luận văn giáo dục giá trị truyền thống văn hóa cho lứa tuổi vị thành niên trong nhà trường - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Giáo dục giá trị truyền thống văn hóa cho lứa
tuổi vị thành niên trong nhà trường
thức cần thiết ở lứa tuổi này từ phía gia đình - nhà trường - xã hội, vị thành niên đang có
những biểu hiện đáng lo ngại về lối sống - đạo đức: sống buông thả, đua đòi, xa hoa, lười
biếng trong học tập, quay cóp trong thi cử, giải trí thiếu lành mạnh (VD: Trò chơi tiêu
cực, xem phim bạo lực, tình ái trên mạng Internet), từ đó dẫn đến phạm pháp, quan hệ yêu
đương sớm, thậm chí có những em quan hệ tình dục sớm, nạo phá thai trước tuổi trưởng
thành ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe, học tập, tâm lý và tương lai của các em. Một điều
không thể phủ nhận là những thành tựu cách mạng khoa học kỹ thuật của thời đại ngày
nay đã cho lớp trẻ có được trình độ học vấn và trình độ sống cao. Song những tồn tại trên
cũng cho thấy sự mất cân đối giữa giáo dục học vấn và giáo dục nhân cách văn hóa cho
học sinh.
Nhận thức được vấn đề này, một vài năm trở lại đây, giáo dục nhân cách cho học
sinh ở tuổi vị thành niên trong nhà trường đã bước đầu được nghiên cứu một cách hệ
thống và đưa vào thể nghiệm từ năm 2000; song cũng mới chỉ dừng lại thí điểm ở học
sinh một số trường phổ thông cơ sở với nội dung "giáo dục giá trị đạo đức nhân văn".
Cho đến nay, chưa có một công trình nào đi vào vấn đề "giáo dục giá trị truyền thống văn
hóa cho lứa tuổi vị thành niên trong trường phổ thông" một cách chuyên biệt. Với lý do
này, chúng tôi chọn đề tài "Giáo dục giá trị truyền thống văn hóa cho lứa tuổi vị thành
niên trong nhà trường" nhằm tích hợp với một số môn xã hội, đặc biệt với bộ môn giáo
dục công dân, và giáo dục hoạt động ngoài giờ lên lớp. Qua đó, hình thành và phát triển
nhân cách văn hóa cho lứa tuổi vị thành niên, đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện theo
tinh thần Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII của
Đảng, phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
2. Mục đích nghiên cứu
- Xác định những giá trị truyền thống văn hóa phù hợp với lứa tuổi cấp học.
- Đề xuất những giải pháp nhằm hình thành, phát triển những giá trị đó ở thế hệ
vị thành niên.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Một trong những xu hướng nghiên cứu văn hóa học hiện đại là xu hướng "văn
hóa và nhân cách", đã xuất hiện từ nửa đầu thế kỷ XX, với nhiều tên tuổi nổi tiếng như
Herskovists (1948), Mead (1964), Bastide (1971), Xôcôlốp (1972) , và ở Việt Nam gần
đây tiêu biểu có GS Phan Ngọc. Đề tài nằm trong xu hướng trên đây nên nó mang tính lý
luận sâu sắc.
- Vận dụng lý luận trên vào hoạt động thực tiễn sẽ hình thành nên văn hóa con
người, trong đó có xây dựng nhân cách văn hóa ở tuổi VTN trong hệ thống giáo dục nhà
trường. Đây là ý nghĩa thực tiễn của đề tài.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và mục tài liệu tham khảo, đề tài chia làm
3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề giáo dục giá trị truyền thống văn hóa cho
vị thành niên trong nhà trường
1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu.
1.2. Nội dung giáo dục giá trị truyền thống văn hóa cho lứa tuổi VTN trong nhà
trường.
1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc giáo dục giá trị truyền thống văn hóa ở
tuổi vị thành niên.
