SỰ HÌNH THÀNH VÀ SỤP ĐỔ CỦA TRẬT TỰ HAI
CỰC IANTA
1. Sự hình thành trật tự thế giới hai cực Ianta
Tháng 9 năm 1945, cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc với sự thắng lợi của phe
Đồng minh chống phát xít và sự thất bại của phe phát xít. Kể từ thời điểm lịch sử trọng đại này,
lịch sử thế giới và quan hệ quốc tế chuyển sang một thời kỳ mới với nhiều biến chuyển to lớn và
chưa từng có tiền lệ.
Đầu năm 1945, trong bối cảnh Hồng quân Liên Xô đang truy quét bọn phát xít ra khỏi biên
giới đất nước và chuẩn bị tác chiến trên lãnh thổ các nước Đông Âu đang chịu sự chiếm đóng
của Đức quốc xã và quân đội Đồng minh Mỹ - Anh cũng giành được thắng lợi trong nỗ lực mở
mặt trận thứ hai ở Tây Âu và mặt trận Thái Bình Dương, nguyên thủ của ba cường quốc giữ vai
trò nòng cốt trong phe Đồng minh (Liên Xô, Anh, Mỹ) đã gặp nhau tại thành phố Ianta/Yanta
(bán đảo Crưm, Liên Xô) để nhằm đưa ra các biện pháp quan trọng nhằm đánh bại nhanh chóng
các nước phát xít Đức và Nhật, kết thúc chiến tranh, đồng thời thiết lập một nền hòa bình lâu dài
trên trái đất. Cuộc gặp thượng đỉnh tam cường diễn ra từ ngày 4 đến ngày 11 tháng 2 năm 1945
với sự tham gia của Stalin, Roosevelt và Churchill. Do liên quan đến lợi ích của mỗi cường quốc
thắng trận mà hội nghị tại Ianta đã diễn ra trong bầu không khí căng thẳng và sự tranh giành
quyết liệt. Tuy nhiên, vì lợi ích chung có liên quan trực tiếp tới nền hòa bình, an ninh và trật tự
thế giới mới sau chiến tranh nên cuối cùng các bên tham gia hội nghị cũng đã đạt được sự đồng
thuận trên một số vấn đề chủ yếu sau:
Về vấn đề Đức, Liên Xô, Anh và Mỹ đã thống nhất với nhau rằng, cần phải đánh bại hoàn
toàn và tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Đức. Sau khi Hitler bị đánh bại, nước Đức sẽ bị lực
lượng Đồng minh chiếm đóng. Theo thỏa thuận giữa ba cường quốc, Liên Xô sẽ chiếm đóng
vùng Đông Đức, Anh chiếm đóng vùng Tây-Bắc, còn Mỹ sẽ chiếm đóng vùng Tây – Nam của
nước Đức. Do sự ủng hộ của Mỹ nên Pháp cũng có thể tham gia vào việc chiếm đóng nước Đức
( đại diện Mỹ từng cho rằng: “không thể tưởng tượng một châu Âu ổn định mà không có một
nước Pháp mạnh và có ảnh hưởng”[1] ). Thủ đô Béclin (Berlin) của Đức cũng bị phân chia
thành những vùng chịu sự chiếm đóng và kiểm soát của bốn cương quốc (Liên Xô, Anh, Mỹ và
Pháp). Nhằm phối hợp hành động và thi hành những chính sách đã thỏa thuận áp dụng cho nước
Đức, một Ủy ban kiểm soát Trung ương sẽ được thành lập ở Béclin. Cơ quan này đảm nhiệm
Có thể thấy, những kết quả đạt được giữa Liên Xô, Anh và Mỹ tại Ianta vào tháng 2 năm
1945 không chỉ thiết lập một sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các nước thuộc phe Đồng minh
trong cuộc chiến tranh chống lại chủ nghĩa phát xít ở giai đoạn cuối cùng mà còn đặt những cơ
sở có tính chất nền tảng cho việc hình thành một trật tự thế giới mới sau chiến tranh mà lịch sử
gọi là Trật tự hai cực Ianta do Liên Xô và Mĩ đứng đầu mỗi cực với các khu ảnh hưởng của mỗi
nước.
Sau hội nghị Ianta, cả ba cường quốc đều đẩy mạnh các hoạt động quân sự nhằm nhanh
chóng đánh bại chủ nghĩa phát xít Đức. Tuy quân đội Đức đã kháng cự điên cuồng song vẫn
không thể ngăn cản được bước tiến của lực lượng Đồng minh. Đến ngày 26 tháng 4 năm 1945,
Hồng quân Liên Xô và Mĩ đã gặp nhau ở Torgau trên bờ sông Elbe của Đức. Ngày 2 tháng 2
năm 1945, quân Đức bảo vệ Béclin đã buộc phải đầu hàng[3]. Ngày 8 tháng 5 năm 1945, tại
Karlshorst thuộc ngoại ô Béclin, dưới sự chủ tọa của Nguyên soái Liên Xô Jukov và sự tham dự
của đại diện các lực lượng vũ trang Liên Xô, Mĩ, Anh và Pháp, tướng Đức là Keitel (người đứng
đầu Bộ chỉ huy tối cao các lực lượng vũ trang Đức) đã phải ký vào Hiệp ước đầu hàng Đồng
minh vô điều kiện. Như vậy, với văn kiện quan trọng này, chủ nghĩa phát xít Đức chính thức bị
đánh bại hoàn toàn. Kể từ đây, sự thất bại của chủ nghĩa phát xít Nhật cũng chỉ còn là vấn đề thời
gian.
