LUẬN VĂN:
Đổi mới cơ chế quản lý đầu tư và xây
dựng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
đầu tư XDCB
Lời nói đầu
Lĩnh vực Đầu tư xây dựng cơ bản đã và đang khẳng định vai trò quan trọng, có
tính quyết định đối với quá trình Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá đất nước thông qua
quá trình tạo ra cơ sở vật chất-kỹ thuật cho nền kinh tế-xã hội. Chúng ta quản lý hoạt
động này thông qua việc hình thành và liên tục hoàn thiện một cơ chế quản lý- cơ chế
quản lý đầu tư và xây dựng.
Là lĩnh vực hoạt động đòi hỏi phải hy sinh một lượng rất lớn nguồn lực và chi
phí xã hội, đồng thời do ảnh hưởng và tầm quan hệ rộng lớn cũng như tính chất phức
tạp trong quản lý, cho nên không phảI lúc nào việc hy sinh những nguồn lực, những
chi phí này cũng đem lại hiệu quả tích cực cho nền kinh tế-xã hội. Thực tế đang đặt ra
bàI toán phảI giảI quyết, đó là bàI toán về hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB.
Nói cách khác, cơ chế quản lý đầu tư và xây dựng của chúng ta đang đặt ra yêu
cầu phảI hoàn thiện. Và việc hoàn thiện này là một quá trình liên tục. Mỗi cơ chế quản
do bản chất hoạt động đầu tư, do mối quan hệ tất yếu giữa tính mục đích và sự hy sinh
các nguồn lực, do bản thân quá trình thu hút các nguồn lực cũng như thực hiện để đạt
được mục đích. Mối quan hệ này là tất yếu trong tính toàn diện, phổ quát của hoạt
động đầu tư.
Định nghĩa đầu tư trên, như vậy, là định nghĩa có nội hàm hẹp nhất mà ở nhiều
giác độ, nhiều tiêu thức khác nhau, bằng cách làm phong phú thêm nội hàm, ta có thể
xác định được nhiều hoạt động khác nhau mang bản chất là hoạt động đầu tư, ví dụ
như: đầu tư tăng trưởng, đầu tư phát triển, đầu tư tài chính, đầu tư thương mại, đầu tư
mở rộng, đầu tư chiều sâu Các hoạt động đầu tư cần thiết phải hy sinh các nguồn lực,
và các kết quả nhất định sẽ được tạo ra.
Nguồn lực dùng để tiến hành hoạt động đầu tư có thể là những tài sản hữu hình
như tiền vốn, đất đai, nhà cửa, thiết bị, hàng hoá hoặc tài sản vô hình như bằng sáng
chế, phát minh, nhãn hiệu hàng hoá, bí quyết kỹ thuật, uy tín kinh doanh, bí quyết
thương mại Các doanh nghiệp còn có thể đầu tư bằng cổ phần, trái phiếu, các quyền
sở hữu tài sản khác như quyền thế chấp, cầm cố hoặc các quyền có giá trị về mặt kinh tế như các quyền thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên các nguồn lực này được kết
hợp với nhau trong quá trình đầu tư nhằm tạo ra các tài sản, những giá trị, những kết
quả mong đợi, tức là mục tiêu đầu tư nói chung.
Những kết quả, những giá trị này có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính
(tiền vốn), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật ) và nguồn
nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất chất lượng cao hơn trong nền sản xuất
xã hội. Những kết quả đó, và do đó là cách thức tiến hành hoạt động đầu tư đáp ứng
được các mục tiêu của chủ thể đầu tư và xã hội đến đâu là tiêu chí quan trọng đánh giá
tính hiệu quả, hợp lý và đúng đắn của quyết định đầu tư và quá trình đầu tư.
Đầu tư là một hoạt động kinh tế quan trọng ở cấp độ vi mô các cá nhân, tổ chức
và doanh nghiệp cũng như ở cấp độ vĩ mô, ở phạm vi nền kinh tế-xã hội.
Đối với một doanh nghiệp, hoạt động đầu tư là công việc khởi đầu quan trọng
nhất và cũng là khó khăn nhất của quá trình sản xuất, kinh doanh. Những quyết định
ΔGDP
=ICOR×
GDP GDP
(3)
Như vậy, nếu hệ số ICOR không đổi thì tỉ lệ vốn đầu tư so với GDP sẽ quyết
định tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Tỉ lệ đầu tư càng cao thì tốc độ tăng trưởng
kinh tế càng cao và ngược lại.
2. Đầu tư phát triển:
2.1/ Khái niệm:
Hoạt động đầu tư phát triển (còn gọi là đầu tư phát triển) là quá trình sử dụng
vốn đầu tư để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm
tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu
để tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội.
2.2/ Đặc điểm:
Đầu tư phát triển thường đòi hỏi lượng vốn lớn và vốn này nằm khê đọng
không vận động trong suốt quá trình thực hiện đầu tư.
Do đặc điểm này, cần phải tính toán kỹ khi tiến hành công cuộc đầu tư, tránh
những thiệt hại hay tổn thất mà công cuộc đầu tư có thể gặp phải và cần phải bổ vốn
theo tiến độ phù hợp đảm bảo tính liên tục và giảm lượng vốn khê đọng.
Hoạt động đầu tư phát triển mang tính chất lâu dài, thể hiện:
- Thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi các thành quả của nó
phát huy tác dụng thường kéo dài nhiều năm tháng với nhiều biến động xảy ra. Trong
quá trình đó những tác động của môi trường đầu tư có thể làm những dự đoán của chủ thể đầu tư bị sai lệch do vậy cần phải quản lý một cách nghiêm ngặt và có sự điều
chỉnh kịp thời quá trình đầu tư.