Chương 2: Thực trạng về giáo dục giá trị truyền thống văn hóa cho lứa tuổi
VTN trong nhà trường hiện nay
2.1. Nhận thức của học sinh VTN, của giáo viên, phụ huynh VTN về giáo dục
truyền thống văn hóa
2.2. Vài nét về tình hình giáo dục giá trị truyền thống văn hóa trong trường phổ
thông hiện nay.
Chương 3: Những biện pháp giáo dục giá trị truyền thống văn hóa cho lứa tuổi
vị thành niên trong nhà trường
3.1. Những biện pháp giáo dục lý thuyết ở phần chính khóa.

lượng bản chất người không phải là các lực lượng bẩm sinh xuất hiện một cách tự nhiên,
mà chúng được hình thành, biến đổi do tác động của quan hệ xã hội, do trình độ phát
triển của văn hóa, do hoạt động cải tạo thế giới của con người. Chính các hoạt động này
là phương thức tồn tại và tái sản xuất ra đời sống xã hội.
Theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen thì lao động như một "hoạt động
sáng tạo". Nếu ở phương diện kinh tế lao động với chức năng sản xuất ra của cải vật chất,
thì ở phương diện văn hóa, lao động là sự sáng tạo. Hay nói cách khác, sản xuất của cải
vật chất là phương diện kinh tế của lao động còn sáng tạo khoa học kỹ thuật, phát triển
sản xuất là phương diện văn hóa của lao động. Như vậy, lao động đồng nghĩa với hoạt
động sáng tạo, nó là hoạt động thuộc về bản chất người, là biểu hiện của tư chất tinh thần
và thể chất người. Lao động sáng tạo chính là khởi điểm của văn hóa.
Nhà khoa học người Pháp Tây-ha Đơ Sác-đanh (Teihard de Chardin) cho rằng:
"Sự phát triển của vũ trụ bắt đầu từ khi xuất hiện sự sống, ông gọi đó là sinh quyển
(Biosphère). Tiếp đó là sự xuất hiện của tri quyển (Noosphère) chỉ có ở loài người. Tri
quyển đó là quyển về ý thức, tinh thần, về tư duy do loài người tạo ra. Tri quyển chính là
văn hóa, biểu hiện thành "thiên nhiên thứ hai" hoặc còn gọi là "thế giới nhân tạo" của con
người" [15, tr. 9].
Giải thích thuật ngữ văn hóa, các nhà nhân học phương Tây thường phân biệt ra
hai trường hợp: văn hóa viết hoa, số ít (Culture) và văn hóa không viết hoa, số nhiều
(cultures) [2, tr. 13].
Văn hóa viết hoa, số ít (Culture) là thuật ngữ dùng để chỉ thuộc tính chỉ có ở loài
người. Đó là khả năng học hỏi, thích ứng, sáng tạo ra những quan niệm, hành vi ứng xử
và hệ thống các biểu tượng, nhờ đó loài người có thể vận thông với nhau để tồn tại và
phát triển.
Văn hóa không viết hoa, số nhiều (cultures) là thuật ngữ dùng để chỉ các nền văn
hóa. Đó là những truyền thống, thể hiện thành những lối sống khác nhau của cộng đồng,
bao gồm các hệ thống ý niệm, hệ thống ứng xử liên quan đến giá trị, hệ thống biểu hiện

như: gia đình và trường học, truyền đạt cho các thế hệ tương lai và cho các cộng đồng
khác nữa. Như vậy, văn hóa chẳng những là chất keo liên kết làm cho xã hội bền vững
và phát triển, nó còn là cầu nối giữa các thế hệ và giữa các cộng đồng người, tạo nên sự
đa dạng và sự liên tục của đời sống xã hội.
Định nghĩa trên đây nhấn mạnh vào bốn yếu tố: những sản phẩm vật chất và tinh
thần, các hệ thống giá trị, các hệ thống khuôn mẫu ứng xử, các thiết chế xã hội - văn hóa.
Đó là những yếu tố cùng với những con người làm nên môi trường văn hóa, tác động đến
nhân cách tuổi vị thành niên.