Sau nhiều tranh cãi về địa điểm tổ chức cuộc họp cấp cao giữa ba cường quốc liên quan đến
các vấn đề của nước Đức phát xít và nước Nhật bại trận, cuối cùng Liên Xô và Mĩ cũng đạt được
thỏa với Anh về việc tiến hành Hội nghị thượng đỉnh Xô - Mĩ - Anh tại thành phố Potsdam
(Đức). Trong các ngày từ 17 tháng 7 đến 25 tháng 7 và từ ngày 28 tháng 7 đến ngày 2 tháng 8
năm 1945 đã diễn ra Hội nghị thượng đỉnh Potsdam. Vấn đề trung tâm của Hội nghị Potsdam là
vấn đề Đức, với các vấn đề chính như: tương lai của nước Đức, về việc chiếm đóng và kiểm soát
nước Đức, trừng trị tội phạm chiến tranh và bồi thường chiến phí chiến tranh.
Theo quyết định của Hội nghị Potsdam, nước Đức phải trở thành một quốc gia thống nhất,
dân chủ và hòa bình, tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít. Diện tích khu vực chiếm đóng của Liên
Xô, Mỹ, Anh và Pháp tại Đức đã được công bố vào ngày 6 tháng 6 năm 1945. Theo đó, Liên Xô
chiếm đóng khu vực phía đông có diện tích 107.500 km
2
với số dân là 18,5 triệu người; Anh phía
ký văn bản đầu hàng không điều kiện[6]. Trong những ngày tiếp theo, các đạo quân của Nhật lần
lượt hạ vũ khí, chiến tranh đã chấm dứt, đánh dấu sự thất bại của chủ nghĩa phát xít Nhật.
Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, tình hình thế giới đã có những chuyển biến to
lớn, tác động mạnh mẽ tới tất cả các quan hệ quốc tế và trật tự thế giới vừa mới được thiết lập.
Trước tiên, từ chỗ là đồng minh, hợp tác với nhau để cùng đối phó và đánh bại chủ nghĩa
phát xít, sau chiến tranh, hai cường quốc Liên Xô và Mỹ đã nhanh chóng chuyển sang đối đầu.
Hệ quả là, trên thế giới đã dần hình thành hai phe đối lập – phe xã hội chủ nghĩa và phe đế quốc
chủ nghĩa – và mỗi phe đều tập hợp chung quanh một cực siêu cường của mình. Sự đối đầu đó
bắt nguồn từ rất nhiều nguyên nhân (sự khác biệt về hệ tư tưởng, sự khác nhau về bản chất chế
độ, tham vọng của mỗi cường quốc, những mục tiêu và lợi ích căn bản mà mỗi phe theo đuổi…).
Thực trạng đó đã đưa đến sự ra đời của Chiến tranh lạnh giữa Liên Xô và Mỹ và giữa hai phe.
Mặc dù vậy, xuất phát từ nguyên nhân chủ quan và khách quan, Liên Xô và Mỹ tuy đối đầu và
cạnh tranh quyết liệt với nhau song vẫn phải chung sống hòa bình, tránh nguy cơ đụng đầu trực
tiếp giữa hai siêu cường, tránh một cuộc đối đầu mang tình hủy diệt. Đúng như Thomas L.
Friedman trong tác phẩm của mình có nhan đề “Chiếc Lexus và cây ô liu” đã nhận xét khá chính
xác về mối quan hệ giữa hai cường quốc vốn là bạn bè và liên minh với nhau trong chiến tranh,
giờ lại là những đối thủ cạnh tranh của nhau: “Khi Mỹ trổi lên từ sau Chiến tranh Thế giới thứ
hai, cưỡi trên lưng thế giới như một siêu cường vô địch, có trọng trách toàn cầu và tham gia
tranh giành quyền lực với Liên Xô…Bỗng nhiên, cả thế giới trở thành sân chơi của Hoa Kỳ, và
cả thế giới chỗ nào cũng quan trọng, vì mọi ngõ ngách trên thế giới đều có sự tranh giành với
Liên Xô”[7]. Có thể nói, trong hơn nửa thế kỷ tồn tại của trật tự hai cực Ianta, một đặc điểm lớn
của tình hình thế giới là giữa Liên Xô và Mỹ, giữa hai phe vừa đấu tranh gay gắt với nhau lại vừa
chung sống hòa bình và hợp tác với nhau thông qua diễn đàn của tổ chức quốc tế Liên Hợp
Quốc. Việc Giáo sư Michael Mandelbau, môn Quan hệ đối ngoại, Đại học Hopkins ví Chiến
tranh Lạnh giống như môn vật Sumo của Nhật Bản đã khắc họa chính xác mối quan hệ giữa hai
siêu cường Xô – Mỹ: “Sẽ có hai anh béo đứng trên đài, múa may lễ bái đủ đường, giậm chân
huỳnh huỵch, nhưng rất ít khi chạm vào nhau… cho tới cuối trận thì có chút ít xô đẩy và có một
tay bị thua do bị đẩy ra khỏi đài, nhưng rốt cuộc chẳng có anh nào chết cả”[8].
Thứ hai, chủ nghĩa xã hội từ phạm vi một nước (Liên Xô trước trước Chiến tranh thế giới thứ
hai) trở thành một hệ thống thế giới với hơn 10 quốc gia trải rộng từ châu Âu qua châu Á tới khu
thắng trận hay thua trận đều bị suy sụp, kiệt quệ thì Mỹ là nước duy nhất được hưởng lợi từ chiến
tranh, vươn lên trở thành đế quốc giàu mạnh nhất trong phe tư bản chủ nghĩa. Tuy vậy, tình hình
này chỉ kéo dài trong hơn một thập niên. Kể từ đầu thập niên 60 của thế kỷ XX, sức mạnh và địa
vị của Mỹ bắt đầu bị giảm sút, các nước tư bản bại trận như Tây Đức, Nhật Bản đã vươn lên, tìm
lại vị thế của mình, cạnh tranh mạnh mẽ với Mỹ. Sau cuộc khủng hoảng năng lượng đầu thập
niên 70 của thế kỷ trước, các nước tư bản đều tiến hành tự điều chỉnh để thích ứng với bối cảnh
mới của thế giới, đặc biệt là sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật.
