừa là mục tiêu, mục đích. Hiệp thương dân chủ thực chất cũng là
công tác dân vận, công tác vận động quần chúng theo đường lối, quan điểm của
Đảng. Đây cũng chính là yêu cầu lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận phải đạt tới,
tức là đảm bảo sự thành thật, tin cậy, là tôn trọng, là không mang tính quyền uy để
phối hợp thống nhất hành động nhằm tăng cường sự đoàn kết, sự đồng thuận trong
xã hội và nhân dân.
Khi có những lợi ích riêng biệt không phù hợp, Mặt trận sẽ giải quyết bằng việc
nêu cao lợi ích chung của dân tộc, bằng sự vận động hiệp thương dân chủ, tạo ra
nhận thức ngày càng đúng đắn hơn cho mỗi người, mỗi bộ phận về mối quan hệ giữa
lợi ích chung và lợi ích riêng. Nguyên tắc hiệp thương dân chủ đòi hỏi tất cả mọi vấn
đề của Mặt trận đều phải được đem ra để tất cả các thành viên cùng nhau bàn bạc
công khai, để đi đến nhất trí, loại trừ mọi sự áp đặt hoặc dân chủ hình thức. Đảng là
lực lượng lãnh đạo Mặt trận, nhưng cũng là một thành viên của Mặt trận. Do vậy, tất
cả mọi chủ trương, chính sách của mình, Đảng phải có trách nhiệm trình bày trước
Mặt trận, cùng với các thành viên khác của Mặt trận bàn bạc, hiệp thương dân chủ
để tìm kiếm các giải pháp tích cực và thống nhất hành động, hướng phong trào quần
chúng thực hiện thắng lợi các mục tiêu đã vạch ra.
Để thực hiện nguyên tắc hiệp thương dân chủ phải đứng vững trên lập trường
giai cấp công nhân, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích dân tộc và lợi ích
giai cấp, lợi ích chung và lợi ích riêng, lợi ích lâu dài và lợi ích trước mắt… Phải
làm cho tất cả các thành viên trong Mặt trận thấm nhuần lợi ích chung, lợi ích tối cao
của dân tộc, phải đặt lợi ích chung lên trên hết, trước hết. Những lợi ích chính đáng
phù hợp với lợi ích chung của đất nước và dân tộc phải được tôn trọng. Ngược lại,
những lợi ích bộ phận không phù hợp sẽ dần dần được giải quyết cùng với tiến trình
chung của cách mạng, thông qua lợi ích chung, với sự nhận thức ngày càng đúng
thế giới, cải tạo xã hội. Muốn cải tạo thế giới và cải tạo xã hội thì trước hết phải tự
cải tạo bản thân chúng ta”.
4. Những kinh nghiệm trong xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất
a. Xác định đúng kẻ thù, sắp xếp đúng bạn đồng minh
Muốn có chính sách mặt trận đúng đắn, trước hết phải xác định đúng kẻ thù cụ
thể, trước mắt. Điều đó đòi hỏi phải có lập trường giai cấp vững vàng, nhãn quan
chính trị sâu sắc, nhạy bén. Trong đấu tranh cách mạng, không thể chỉ nêu ra kẻ thù
chung chung, mà phải chỉ rõ kẻ thù cần phải đánh đổ trong từng giai đoạn chiến
15
lược, có khi trong từng thời kỳ của một giai đoạn. Có như vậy mới tập trung được
toàn bộ lực lượng cách mạng đánh đổ chúng.
Trong thời kỳ 1945-1946, công tác mặt trận lúc này hết sức phức tạp, nhưng
phong phú và sáng tạo. Cùng một lúc cách mạng nước ta phải đối phó với nhiều kẻ
thù, nhưng Đảng đã đánh giá đúng các loại kẻ thù, xác định đúng kẻ thù chính, để có
sách lược và phương pháp đấu tranh phù hợp, tạm thời hoà hoãn với kẻ thù này,
phân hoá, cô lập kẻ thù kia, tránh thế bất lợi phải chống với nhiều kẻ thù cùng một
lúc, để tǎng thêm sức mạnh giành thắng lợi. Trong kháng chiến chống Mỹ, Đảng ta
đã sáng suốt chỉ rõ kẻ thù nguy hiểm nhất không chỉ của dân tộc ta mà của cả loài
người tiến bộ là đế quốc Mỹ, nên đã hình thành được ba tầng mặt trận: ở trong nước,
ở Đông Dương và trên thế giới, tạo ra sức mạnh để giành thắng lợi trong sự nghiệp
chống Mỹ, cứu nước.