Tổng giám đốc UNESCO F. May-ơ cũng nêu quan niệm về văn hóa: "Văn hóa là
tổng thể sống động của các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các
thế kỷ; hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống giá trị, các truyền thống và
thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc" (Thập kỷ thế giới phát
triển văn hóa, Hà Nội, 1992, trang 23).
Qua những định nghĩa và quan niệm nêu trên cho ta thấy rõ hai vấn đề: Một, lao
động sáng tạo là cội nguồn khởi điểm của văn hóa. Mọi hoạt động sáng tạo chỉ trở thành
văn hóa đích thực khi nó hướng về các giá trị nhân bản, tiến bộ nhằm hoàn thiện con
người. Hai, văn hóa được con người tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội và
đúc kết thành hệ giá trị - chuẩn mực xã hội, biểu hiện thông qua vốn di sản văn hóa (bao
gồm văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể). Hệ giá trị xã hội là một thành tố làm nên bản
sắc và truyền thống văn hóa của một cộng đồng xã hội. Hệ giá trị xã hội có khả năng chi
phối đời sống tâm lý và hệ ứng xử văn hóa của con người sống trong cộng đồng xã hội ấy
và nó được trao truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Như vậy, văn hóa có những đặc trưng cơ bản riêng được biểu hiện ở: 1- tính hệ
thống, với tư cách là một phức hợp bao gồm cả tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức,
phong tục, thói quen, luật pháp mà con người vừa là chủ thể sáng tạo vừa là khách thể
tiếp nhận văn hóa. 2- Văn hóa dưới góc độ giá trị nó là cái đẹp, chỉ chứa cái đẹp và các
giá trị văn hóa là thước đo mức độ nhân bản của con người. 3- Văn hóa đối lập với tự

đặc biệt giúp cho con người dễ dàng thích nghi với điều kiện sống đã khiến trường phái
nhân học đặc biệt quan tâm giải quyết vấn đề nhập thân văn hóa.
Nhập thân văn hóa, theo Từ điển dân tộc học tiếng Pháp, Michel Panoff và
Michel Perrin giải nghĩa: "Đó là quá trình hữu thức hoặc vô thức, nhờ đó một cá thể trong
suốt đời người đã hấp thụ các truyền thống - tức các mô hình ứng xử của nhóm, và hành xử
về mặt chức năng đối với các truyền thống ấy. Nhờ có thuật ngữ này, người ta đã xác lập
được mối liên hệ giữa sự kiện xã hội, được xem xét như bản thân sự vật, với hành vi của
cá nhân, thông qua đó mà văn hóa biểu lộ ra. Thuật ngữ này thường coi như đồng nghĩa
với thuật ngữ "xã hội hóa" hoặc "nhập tâm văn hóa" (Internalisation de la culture), tuy
nhiên một số tác giả đã có dụng ý xác định nghĩa riêng cho mỗi thuật ngữ. Một số nhà
nghiên cứu khác lại thâu gộp trong thuật ngữ "nhập thân văn hóa" cả quá trình trao truyền
văn hóa, cùng với các biểu tượng "đổi mới" (phát sinh) văn hóa (PGS. Từ Chi dịch). Còn
trong từ điển hiện đại về văn hóa (tiếng Nga), Min-Xcơ-1999 giải nghĩa "nhập thân văn
hóa là quá trình, trong đó chủ thể cần phải học tập để nắm vững, hiểu thấu các mối liên
hệ trong nhóm, nắm được những nét, sắc thái và những chi tiết văn hóa cần và đủ của xã
hội hay của dân tộc mình, làu thông những hệ chuẩn tâm thức, những chuẩn mẫu văn
hóa, những khuôn mẫu đa dạng mang tính cấu trúc của văn hóa Bằng khái niệm "nhập
thân văn hóa", có thể diễn đạt trình bày sự lĩnh hội của trẻ em đối với các chuẩn mực văn
hóa, khuôn mẫu văn hóa, giá trị văn hóa trong quá trình hoạt động, chủ động tiếp cận với
xã hội và với những cá thể khác".