Thứ năm, ngay vào thời điểm Chiến tranh thế giới thứ hai sắp sửa kết thúc, cao trào giải
phóng dân tộc đã diễn ra ngày càng mạnh mẽ ở hầu hết các châu lục. Chính điều này đã giáng
những đòn tấn công mạnh mẽ vào hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, làm tan rã từng
mảng lớn trong thập niên 50 của thế kỷ XX và tới giữa thập niên tiếp theo thì sụp đổ về cơ bản.
Sự xuất hiện trở lại trên bản đồ chính trị quốc tế của hơn 100 quốc gia độc lập trẻ tuổi đã có ảnh
hưởng to lớn tới trật tự hai cực Ianta, khiến cho cả Mỹ lẫn Liên Xô không thể bỏ qua vai trò của
họ trong các tính toán chiến lược của mình.
Thứ sáu, từ sau năm 1945, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã diễn ra ngày càng mạnh mẽ
trên khắp thế giới. Với quy mô to lớn, nội dung toàn diện và sâu sắc, cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật đã làm thay đổi bộ mặt thế giới, đưa lại nhiều tác động đối với sự phát triển của tất cả
các quốc gia. Tuy nhiên, bên cạnh những tiến bộ và thành tựu kỳ diệu, cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật cũng đem lại những hạn chế mà hậu quả lâu dài của nó không dễ gì giải quyết ngày một
ngày hai.
Chiến tranh lạnh gần như là một hệ quả tất yếu của tình hình đối đầu, căng thẳng giữa hai
phe thời kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, là kết quả tất yếu của trật tự hai cực Ianta.
2. Chiến tranh lạnh là kết quả tất yếu của trật tự hai cực Ianta
2.1. Nguồn gốc của Chiến tranh lạnh
Cuộc đối đầu giữa Liên Xô và Mĩ, giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản không phải
chỉ bắt đầu từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, mà nó nảy sinh ngay từ sau Cách mạng tháng
Mười Nga (1917) với sự ra đời của nước Nga Xô viết. Lúc bấy giờ, các nước tư bản phương Tây
đã tập trung lực lượng và tìm mọi cách để xóa bỏ sự tồn tại của nước Nga Xô viết: 14 nước tư
bản đã đưa quân can thiệp chống nước Nga (1918 – 1920), các nước tư bản đã bao vây kinh tế,
cô lập chính trị nước Nga trong thập niên 20 – 30 của thế kỷ XX, đặc biệt trong cuộc xâm lược
giới chống lại “sự đe dọa” của chủ nghĩa cộng sản, chống lại sự “bành trướng” của nước Nga,
giúp đỡ bằng mọi biện pháp kinh tế, quân sự. Tổng thống Mĩ đã phát động cuộc chiến tranh lạnh
chống Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, học thuyết Truman đã mở đầu cho cuộc chiến tranh lạnh và cuộc chiến tranh
này đã diễn ra theo tư tưởng và mục tiêu của Mĩ mà học thuyết Truman đã vạch ra. Cuộc chiến
tranh này chính là sự đe dọa sử dụng bạo lực quân sự, bao vây kinh tế, phá hoại chính trị, chạy
đua vũ trang và chuẩn bị chiến tranh, làm cho tình hình thế giới luôn luôn căng thẳng. Mục tiêu
của chiến tranh lạnh do Mĩ phát động là Mĩ tiến tới lãnh đạo thế giới tự do chống lại sự đe dọa
của chủ nghĩa cộng sản, chống lại Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, ngăn chặn chủ nghĩa xã
hội không cho lan ra các khu vực khác. Từ năm 1947 đến năm 1949, Mỹ và các nước phương
Tây ráo riết đẩy mạnh Chiến tranh lạnh với ba khúc dạo đầu, đó là Chủ nghĩa Truman, Kế hoạch
Macsan và Khối quân sự Bắc Đại Tây Dương.
2.2. Những biểu hiện chính của Chiến tranh lạnh
Mĩ tìm cách lôi kéo các nước đồng minh về phía mình bằng các biện pháp kinh tế, chính
trị và quân sự vừa để thao túng, vừa để tạo ra khối các nước đối lập với Liên Xô và các nước xã
hội chủ nghĩa. Ngày 05 – 06 – 1947, ngay sau khi học thuyết Truman ra đời, ngoại trưởng Mĩ
Macsan liền đưa ra kế hoạch của mình bằng “Phương án phục hưng châu Âu”. Theo Macsan, chỉ
cần một bộ phận hoặc toàn bộ các nước các nước châu Âu cùng nhau xây dựng một kế
hoạch “phục hưng” thì Mĩ sẽ mở rộng “viện trợ” đến châu Âu. Thực hiện kế hoạch của Macsan,
ngày 12 – 07 – 1947, các nước Anh – Pháp triệu tập ở Pari hội nghị bàn về kế hoạch này của Mĩ
với 16 nước tư bản châu Âu tham gia. Hội nghị đã yêu cầu Mĩ viện trợ hàng chục tỉ đô la cho
châu Âu. Tháng 4 – 1948, Quốc hội Mĩ thông qua “Đạo luật viện trợ nước ngoài” với những
quy định: nước nhận viện trợ phải kí với Mĩ hiệp ước tay đôi có lợi cho Mĩ, phải thi hành chính
sách kinh tế tài chính do Mĩ yêu cầu, phải cung cấp nguyên liệu cho Mĩ, phải ngừng buôn bán
với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, hủy bỏ kế hoạch quốc hữu hóa và gạt bỏ các lực
lượng tiến bộ ra ngoài chính phủ… Kế hoạch Macsan được thực hiện từ ngày 9 – 4 – 1948 đến
ngày 31 – 12 – 1951, thực tế Mĩ đã bỏ ra khoảng gần 13 tỉ đô la[13]. Với kế hoạch này, Mỹ đã
giữ vai trò quan trọng trong quá trình phục hồi nền kinh tế châu Âu vốn bị chiến tranh tàn phá
nặng nề, qua đó Mỹ thực thiện thành công mưu đồ khống chế các nước tư bản Tây Âu về chính
trị, kinh tế, chuẩn bị cơ sở cho sự ra đời một liên minh quân sự ở châu Âu.