Trong công tác mặt trận, phải đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân và
quan điểm dân tộc đúng đắn. Vì trong dân tộc có nhiều giai cấp, nên Đảng phải đánh
giá đúng thái độ chính trị của các giai cấp và tầng lớp xã hội khác nhau để sắp xếp
đúng đắn vị trí các lực lượng trong Mặt trận dân tộc thống nhất: vai trò lãnh đạo, lực
lượng nòng cốt, bạn đồng minh lâu dài và gần gũi, bạn đồng minh tạm thời, v.v
Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về Mặt trận dân tộc thống nhất, Đảng ta xác
định rõ vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, vai trò nòng cốt của liên minh công -
nông, vị trí quan trọng của tầng lớp trí thức, tiểu tư sản và ra sức tập hợp đông đảo
lực lượng về phía cách mạng, đồng thời đánh giá cao truyền thống yêu nước của mọi
- Mối quan hệ giữa liên minh công nông và mặt trận.
Đây là mối quan hệ lớn nhất trong công tác mặt trận. Đảng ta đã giải quyết thành
công mối quan hệ này thông qua việc giải quyết đúng mối quan hệ giữa nhiệm vụ
chống đế quốc và chống phong kiến. Trong khi nhấn mạnh đoàn kết dân tộc, không
bao giờ Đảng coi nhẹ vai trò nền tảng của mặt trận là khối liên minh công nông, vì
liên minh công nông có vững chắc mới có thể mở rộng được mặt trận; ngược lại, làm
tốt công tác mặt trận càng làm cho liên minh công nông thêm vững chắc. Chỉ nhấn
mạnh liên minh công nông mà không chú ý tranh thủ các giai cấp, tầng lớp khác là
hẹp hòi, tả khuynh. Ngược lại, chỉ chú ý vận động các giai cấp, tầng lớp khác mà
không chú ý củng cố liên minh công nông là phạm sai lầm hữu khuynh.
17
Khi cần tập trung lực lượng để giải quyết những nhiệm vụ cấp bách nhất của
cách mạng, Đảng đã giải quyết đúng mức quyền lợi của công nông và của các giai
cấp, các tầng lớp tham gia mặt trận.
- Mối quan hệ giữa tranh thủ tầng lớp trên đi đôi với phát động quần chúng cơ
bản.
Đây là mối quan hệ phức tạp đòi hỏi phải có giải pháp khéo léo. Về bản chất giai
cấp, tầng lớp trên đối lập với quần chúng cơ bản của cách mạng là công nông.
Nhưng Đảng có thể và cần phải tranh thủ tầng lớp trên, nhất là những cá nhân có uy
tín trong quần chúng, đó là điều cần thiết và có lợi cho việc phát động quần chúng
cơ bản. Nhưng phong trào vững chắc phải là phong trào cách mạng của quần chúng
cơ bản. Chỉ khi nào phong trào đó mạnh mới bảo đảm tranh thủ được tầng lớp trên.
Đồng chí Nguyễn Vǎn Cừ đã phân tích: muốn lôi cuốn được tầng lớp trên tham gia
đấu tranh vì quyền lợi của dân tộc thì điều "cốt yếu là do lực lượng đấu tranh của
quần chúng".
Đảng đã chỉ rõ, phải tranh thủ tầng lớp trên có ảnh hưởng đối với quần chúng ở
vùng dân tộc ít người. Mấu chốt của vấn đề đoàn kết các dân tộc anh em là phải thực
hiện chính sách bình đẳng dân tộc, làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao
tiến kịp vùng thấp về kinh tế và vǎn hoá, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân lao động, chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, tự ti dân tộc.
Đảng cũng là một tổ chức chính trị trong mặt trận, nhưng mặt trận thừa nhận vai
trò lãnh đạo của Đảng, vì Đảng có đường lối chính trị đúng, gồm những người giác
ngộ chính trị sâu sắc, tự nguyện, hết lòng phục vụ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc,
giải phóng giai cấp, tiền phong gương mẫu trong mọi phong trào cách mạng của
quần chúng; vì Đảng biết tạo ra sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau, biết phối hợp hành
động giữa Đảng và các thành viên khác trong mặt trận. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ
rõ: Đảng "phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực
nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận
chính sách đúng đắn và nǎng lực lãnh đạo của Đảng thì Đảng mới giành được địa vị
lãnh đạo". Để bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong mặt trận, phải luôn luôn tránh
hai khuynh hướng lệch lạc là: cô độc, hẹp hòi, coi nhẹ tranh thủ các lực lượng có thể
19
tranh thủ; hoặc đoàn kết một chiều, đoàn kết mà không đấu tranh đúng mức với
những tư tưởng và việc làm sai trái của các thành viên trong mặt trận.