Như vậy, văn hóa bên cạnh sự vận hành tự thân trong thời gian, nó còn thâm
nhập vào mọi hành vi ứng xử của con người những giá trị mà mỗi thế hệ đi qua để lại.
Nhập thân văn hóa do đó, vừa là một cách thức để con người thích ứng với điều kiện
sống, vừa là cách thức để văn hóa tồn tại và phát triển.
Theo các nhà nhân học, quá trình nhập thân văn hóa kéo dài suốt cả đời người,
chỉ đến chết mới thôi (M.J. Herskovits), song giai đoạn ấu thơ kéo đến đầu tuổi VTN là
giai đoạn quan trọng bậc nhất trong đời sống văn hóa của một cá thể. Đặc biệt ở, giai

bộ những đặc điểm, phẩm chất tâm lý của cá nhân, quy định giá trị xã hội và hành vi xã
hội của họ".
Đứng ở góc độ "nhân học tâm lý" J.Honig man định nghĩa "Nhân cách là văn
hóa được phản ánh vào hành vi cá nhân".
Xuất phát từ sự lý giải Văn hóa và Nhân cách J.Honig man cho rằng "vấn đề cá
nhân nắm được những khuôn mẫu văn hóa của hành vi là quá trình mô hình hóa, hình
thành các khuôn mẫu hành vi trong tiến trình gia nhập văn hóa, phù hợp với định hướng
giá trị của mỗi nền văn hóa".
Nhân cách, theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh bao gồm: đức và tài, lấy
đức làm gốc.
Như vậy khi nói đến khái niệm nhân cách (phiên dịch từ các thuật ngữ:
personality (Anh), personnalité (Pháp)), trước hết có sự phân biệt khác nhau về nội dung
giữa các thuật ngữ có liên quan, mà các nhà tâm lý học hay dùng, như: cá nhân, chủ thể,
cá tính, nhân cách, tính cách, v.v
"Cá nhân" (hay cá thể người) - bất kỳ người nào, từ đứa trẻ mới sinh cho tới
người trưởng thành, dù khỏe mạnh hay tật bệnh, dù có các phẩm chất và đặc điểm thế
nào, thì đều được coi là một "cá nhân" (cá thể người).
Khi cá nhân thực hiện một hoạt động nhất định, có mục đích, có ý nghĩa nhằm
nhận thức hay cải biến hiện thực khách quan - thì nó được coi là "chủ thể".
Mỗi cá nhân có những đặc điểm thể tạng và tâm lý độc đáo, không lặp lại ở
người khác - đó là "cá tính". Cá tính của mỗi người thường được hình thành trên cơ sở
các tố chất di chuyền chịu ảnh hưởng của điều kiện giáo dục nào đó, do hoàn cảnh sống
và hoạt động cá nhân.
Còn khi xem xét con người với tư cách là thành viên của một xã hội nhất định, là
chủ thể của các quan hệ xã hội, của các hoạt động có ý thức - đó là nói tới: "nhân cách"
của người đó.
VD: Nhân cách người cha, nhân cách người lãnh đạo, nhân cách người thầy,

hướng; năng lực; tính cách (thái độ); tính khí. Cụ thể:
+ Xu hướng của cá nhân
Đây là một đặc điểm tâm lý quan trọng nhất của cá nhân. Nó xác định mục tiêu ý
muốn, động cơ, lợi ích, mà con người ấy đặt ra và cần tuân theo; nó biểu lộ những thái
độ nhất định với thế giới xung quanh; v.v Nhìn chung, xu hướng của con người thường
được xuất hiện trên các phương diện cụ thể như: nhu cầu, hứng thú, sở thích, lý tưởng,
thế giới quan, v.v
+ Tính khí của con người
Đây là những thuộc tính tâm lý thể hiện trong sắc thái hành vi, cử chỉ của con
người. Tính khí thường là sự biểu thị ra bề ngoài của hành vi. Trong đời sống con người,
thường phân loại ra mấy kiểu tính khí chủ yếu, như: tính nóng nảy, tính lạnh (bình thản),
tính hoạt (linh hoạt), tính ưu tư;
+ Tính cách của con người
Tính cách là tổng thể những đặc tính tâm lý vững bền, thuộc bản chất của con
người với tư cách một thành viên của xã hội, thể hiện thái độ đối với thực tế và in dấu
vào tư cách, hành động của người đó. (Tính cách được gọi là một phẩm chất rất quan
trọng, một phẩm chất chủ đạo, bản chất của "nhân cách". Đã có nhà khoa học đem đồng
nhất "nhân cách" với "tính cách" rằng: nhân cách, ấy là tính cách cá nhân).