các nước XHCN Đông Âu đã quyết định thành lập Tổ chức Hiệp ước Vácxava - một liên minh
quân sự - chính trị mang tính chất phòng thủ của các nước XHCN châu Âu. Có thể thấy, từ thời
điểm này, sự đối đầu về quân sự giữa hai phe do Mỹ và Liên Xô đứng đầu đã khiến cho bầu
không khí trong đời sống quan hệ quốc tế ở châu Âu và thế giới luôn luôn ở trong tình trạng căng
thẳng. Sự ra đời của khối NATO và Tổ chức Hiệp ước Vácxava đã “đánh dấu sự xác lập cuối
cùng cục diện chiến lược hai cực, với một đặc trưng nổi bật là việc đứng bên này hay bên kia đã
mở rộng và tăng lên từ châu Âu sang các nước khác trên thế giới”[15].
Trong những năm 1947 - 1949, Mĩ thi hành “chính sách ngăn chặn” nhằm ngăn
chặn “sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản”, rồi tiến tới tiêu diệt nó. Mĩ cho rằng, Liên Xô bị
suy yếu trong Chiến tranh thế giới thứ hai, kiệt quệ cả về vật chất và tinh thần, chỉ cần đặt trước
Liên Xô một lực lượng mạnh trong vòng 10 – 15 năm, Liên Xô sẽ tự bị tiêu diệt và sẽ ngăn chặn
được chủ nghĩa cộng sản, ngăn chặn được khuynh hướng xâm lược của người Nga.
Để thực hiện “chính sách ngăn chặn” chủ nghĩa cộng sản, Mĩ đã xúc tiến việc chia cắt
nước Đức và Triều Tiên. Mĩ cùng các nước Anh, Pháp tiến hành chia cắt nước Đức, phục hồi chủ
nghĩa quân phiệt Đức, biến Tây Đức thành tiền đồn ngăn chặn chủ nghĩa xã hội không thể lan
sang phía Tây châu Âu. Mĩ đã phá hoại những khóa họp của hội nghị ngoại trưởng Matxcơva (4
– 1947) và ở Luân Đôn (12 – 1947) bằng cách bác bỏ mọi đề nghị của Liên Xô trong việc giải
quyết vấn đề kí hòa ước với Đức, vấn đề thành lập một chính phủ chung cho toàn Đức theo nghị
quyết Potsdam và vấn đề những biện pháp nhằm tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa quân phiệt Đức.
Ngay sau khi Hội nghị Luân Đôn đi đến chỗ bế tắc, các nước phương Tây liền tổ chức một hội
nghị riêng rẽ khác ở Luân Đôn để bàn về việc chia cắt nước Đức. Hội nghị đã đề cập đến những
nội dung sau: Tổ chức chính trị ở Tây Đức, chế độ khai thác vùng Rua, chế độ đóng chiếm ở Tây
Đức, cải cách tiền tệ ở Đức. Hội nghị cho việc thành lập một quốc gia riêng rẽ ở Tây Đức có ý
nghĩa đặc biệt. Ngày 2 – 6 – 1948, Hội nghị đã đưa ra bản tuyên bố nêu rõ ý định quyết tâm chia
cắt nước Đức của các nước phương Tây. Sau hội nghị, ngày 18 – 6 – 1948, tại phía Tây nước
Đức và Tây Béclin, Mĩ, Anh, Pháp tiến hành cải cách tiền tệ riêng rẽ, số tiền cũ họ đưa sang phía
Đông Đức và Đông Béclin, gây rối loạn kinh tế - xã hội khu vực này.
Để bảo vệ nền kinh tế Đông Đức khỏi bị tan rã, Ban quân chính Liên Xô ở Đông Đức bắt
buộc phải thi hành hạn chế vận tải trong việc thông thương giữa hai miền Đông và Tây Đức,
giữa Tây Béclin và Đông Béclin. Sau đó, ở Đông Đức cũng tiến hành cải cách tiền tệ để ổn định
Quốc hội họp và tuyên bố thành lập Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên. Như vậy, trên bán
đảo Triều Tiên đã xuất hiện hai nhà nước đối lập nhau, đó là hậu quả khác của cuộc chiến tranh
lạnh.