Về phần mình, Đảng không ngừng phấn đấu nâng cao nǎng lực lãnh đạo bằng sự
hoàn thiện đường lối chiến lược, đổi mới chủ trương, sách lược cho phù hợp với tình
hình, nhiệm vụ và cải tiến phong cách, phương thức làm việc trong mặt trận, chống
tác phong quan liêu, mệnh lệnh, thiếu kiên trì giáo dục, thuyết phục. Sự cố kết giữa
Đảng ta với Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt, Mặt trận dân tộc giải phóng
miền Nam trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước
trước đây, cũng như với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay trong sự nghiệp bảo vệ
và xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa là một sức mạnh không gì có
thể phá vỡ nổi. Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng ta không ngừng tự đổi mới,
nhằm nâng cao nǎng lực lãnh đạo cách mạng nước ta trong giai đoạn mới. Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam ngày càng mở rộng, tập hợp mọi thành phần, lực lượng của đất
nước, tạo thành sức mạnh tổng hợp làm nên sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng và vǎn minh tiến lên chủ nghĩa xã hội.
5. Các hình thức của Mặt trận dân tộc thống nhất qua các thời kì
a. Trong suốt chiều dài lịch sử
Hội phản đế đồng minh (18/11/1930 - 3/1935)
Mặt trận dân chủ Đông Dương (6/1938 - 11/1939)
Sang năm 1938, tình hình thế giới có sự thay đổi quan trọng, Mặt trận nhân dân
Pháp (nòng cốt là Đảng Cộng sản Pháp) lên cầm quyền với nhiều chính sách tiến bộ.
Tình hình trong nước cũng có nhiều thay đổi lớn, sau những năm tháng đấu tranh khó
khăn, gian khổ cùng nhiều hy sinh mất mát, nên yêu cầu cấp thiết nhất của toàn dân
lúc này là đòi các quyền tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình…Vì vậy, để phù hợp với
điều kiện lịch sử mới, tháng 6/1938 Đảng ta đã quyết định thành lập Mặt trận Dân
chủ Đông Dương. Với nhiệm vụ nhằm tập hợp đoàn kết rộng rãi công nhân, nông
dân, tiểu thương, tiểu chủ tư sản nhỏ, các đảng phái cải lương, những người Pháp tiến
bộ ở Đông Dương để chống chủ nghĩa phát xít, chống chiến tranh, đòi tự do, cơm áo,
hoà bình cho nhân dân.
Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương (11/1939 - 5/1941)
Ngày 01/9/1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, thực dân Pháp đã phát
xít hóa bộ máy chính quyền, đặt Mặt trận Dân chủ Đông Dương ngoài vòng pháp luật
21
và thẳng tay đàn áp. Thực tiễn này làm cho vấn đề sống còn của các dân tộc Đông
Dương được đặt ra hết sức cấp thiết. Để phù hợp với tình hình mới và đưa cách mạng
tiếp tục tiến lên, tháng 11/1939, Đảng đã quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc thống
nhất phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận Dân chủ Đông Dương nhằm liên hiệp
tất cả các dân tộc Đông Dương, các giai tầng, đảng phái, cá nhân có tinh thần phản đế
muốn giải phóng dân tộc chống đế quốc, bè lũ tay sai của chúng và vua chúa bản xứ
phản bội quyền lợi dân tộc.Bởi vậy các tổ chức phản đế phát triển nhanh chóng dưới
nhiều hình thức bí mật và công khai.
Việt Nam độc lập đồng minh hội, gọi tắt là Việt Minh (19/5/1941 - 3/1951)
Tháng 9/1940, Nhật vào đánh chiến Đông Dương, thực dân Pháp đầu hàng và
làm tay sai cho Nhật. Trước sự thay đổi nhanh chóng của tình tình, Đảng đã quyết
định thành lập Việt nam Độc lập đồng minh hội - gọi tắt là Việt Minh (19/5/1941).