Tóm lại, có thể hiểu: "Nhân cách là một con người khi đã phát triển ổn định bền
vững toàn diện các tố chất người theo những chuẩn mực xã hội của một cộng đồng (dân
tộc - quốc gia) để trở thành là con người mẫu mực của xã hội.
Nhân cách văn hóa được quan niệm như một quá trình diễn ra từ việc hình thành
nhân cách đến việc hoàn thiện nhân cách ngày một toàn diện và cao hơn. Đó là một quá
trình nhằm phát triển hết các tố chất của cá nhân về mọi mặt để mỗi cá nhân có đủ điều
kiện đảm nhận những hoạt động lao động, học tập, hoạt động xã hội đang đòi hỏi. Với ý
nghĩa này, có thể quan niệm, "nhân cách văn hóa" cũng có nghĩa là "phát triển toàn diện
con người".

một vũ trụ nhỏ theo quan niệm "nhân thân - tiểu vũ trụ". Con người là kẻ sáng tạo ra lịch
sử, văn hóa, đồng thời là sản phẩm của lịch sử văn hóa, văn minh nhân loại. Khi là đại
diện cho loài, con người được gọi là cá thể (cá thể/loài). Khi là thành viên của một xã hội,
nó được gọi là cá nhân (cá nhân/xã hội). Khi là chủ thể của hoạt động sáng tạo, con người
được gọi là nhân cách (nhân cách/chủ thể của hoạt động).
Khi con người hoạt động, nó phải vận dụng tâm lý của bản thân, (nhận thức, tình
cảm, ghi nhớ và chú ý, tính khí và tâm trạng, lời nói và việc làm ). Chừng nào những
hiện tượng tâm lý ấy có thái độ riêng, và các thái độ riêng này bền vững, ổn định như các
thuộc tính của chủ thể, khi đó các thái độ ấy trở thành diện mạo tâm lý của con người
này. Như vậy, nhân cách là tổ hợp các thái độ - thuộc tính riêng trong quan hệ với hành vi
ứng xử (nói năng, đi đứng, cư xử ), hành động, hoạt động với thiên nhiên với đồ vật,
người khác, cộng đồng, xã hội và bản thân. Đó chính là hệ thống thái độ làm nên diện
mạo tâm lý, tức nhân cách của con người.
Và, khi nào hệ thống thái độ ấy phản ánh và chứa đựng các giá trị văn hóa của
các cộng đồng (mà cá nhân ấy sở thuộc vào), chủ yếu là cộng đồng dân tộc - quốc gia,
khi ấy ta có nhân cách văn hóa.
Từ góc độ văn hóa, nhân cách văn hóa có thể hình dung như là diện mạo tâm lý
người lao động sáng tạo, người đại biểu mang vác hệ giá trị và chuẩn mực xã hội của một
cộng đồng xã hội nhất định (ở đây là cộng đồng dân tộc - quốc gia). Đặc điểm ưu trội của
nhân cách văn hóa có thể biểu hiện ở năng lực sáng tạo của nó. Lao động sáng tạo trong
văn hóa như là hình thức tự khẳng định, tự bộc lộ và phát huy "các lực lượng bản chất
người" (K.Marx) của nhân cách văn hóa.