Đến thập niên 50 của thế kỷ XX, “Chính sách ngăn chặn” của Mĩ cũng thất bại ở nhiều
nơi. Ở một số nước châu Á sau khi giành được độc lập đã tuyên bố đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ
nghĩa xã hội ngày càng lớn mạnh. Đặc biệt ở châu Á,sự kiện thành lập nước Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa ngày 1 tháng 10 năm 1949 đã góp phần to lớn vào việc tăng cường ảnh hưởng của
phe XHCN trên thế giới, đánh dấu hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới hình thành từ từ Âu sang
Á, làm cho so sánh lực lượng giữa hai phe thay đổi có lợi cho phe XHCN. Bên cạnh đó,Liên Xô
không bị suy yếu như Mĩ mong đợi, mà ngày càng hùng mạnh, vững chắc hơn trước. Kế hoạch 5
năm lần thứ 4 (1946 – 1950) đã hoàn thành khôi phục kinh tế trước thời hạn (4 năm 3 tháng).
Năm 1950, sản lượng công nghiệp Liên Xô tăng 73% so với trước chiến tranh; năm 1949, Liên
Xô đã chế tạo thành công bom nguyên tử, phá vỡ thế độc quyền thứ vũ khí này của Mỹ.
Ở các nước Đông Âu, trong những năm 1947 – 1949, với sự giúp đỡ tích cực của Liên
Xô, nhân dân các nước này lần lượt hoàn thành công cuộc cách mạng dân chủ nhân dân và bước
vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Tất cả các mưu toan ngăn chặn con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội của các nước này đều lần lượt thất bại.
Ở châu Á, tình hình cũng biến đổi nhanh chóng, làm thất bại “chính sách ngăn chặn” của
Mĩ. Từ năm 1947, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam bước vào giai đoạn mới
và ngày càng thu được thắng lợi to lớn. Đến năm 1954 chiến thắng Điện Biên Phủ đã cho thấy
sự thất bại của Mĩ trong “chính sách ngăn chặn”. Để thực hiện “chính sách ngăn chặn” các
nước xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc đang phát triển mạnh từ sau năm 1945,
Mĩ và các nước phương Tây đã tiến hành thành lập các khối quân sự và các căn cứ quân sự khắp
nơi trên thế giới.
Châu Âu, lúc này, trở thành trọng điển trong chính sách bao vây, ngăn chặn của Mĩ. Vì
vậy, Mĩ đã tiến hành đàm phán với Canađa và 5 nước trong tổ chức “Liên hiệp Châu Âu” (Anh,
Pháp, Hà Lan, Bỉ, Lucxămbua) để thành lập khối Bắc Đại Tây Dương. Mặc dù có những bất
đồng, nhưng cuối cùng Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương đã được 12 nước, kí kết ở Washington
ngày 4 – 4 – 1949. Hiệp ước có hiệu lực từ ngày 4 – 8 – 1949, thời hạn hiệu lực 20 năm (có thể
gia hạn thêm) khối Bắc Đại Tây Dương (NATO) ra đời đánh dấu sự khống chế của Mĩ về quân
Mĩ có bom nguyên tử vào năm 1945, lập tức 4 năm sau, vào khoảng tháng 9 – 1949, Liên
Xô cũng chế tạo thành công loại bom này, phá thế độc quyền bom nguyên tử của Mĩ. Đến năm
1957, khi Liên Xô phóng vệ tinh nhân tạo thành công thì cũng đạt được sự cân bằng về vũ khí chiến
lược với Mĩ.
Hai bên tiếp tục chạy đua vũ trang, cạnh tranh nhau trong nỗ lực chế tạo những vũ khí và
trang thiết bị chiến tranh hiện đại. Cuộc chạy đua vũ trang lên tới đỉnh cao vào những năm 60
của thế kỷ XX. Cả Liên Xô và Mỹ đều sở hữu một kho vũ khí hạt nhân khổng lồ. Theo ước tính
của những nhà quân sự thì chỉ cần phóng một nửa số kho vũ khí hạt nhân của mỗi nước thì cũng
đủ hủy diệt toàn bộ sự sống con người và nền văn minh nhân loại.
Từ khi hình thành trật tự hai cực Ianta đến khi nó sụp đổ đã xảy ra trên thế giới xấp
xỉ 100 cuộc chiến tranh cục bộ, trong đó có khoảng 10 cuộc chiến tranh cục bộ lớn nhất[16] đã
cho thấy tính chất “nóng” của cuộc Chiến tranh lạnh. Hai điểm nóng nhất trong số các cuộc
chiến tranh đó đã diễn ra ở Đông Á và Trung Đông – những nơi có vị trí địa – chính trị, địa –
chiến lược quan trọng hàng đầu trên thế giới mà không một cường quốc nào có thể bỏ qua trong
chiến lược toàn cầu của mình. Ở Đông Á, cuộc Chiến tranh Triều Tiên nổ ra những năm 1950-
1953, cuộc kháng chiến chống Pháp (1946-1954) và cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân
Việt Nam (1955-1975) chính là những ví dụ minh họa cụ thể và sinh động về sự đối đầu giữa hai
phe, trong đó “Cuộc chiến tranh của nhân dân Đông Dương chống đế quốc là cuộc chiến tranh
cục bộ lớn nhất giữa hai phe”[17].
Từ cuối thập niên 60-đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, cuộc chạy đua vũ trang giữa Liên
Xô và Mĩ chuyển sang trạng thái hòa hoãn, hợp tác giải trừ quân bị. Động thái này có dấu hiệu từ
năm 1969 khi cả hai siêu cường đều phải đối phó với rất nhiều khó khăn ( Mĩ đang sa lầy ở Việt
Nam, muốn thoát khỏi tình trạng đó, nền kinh tế có những dấu hiệu sa sút; Liên Xô cũng có
nhiều khó khăn về kinh tế, đặc biệt là vấn đề mối quan hệ giữa hai miền của nước Đức; tác động
của cuộc xung đột biên giới Liên Xô – Trung Quốc (từ tháng 3 đến tháng 6 - 1969). Tình hình đó
buộc Liên Xô phải chuyển sang hòa hoãn, tìm sự nhân nhượng của nhau.