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận Việt Minh đã thu hút được mọi giới đồng bào
yêu nước, từ công nhân, nông dân, trí thức, tiểu tư sản đến tư sản dân tộc, phú nông và
một số địa chủ nhỏ có tinh thần yêu nước, đưa tới cao trào đánh Pháp, đuổi Nhật của
Đảng và Nhà nước, đập tan mọi hoạt động tàn bạo và âm mưu thâm độc của kẻ thù,
thực hiện giảm tô, giảm tức và cải cách ruộng đất nhằm động viên khí thế cách mạng
của nông dân, tăng cường công nông, góp phần củng cố Mặt trận Dân tộc Thống
nhất. Quá trình kháng chiến toàn dân, toàn diện làm cho Mặt trận Dân tộc Thống nhất
không ngừng lớn mạnh, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tạo nên sức mạnh vật
chất và tinh thần đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Làm nên chiến thắng Điện Biên
Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, lập lại hòa bình ở Đông Dương, đưa
miền Bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Mặt trận tổ quốc Việt Nam (10/9/1955 - 2/1977)
Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, đất nước bị chia cắt làm hai miền, miền Bắc được giải
phóng, miền Nam nằm dưới sự thống trị của Mỹ. Cách mạng Việt Nam có hai nhiệm
vụ chiến lược là: thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng
dân tộc dân chủ ở miền Nam, tiến tới thống nhất nước nhà.Trước bối cảnh lịch sử
mới, ngày 10/9/1955, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ra đời với mục đích đoàn kết
mọi lực lượng trong nước để đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và các lực lượng
tay sai. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã vận động các tầng lớp nhân dân ra sức thi đua
yêu nước, tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, cải tạo và xây dựng miền Bắc thành
cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh nhằm thực hiện thống nhất nước nhà
23
Mặt trận dân tộc giải phóng miền nam Việt Nam (20/12/1960 - 2/1977)
Trong cao trào đấu tranh quyết liệt của đồng bào miền Nam, đặc biệt là phong
trào đồng khởi, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ra đời (20/12/1960) nhằm
đoàn kết toàn thể đồng bào miền Nam trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm
lược và nguỵ quyền để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Mặt trận Dân tộc
giải phóng không ngừng củng cố và mở rộng khối đoàn kết dân tộc, tổ chức và động
viên đồng bào và chiến sĩ miền Nam đẩy mạnh đấu tranh trên cả ba mặt trận: quân
sự, chính trị và ngoại giao. Ảnh hưởng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng không
ngừng được mở rộng trong các tầng lớp nhân dân miền Nam và uy tín của Mặt trận
đã được nâng cao trên trường quốc tế.
Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam (20/4/1968 -
b. Xây dựng Mặt trận dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa
- Cơ sở khách quan của chính sách đoàn kết dân tộc và xây dựng Mặt trận dân
tộc thống nhất trong giai đoạn cách mạng hiện nay
Sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, nước ta chuyển sang
giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: " chủ nghĩa xã
hội chỉ có thể xây dựng được với sự giác ngộ đầy đủ và lao động sáng tạo của hàng
chục triệu người". Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng đã khẳng định khối
đại đoàn kết toàn dân là nguồn sức mạnh vô tận bảo đảm hoàn thành những nhiệm vụ
lịch sử trong giai đoạn mới. Qua đó khẳng định vai trò to lớn của Mặt trận dân tộc
thống nhất không chỉ trong kháng chiến chống giặc ngọai xâm, mà còn trong công
cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay.
Nếu như trước đây, giải phóng đất nước, giành độc lập dân tộc đã là sự nghiệp của
toàn dân, thì ngày nay xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa để mọi
người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc lại càng phải là sự nghiệp của toàn dân.
Chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đã và đang xây dựng là một xã hội mà đất nước và
con người thật sự được giải phóng và làm chủ trên cơ sở nền kinh tế phát triển cao và
nền vǎn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Mục tiêu và nhiệm vụ này hoàn toàn
phù hợp với nguyện vọng và lợi ích cơ bản, lâu dài của tuyệt đại bộ phận nhân dân ta.
Là người Việt Nam, ai cũng mong muốn tham gia xây dựng đất nước vǎn minh, giàu
mạnh, sánh vai cùng các nước trong thế giới hiện đại.
- Mặt trận dân tộc thống nhất trong hệ thống chính trị - xã hội của nước ta hiện
nay.
25