Vấn đề xây dựng văn hóa suy cho cùng, là vấn đề con người văn hóa, nhân cách
văn hóa. Hồ Chí Minh là Một nhà văn hóa - một nhân cách văn hóa tiêu biểu của dân tộc
Việt Nam. ở con người Bác, nhân cách văn hóa được thể hiện trước hết là các giá trị văn
hóa mang đậm bản sắc dân tộc, và điều quan trọng, nó luôn tỏa sáng, ảnh hưởng tới trong
cuộc sống mọi con người Việt Nam nói riêng và làm rung động không ít tâm hồn con

"phát huy nguồn lực con người" - một yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững
của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Phát triển "nguồn lực con người" (hoặc nguồn nhân lực, hoặc nguồn tài nguyên
con người (Human Resourees Development - HRD), về cơ bản, cần được hiểu là sự gia
tăng giá trị cho con người về mọi mặt: đạo đức, trí tuệ, thể chất, kỹ năng, tâm hồn để
hình thành nhân cách văn hóa. Đó chính là những năng lực, phẩm chất mới của con
người mà giáo dục phải đảm nhận nhằm đáp ứng những yêu cầu to lớn của đất nước và
thời đại.
Thời đại ngày nay, trên toàn cầu, cũng như ở nước ta, không ai không thấy rõ vai
trò hết sức quan trọng của giáo dục. Theo GS.TS Phạm Minh Hạc trong báo cáo tổng kết
sau ba năm làm việc của ủy ban chuẩn bị giáo dục đi vào thế kỷ XXI của tổ chức giáo
dục, khoa học, văn hóa của liên hiệp quốc (UNESCO) nêu ra 4 mục tiêu (nguyên lý) của
nền giáo dục tương lai của nhân loại là: 1) Học để biết; 2) Học để làm; 3) Học để chung
sống; 4) Học để làm người, để tự khẳng định mình [21, tr. 52].
Dưới góc độ văn hóa, giáo dục chính là nơi gìn giữ, truyền thụ và phát huy hệ
thống giá trị truyền thống dân tộc và nhân loại. Giáo dục đào tạo ra các thế hệ tiếp nối và
sáng tạo các giá trị. Hơn nữa, giáo dục ngày nay đang phát triển theo xu hướng Học đi
đôi với Hành. Trên cơ sở tri thức tiếp nhận được (ở trường lớp, tự học) con người phải
hình thành được các kỹ năng, kỹ xảo tương ứng, để có một khả năng thực hành trong
cuộc sống, sáng tạo ra các giá trị trong cuộc sống. Hay nói khác đi, chức năng của nhà
trường ngày nay không thể chỉ dừng lại ở việc chuyển giao tri thức cho thế hệ trẻ mà mục
tiêu đặt ra là con người biết làm cho tri thức mang lại hiệu quả xã hội. Vì vậy, nếu trước
đây kết luận của khoa học giáo dục về bản tính người là sản phẩm của quá trình hoạt
động liên tục nhằm có được tri thức, kỹ năng và thái độ thì lý luận giáo dục ngày nay xếp
giáo dục thái độ lên hàng đầu, rồi mới đến tri thức và kỹ năng. Có nghĩa là con người
ngày nay cần có những năng lực, trí lực lựa chọn những giá trị đồng thời cũng sáng tạo ra
những giá trị mới thông qua những phương thức giáo dục mang tính lý luận thay vì

vậy, về nguyên tắc, giá trị là cái mang tính xã hội.
Một yếu tố nữa của giá trị được thừa nhận khá phổ biến coi giá trị như những
quan niệm về cái đang mong muốn có ảnh hưởng tới hành vi lựa chọn. Vì vậy, để tìm
hiểu giá trị người ta thường gắn nó với nhu cầu. Chính nhu cầu tạo nên động cơ hành
động và hành động được biểu thị như là sự lựa chọn giá trị ở mỗi con người. Đến đây có
thể hiểu nội hàm của khái niệm giá trị "Bất cứ sự vật nào đó cũng có thể xem là có giá trị,
dù nó là vật thể hay phi vật thể, miễn là nó được người ta thừa nhận, người ta cần đến nó
như một nhu cầu trong đời sống của cộng đồng, của đời sống con người".