Tuy nhiên, sự hòa hoãn này bị chấm dứt khoảng cuối năm 1980, khi Rônan Rigân trúng
cử Tổng thống Mỹ. Rigân lên cầm quyền trong bối cảnh tình hình thế giới có những sự kiện lớn
và đang diễn ra bất lợi cho Mĩ: vừa thất bại trong cuộc chiến ở Việt Nam cách đó không lâu, đến
năm 1979, Mỹ lại thất bại ở Iran và buộc phải rút ra khỏi nước này, mất đi một đồng minh chiến
600
720
140
800
(Nguồn: Pôn Kennơđi, Hưng thịnh và suy vong của các cường quốc, NXB. Thông tin lý luận, Hà
Nội, 1992, trang 61)
Năm 1982, ngân sách quân sự của Mĩ chiếm 7,4% tổng sản phẩm quốc gia (GNP). Tháng
11 – 1983, Rigân cho triển khai tên lửa tầm trung “Pershing” và “Cruise” ở Cộng hòa Liên bang
Đức, Bỉ, Hà Lan và một số nước châu Âu khác hướng vào Liên Xô và Đông Âu. Ngày 23 tháng
3 năm 1983. Để chống lại các hành động của Liên Xô, Rigân tiến hành giải tỏa các điều luật của
Quốc hội về hạn chế quyền chủ động của Tổng thống. Nhờ vậy, Tổng thống Mỹ hoàn toàn chủ
động tiền hành các chiến dịch ở Grênađa (1983), ở Libi (1986) và cung cấp vũ khí cho quân nổi
loạn ở Apganixtan. Ở vùng Trung Cận Đông, Rigân tiến hành một loạt những biện pháp để giữ
vững vị trí của họ ở khu vực này: thiết lập một loạt căn cứ quân sự ở Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập,
Ôman, thành lập “lực lượng phản ứng nhanh”(RDF) gồm 11 000 người…Để đối phó lại cuộc
chạy đua vũ trang của Mĩ, Liên Xô cũng buộc phải tăng ngân sách quân sự lên tới 15% tổng sản
phẩm quốc dân. Liên Xô cũng triển khai các tên lửa tầm trung SS4, SS5 và đặc biệt là SS20 ở
các nước Đông Âu và ở lãnh thổ châu Á của mình.
Tuy nhiên, khi Goobachốp lên nắm chính quyền ở Liên Xô, quan hệ Xô – Mĩ bắt đầu có
những biến chuyển khác trước, tình hình quan hệ giữa hai nước từng bước chuyển sang hòa dịu.
3. Sự chấm dứt Chiến tranh lạnh
3.1. Xu hướng hòa hoãn Đông-Tây và sự chấm dứt Chiến tranh lạnh
Sau hơn hai thập niên chạy đua vũ trang đầy tốn kém và hao tổn nhiều sức lực, đặc biệt trong
bối cảnh lực lượng so sánh trên thế giới đã có những thay đổi căn bản khác trước, từ đầu thập
niên 70 của thế kỷ XX, đã xuất hiện xu hướng hòa hoãn Đông – Tây, biểu hiện qua những cuộc
thương lượng giữa Liên Xô và Mỹ.
Trước tiên phải kể đến xu hướng hòa dịu trong quan hệ giữa hai miền của nước Đức. Trên
cơ sở những nguyên tắc đã được thỏa thuận giữa hai siêu cường, vào tháng 11 năm 1972, Cộng
hòa Dân chủ Đức và Cộng hòa Liên bang Đức đã kí kết tại Bon “Hiệp định về những cơ sở của
quan hệ giữa Đông Đức và Tây Đức”. Theo đó, hai bên thiết lập quan hệ láng giềng thân thiện,
cách phá vỡ thế cân bằng chiến lược đã được thiết lập, ra sức tái khởi động cuộc chạy đua vũ
trang. Tháng 3 năm 1983, Rigân đã đề ra kế hoạch “cuộc chiến tranh giữa các vì sao” nhằm
xây dựng hệ thống tên lửa nhiều tầng, từ 200 km đến 1000 km trong không gian nhằm vô hiệu
hóa tên lửa tấn công, tạo ra một thách thức đối với Liên Xô. Đáp lại, Liên Xô buộc phải tăng
ngân sách quân sự lên tới 25% tổng sản phẩm quốc nội (GNP), triển khai hệ thống tên lửa tầm
trung ở Đông Âu và khu vực châu Á thuộc lãnh thổ Liên Xô[20].
Do khó khăn về kinh tế của cả hai siêu cường nên quá trình cắt giảm vũ khí tiến công
chiến lược vẫn không bị bỏ rơi hoàn toàn. Nhờ vậy, ngày 13 tháng 7 năm 1991, Liên Xô và Mỹ
đã ký “Hiệp ước nhằm hạn chế và giảm bớt vũ khí chiến lược” (Hiệp ước START-1), theo đó
30% kho vũ khí hạt nhân sẽ được phá hủy từ thời điểm đó đến năm 1998 và triệt phá hoàn toàn
những đầu đạn có nhiều đầu đạn hạt nhân có căn cứ trên mặt đất. Đến năm 1993, Liên Xô và Mỹ
lại đạt được thỏa thuận cắt thêm kho vũ khí chiến lược với việc ký Hiệp ước START-2, trong đó
quy định trong vòng 10 năm loại bỏ 2/3 đầu đạn hạt nhân chiến lược, giảm từ 10.000 xuống còn
3000-5000.