Giá trị có tính lịch sử khách quan. Trong mọi giá trị đều chứa đựng yếu tố, nhận
thức, tình cảm, sự lựa chọn và đánh giá của chủ thể. Giá trị phản ánh khách quan lợi ích
xã hội của mỗi nhóm, cộng đồng hay giai cấp, vì thế nó gắn liền với ý thức xã hội. Trong
mỗi chế độ, mỗi giai đoạn lịch sử xã hội có một hệ thống và thang giá trị khác nhau, nó
được tạo bởi hoàn cảnh xã hội và những đặc điểm riêng của xã hội đó
Giá trị xã hội có mối quan hệ mật thiết với chuẩn mực xã hội. Nếu giá trị là cái
ngầm ẩn (các nhu cầu) thì chuẩn mực là cái hiện thực hóa giá trị trong hiện thực. Chuẩn
mực xã hội (CMXH) là những yêu cầu mang tính tiêu chuẩn của xã hội đối với hành
động của cá nhân, đòi hỏi mỗi cá nhân trong xã hội phải tuân theo. CMXH được thể hiện
thành những quy tắc, tiêu chuẩn, phương hướng khuôn mẫu ứng xử của con người.
CMXH là sự kết tinh cao của các khuôn mẫu mà con người phải theo.
Hệ thống chuẩn mực xã hội là hệ quy chiếu để cho xã hội hoạt động và duy trì
trạng thái ổn định của nó. Bởi thế CMXH thể hiện rõ tính quy định của khuôn mẫu của
tính thể chế và pháp lý. Nó điều tiết hành động con người, xác lập những nguyên tắc
hành động của con người trong từng lĩnh vực hoạt động khác nhau: chuẩn mực đạo đức,
chuẩn mực giáo dục, chuẩn mực pháp chế
Trong thang giá trị của CMXH lại chia cấp độ có cái chính, có cái phụ và cái
phái sinh. Giá trị chính là giá trị chủ đạo chi phối toàn bộ hoạt động xã hội, đồng thời là
giá trị định hướng, lý tưởng chung của toàn xã hội.


thống được chuyên chở, lưu giữ trong ký ức và từ đó điều khiển hành động của cá nhân.
Nhiều khi nó trở thành vô thức, con người cứ hành động theo các quy định. Truyền thống
có thể thay đổi, nhưng trong sự ổn định.
- Khái niệm giá trị truyền thống văn hóa
Giá trị truyền thống là sự tuyển chọn những truyền thống tốt đẹp mang ý nghĩa
tích cực và tiêu biểu cho bản sắc văn hóa dân tộc. Trong các giá trị truyền thống có cái
biến đổi nhanh, có cái bị đứt gẫy, và cũng có cái bền vững trường tồn.
VD: Trong hệ thống giá trị văn hóa Việt Nam, tinh thần yêu nước là một giá trị
truyền thống bền vững và trường tồn, tuy nhiên nội dung của nó cũng có quá trình hình
thành, phát triển và biến đổi, nâng cao qua các quá trình lịch sử.
Việt Nam là một nước giàu truyền thống văn hóa với 54 tộc người cùng chung
sống. Tính đa dạng về văn hóa tộc người thể hiện trên bình diện văn hóa các nhóm ngôn
ngữ - tộc người, và văn hóa các nhóm địa phương của mỗi tộc người. Như Việt - Mường,
Tày - Thái, Môn - Khơme, Nam Đảo, Mông - Dao, Tạng - Miến, Hoa Mỗi tộc người lại
gồm nhiều nhóm địa phương với sắc thái văn hóa phong phú. Cái sắc thái văn hóa tộc
người ấy đan kết, thâm nhập, tiếp biến giữa nhân tố bản địa và ngoại lai, tạo nên bức
tranh đa sắc của văn hóa Việt Nam.