Tuy còn bất đồng, nhưng hai nước đã từng bước nhượng bộ nhau, không làm cho tình
hình căng thẳng hơn và đi đến kết thúc tình trạng đối đầu, gây tổn thất cho cả hai bên. Con số
thống kê 19 cuộc gặp cấp cao giữa Liên Xô và Mỹ trong những năm 1972-1996[21] đã cho thấy
thiện chí và nỗ lực giảm căng thẳng của từng siêu cường đứng đầu mỗi cực.
Từ cuối thập niên 60 đầu thập niên 70 của thê kỷ XX, mối quan hệ giữa các nước TBCN
Tây Âu và Liên Xô, các nước XHCN Đông Âu cũng dần được cải thiện, cho thấy xu thế hòa hoãn
giữa hai cực. Ngày 19 tháng 3 năm 1970, tại Erfurt (Đông Đức) đã diễn ra cuộc gặp lịch sử giữa
Thủ tướng Tây Đức Brandt và người đứng đầu chính phủ Đông Đức Willy Stoph[22], mở ra một
chương mới giữa hai quốc gia láng giềng vốn cùng chung một mái nhà quê hương sau hơn hai
thập kỷ đối đầu. Thủ tướng Cộng hòa Liên bang Đức Brandt đã nhận được sự chào đón nồng ấm
của nhân dân Cộng hòa Dân chủ Đức. Cuộc gặp gỡ thứ hai giữa các nhà lãnh đạo hai nước Đức
đã diễn ra vào ngày 16 tháng 5 năm 1970 tại Cassel (Tây Đức). Nhờ những cuộc tiếp xúc này mà
một số hiệp định đã được ký kết, đưa lại sự cải thiện trong quan hệ giữa các nước Tây Âu với
Liên Xô và các nước Đông Âu. Cụ thể, ngày 12 tháng 8 năm 1970, một Hiệp định Liên Xô –
Cộng hòa Liên bang Đức được ký tại Matxcơva, trong đó hai bên khẳng định mục tiêu quan
trọng hàng đầu là hòa bình và thừa nhận tính bất khả xâm phạm của các đường biên giới đang
giới.
Cùng với quá trình hòa hoãn Đông – Tây là quá trình tiến tới chấm dứt chiến tranh lạnh.
Quá trình này được xúc tiến mạnh mẽ thông qua sự chấm dứt đối đầu và bình thường hóa quan
hệ giữa các cường quốc: Mỹ - Trung và Xô – Mỹ. Sự kiện Tổng thống Mỹ R. Nixon thăm chính
thức Trung Quốc năm 1972 và ký “Thông cáo Thượng Hải” đã mở đường cho thỏa thuận thiết
lập quan hệ ngoại giao và chấm dứt sự đối đầu giữa hai nước bắt đầu từ năm 1949. Cũng trong
năm 1972, Tổng thống Mỹ R. Nixon còn thăm Liên Xô, ký văn kiện “Cơ sở quan hệ Xô – Mỹ”
và một số văn kiện khác. Mùa hè năm 1973, quan hệ Xô – Mỹ được sưởi ấm bằng chuyến thăm
đáp lễ Mỹ của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô L. Brejnev.
Cuối cùng, vào tháng 12 năm 1989, tại cuộc gặp gỡ không chính thức tại đảo Malta,
người đứng đầu Liên Xô và Mỹ đã cùng nhau tuyên bố chấm dứt tình trạng cuộc Chiến tranh
lạnh kéo dài suốt từ năm 1947 đến năm 1989. Tuyên bố này đã củng cố thêm xu thế hòa hoãn
trên thế giới và mở ra chiều hướng giải quyết các cuộc tranh chấp, xung đột đang diễn ra ở nhiều
nơi trên thế giới vào thời điểm đó.
3.2. Những nguyên nhân chấm dứt Chiến tranh lạnh
Thứ nhất, cuộc chạy đua vũ trang kéo dài hơn bốn thập kỷ và “bao” về chi tiêu quân sự
hầu khắp thế giới (trong thời gian chiến tranh lạnh, hai nước Xô – Mỹ đã gánh chịu từ 50% đến
55% chi tiêu quân sự toàn cầu) làm cho hai nước Xô – Mỹ quá tốn kém và suy giảm “thế mạnh”
của họ về nhiều mặt so với các cường quốc khác.
Thứ hai, hai nước Mỹ và Liên Xô đều đứng trước những khó khăn và thách thức rất to
lớn trong một thế giới mà mọi chuyển biến diễn ra hết sức mau lẹ, bất lợi cho hai nước này: Hai
nước Tây Đức và Nhật, vốn là những nước phát xít chiến bại trong Chiến tranh thế giới thứ hai,
từ đống đổ nát của chiến tranh, nay họ vươn lên mạnh mẽ, trở thành đối thủ cạnh tranh đáng lo
ngại. Châu Âu đã liên minh với nhau thành “Khối thị trường chung châu Âu” (EEC) và ngày
càng trở nên mạnh. Tất cả đều thoát khỏi sự kiềm chế của Mĩ và cạnh tranh với Mỹ và vượt Liên
Xô về kinh tế.
Thứ ba, cuộc “chiến tranh kinh tế” mang tính toàn cầu mà cả thế giới đang ra sức chạy
đua. Hơn nữa, cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đang diễn ra sôi nổi mà tất cả các nước
muốn vươn lên thì đều phải để tâm và tận dụng những thành tựu của nó.
Tình hình nêu trên đặt ra cho hai nước Liên Xô và Mỹ muốn lấy lại vị trí của mình như
của tiến bộ khoa học kỹ thuật và mở rộng các quan hệ đối ngoại. Tuy nhiên, kết quả của việc
thực hiện thì rất thấp, không theo ý muốn.
Tháng 3 năm 1985, M. Goócbachốp được bầu làm Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô.
Dưới sự lãnh đạo của M. Goócbachốp, Đại hội 27 Đảng Cộng sản Liên Xô (diễn ra tháng 2 năm
1986) đã đề ra công cuộc cải tổ, được triển khai rộng khắp đất nước. Theo như tuyên bố của các
nhà lãnh đạo Liên Xô, công cuộc cải tổ chính là một quá trình cách mạng nhằm đổi mới mọi mặt
của đời sống xã hội Xô viết, sửa chữa những sai lầm thiếu sót trước đây, đưa Liên Xô thoát khỏi
tình trạng trì trệ khủng hoảng và xây dựng CNXH theo đúng bản chất và ý nghĩa đích thực của
nó, đồng thời mang tính hình thức hiện đại nhất phù hợp với những điều kiện và nhu cầu của
cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật đang diễn ra[26]. Để đạt được những mục tiêu đó, công cuộc
cải tổ được chủ trương tiến hành trên các mặt kinh tế, chính trị và xã hội.
Công cuộc cải tổ từ khi khởi xướng đã được đông đảo nhân dân Xô viết chào đón và ủng
hộ, hi vọng, chờ đợi. Tuy nhiên, sau gần 6 năm cải tổ, do ban lãnh đạo Liên Xô không lường hết
được tính chất nặng nề và phức tạp của những khuyết tật, sai lầm vốn tồn đọng quá lâu. Bên cạnh
đó, sự thiếu chuẩn bị và những sai lầm mắc phải trong quá trình thực hiện đã khiến cho cải tổ
càng thực hiện lại càng bế tắc, gặp muôn vàn khó khăn, trượt xa mục tiêu XHCN. Hậu quả là,
Liên Xô ngày một lún sâu vào khủng hoảng toàn diện. Sự suy sụp về kinh tế làm nảy sinh những
rối ren về chính trị, gia tăng mâu thuẫn và xung đột giữa các dân tộc anh em, đưa đến hiện tượng
ly khai của một số nước cộng hòa ra khỏi Liên bang Xô viết (ba nước vùng Baltic, Mônđôva…).
Trong nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô, sự chia sẽ và bè phái xuất hiện, ngày thêm sâu sắc, tạo cơ
hội thuận lợi cho sự ra đời của một loạt đảng phái chính trị phi Cộng sản với nhiều xu hướng
chính trị, xã hội khác nhau, các thế lực chống CNXH có điều kiện ngóc đầu dậy.
Những năm 1989 - 1990 là giai đoạn đen tối trong lịch sử tồn tại của Liên Xô, với sự diễn
biến phức tạp về kinh tế, chính trị và xã hội. Tổng sản phẩm quốc dân giảm 4-5%, thâm hụt mậu
dịch lên tới 5 tỉ đô la Mỹ, nợ nước ngoài là 58 tỉ đô la. Đỉnh cao của cuộc khủng hoảng, suy sụp
rồi tan rã của Liên Xô chính là sự kiện bùng nổ cuộc đảo chính do một số người lãnh đạo Đảng
và Nhà nước Liên Xô tiến hành ngày 19 tháng 8 năm 1991. Tuy cuộc đảo chính bị thất bại, song
nó đã gây ra những hậu quả rất tai hại, ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại của Đảng Cộng sản Liên
Xô, tới Nhà nước Xô viết và công cuộc xây dựng CNXH ở Liên Xô. Ngay sau khi quay trở lại
cầm quyền, Goócbachốp đã tuyên bố từ chức Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô và yêu cầu
[10] Thomas L. Friedman, s.đ.d, trang 44.
[11] Thomas L. Friedman, s.đ.d, trang 44.
[12] Dẫn theo, U.Z. Phôxtơ, Đại cương lịch sử chính trị châu Mỹ. NXB. Sự thật, Hà Nội, 1960,
trang 245.
[13] Dẫn theo, Nguyễn Quốc Hùng, s.đ.d, trang 59.
[14] Dẫn theo, Nguyễn Quốc Hùng, s.đ.d, trang 61.
[15] Nguyễn Quốc Hùng, s.đ.d, trang 59.
[16] Dẫn theo, Nguyễn Quốc Hùng, s.đ.d, trang 59.
[17] Nguyễn Cơ Thạch, Thế giới trong 50 năm qua (1945-1995) và thế giới trong 25 năm tới
(1996-2020), NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, trang 43.
[18] Dẫn theo, Nguyễn Quốc Hùng, s.đ.d, trang 60.
[19] Dẫn theo, Nguyễn Quốc Hùng, s.đ.d, trang 85.
[20] Dẫn theo, Nguyễn Quốc Hùng, s.đ.d, trang 85-86.
[21] Nguyễn Quốc Hùng, s.đ.d, trang 86.
[22] Jean - Baptiste Duroselle, André Kapspi, Istoria relatiilor internationale 1948 până in zilele
noastre, (Lịch sử quan hệ quốc tế từ 1948 đến nay), (Lịch sử quan hệ quốc tế từ 1948 đến nay),
vol. II, Editura Stiintelor Sociale si Pilitice, Bucuresti, 2006, trang 243 (tiếng Rumani).
[23] Jean - Baptiste Duroselle, André Kapspi, s.đ.d, trang 244.
[24] Jean - Baptiste Duroselle, André Kapspi, s.đ.d, trang 263.
[25] Nguyễn Quốc Hùng, s.đ.d, trang 89.
[26] Dẫn theo, Nguyễn Quốc Hùng, s.đ.d, trang 90.
[27] Dẫn theo, Nguyễn Quốc Hùng, s.đ.d, trang 92-93.