Truyền thống văn hóa và nội dung của truyền thống văn hóa rất đa dạng và
phong phú. Trong phạm vi nghiên cứu vấn đề đưa giáo dục giá trị văn hóa truyền thống ở
tuổi VTN trong nhà trường phổ thông, chỉ tập trung vào những giá trị truyền thống văn
hóa tinh thần tiêu biểu, cốt lõi của dân tộc Việt (kinh), phù hợp với lứa tuổi, cấp học của
các em, đồng thời nhằm phát huy vai trò của truyền thống đối với xây dựng nhân cách
văn hóa vị thành niên trong cuộc sống và yêu cầu phát triển của đất nước hiện nay.
Trong xã hội hiện thời, khi quan niệm về giá trị truyền thống văn hóa người ta
thường dùng cách phân chia văn hóa ra thành văn hóa truyền thống và văn hóa hiện đại.
Song, theo chúng tôi nghĩ cách phân địch tách bạch truyền thống - hiện đại chỉ có thể có
phần đúng đối với những loại giá trị văn hóa vật chất.
Theo từ điển tiếng Việt thì "Vị thành niên là những người chưa đến tuổi trưởng
thành để chịu trách nhiệm về những hành động của mình". Trong các văn bản pháp luật
hiện hành ở nước ta (như Bộ luật dân sự, Bộ luật lao động ) có dùng thuật ngữ "người
chưa thành niên" và có quy định cụ thể về độ tuổi và mức độ mà người chưa thành niên
phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.
Về mặt thuật ngữ, tuy chưa hoàn toàn thống nhất, song có sự thừa nhận chung là:
Vị thành niên là một giai đoạn trong quá trình phát triển của con người với đặc điểm lớn
nhất là quá trình dạy thì - cơ thể tăng trưởng nhanh chóng để đạt tới sự trưởng thành, tâm
lý có sự "bùng nổ sâu sắc. Có thể hiểu đây là giai đoạn "sau trẻ con và trước lớn".
Theo tổ chức y tế thế giới, độ tuổi vị thành niên là từ 10 đến 19 tuổi.
ở Việt Nam, vị thành niên là lứa tuổi từ 11 - 12 tuổi đến 17 - 18 tuổi, chiếm gần
1/4 dân số nước ta (khoảng 22,5%).
Đây là lứa tuổi đang phát triển nhân cách, đặc biệt là quan điểm sống, thế giới
quan chưa rõ ràng, sự phát triển về mặt xã hội cũng chưa được xác định. Hầu hết vị thành
niên còn phải sống phụ thuộc vào cha mẹ, chưa có vị trí kinh tế độc lập, chưa có đầy đủ
quyền và nghĩa vụ của người công dân về mặt pháp luật.
1.2. Nội dung giáo dục giá trị truyền thống văn hóa cho lứa tuổi vị thành
niên trong nhà trường
1.2.1. Cơ sở xác định nội dung giáo dục giá trị truyền thống văn hóa
a) Nội dung cốt lõi của một nền văn hóa, theo đó là một truyền thống văn hóa của
một dân tộc, như mọi người đã biết, đó là hệ thống giá trị văn hóa của chính dân tộc đó.
Truyền thống văn hóa không phải là bất biến. Nó được hình thành và phát triển trong quá
trình vận động, qua nhiều thử thách và tuyển chọn, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Dù xuất
phát từ nguồn nội sinh hay nguồn ngoại sinh, dù do tự nguyện hay có thể là do cưỡng bức
áp đặt, nhưng tất cả đều trải qua một quá trình thử thách, tuyển chọn, đánh giá tích cực
của những con người đương thời, họ muốn chiếm dụng và truyền lưu; để rồi những con
người hiện nay coi đấy là những di sản văn hóa của dân tộc mình, tiếp nối tuyển chọn, tôi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status