- Thời gian để vận hành các kết quả đầu tư để thu hồi đủ vốn hoặc cho đến khi
thanh lý tài sản do vốn đầu tư tạo ra thường cũng kéo dài nhiều năm tháng, có dự án
thời gian tồn tại các kết quả mà đầu tư tạo ra là vĩnh viễn (như các công trình văn hoá,
thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội.
Đầu tư tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế:
Sự tác động không đông thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng cầu và
đối với tổng cung của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư, dù là tăng hay
giảm đều cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì sự ổn định vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định
của nền kinh tế của mọi quốc gia.
Chẳng hạn, khi đầu tư tăng sẽ tăng công ăn việc làm dẫn đến giảm thất nghiệp,
nâng cao đời sống của nhân dân, do đó góp phần làm giảm tệ nạn xã hội Nhưng bên
cạnh đó thì do tăng đầu tư đến mức nào đó sẽ dẫn đến lạm phát, ảnh hưởng tiêu cực
đến xã hội.
Giảm đầu tư: hạn chế được lạm phát, đời sống nhân dân ổn định, nhưng việc
giảm đầu tư, ngược lại cũng làm giảm công ăn việc làm, tình trạng thất nghiệp tăng,
làm ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội.
Vì vậy trong quản lý cần thấy hết tác động hai mặt này để đưa ra các chính sách
nhằm hạn chế tác động xấu, phát huy tác động tích cực, duy trì sự ổn định của toàn bộ
nền kinh tế.
Đầu tư tác động tới tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế:
Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy: muốn giữ tốc độ tăng trưởng ở
mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt được từ 15-25% so với GDP, tuỳ thuộc vào hệ
số ICOR của mỗi nước. Hệ số ICOR của mỗi nước phụ thuộc vào nhiều nhân tố, thay đổi theo trình độ phát triển kinh tế, phụ thuộc mạnh vào cơ cấu kinh tế, vào hiệu quả
đầu tư trong các nghành, các vùng lãnh thổ cũng như hiệu quả của cơ chế chính sách
kinh tế của nước đó nói chung. Như công thức (3) ở trên thì, nếu ICOR không đổi,
mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư.
Đầu tư ảnh hưởng đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Đầu tư làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với qui luật phát triển, với
chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn. Từ đó đạt được tốc độ tăng
trưởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế.
1.1/ Khái niệm:
Đầu tư xây dựng cơ bản ( XDCB ) là hoạt động sử dụng vốn đầu tư để tiến hành
thực hiện tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định cho nền kinh
tế thông qua các hình thức: xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá và khôi phục
các tài sản cố định.
Đầu tư XDCB là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung, đầu tư phát triển
nói riêng. Đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản (từ việc khảo
sát, quy hoạch đầu tư, thiết kế và xây dựng cho đến khi lắp đặt thiết bị để hoàn thiện
việc tạo ra cơ sở vật chất-kỹ thuật) nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng
các tài sản cố định cho nền kinh tế.
Như vậy, đầu tư XDCB không phải là hoạt động sản xuất vật chất mà là phạm
trù kinh tế tài chính xuất hiện trong quá trình tái sản xuất các tài sản cố định. Nhưng,
XDCB là một nghành sản xuất vật chất, tạo ra cơ sở vật chất-kỹ thuật cho xã hội, nó
quyết định đến sự phát triển đất nước và quy mô sản xuất của các nghành có liên quan.
1.2/ Vai trò: Đối với bất kỳ một phương thức sản xuất xã hội nào, ở mọi thời
kỳ phát triển đều tương ứng với một cơ sở vật chất-kỹ thuật nhất định và dựa trên cơ sở vật chất-kỹ thuật ấy. Sự hiện đại hoá liên tục cơ sở vật chất-kỹ thuật là điều kiện
ban đầu, là cơ sở của mọi biến chuyển kinh tế-xã hội. Quá trình hiện đại hoá cơ sở vật
chất-kỹ thuật của nền sản xuất xã hội có được nhờ việc tiến hành các hoạt động đầu tư
XDCB.
Đầu tư XDCB dù ở lĩnh vực nào, ở nước ta hay trên thế giới, tốc độ và tỷ lệ đầu
tư XDCB ngày càng chiếm tỷ lệ lớn trong đầu tư. Quá trình đầu tư XDCB vô cùng
phức tạp, liên nghành, do đó đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả của các
cơ quan chức năng, ban nghành và của nhiều lĩnh vực.
Sản phẩm đầu tư XDCB và quá trình đầu tư, do bản chất là hoạt động đầu tư
phát triển nên có tác dụng làm thay đổi, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng cường đổi
mới công nghệ, tạo ra và liên tục hiện đại hoá cơ sở vật chất-kỹ thuật cho nền sản xuất
xã hội. Những thành quả của đầu tư XDCB làm tăng năng lực sản xuất, tạo điều kiện
Như vậy, theo nghĩa rộng, quá trình hình thành công trình xây dựng có thể
được mô tả như sau:
Sơ đồ: Quá trình hình thành công trình xây dựng theo nghĩa rộng. 2.2/ Quá trình hình thành công trình xây dựng theo nghĩa hẹp:
Theo nghĩa hẹp, quá trình hình thành công trình xây dựng bắt đầu từ giai đoạn
chuẩn bị đầu tư đến giai đoạn thực hiện đầu tư xây dựng và đưa công trình vào vận
hành, sử dụng. Theo ” Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng” hiện hành thì quá trình
đầu tư xây dựng gồm các giai đoạn sau: ( trình tự, thủ tục đầu tư và xây dựng)
2.2.1/ Giai đoạn chuẩn bị đầu tư, các nhiệm vụ phải thực hiện như sau:
- Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư.
Kết thúc xây
dựng đưa công
trình vào
s
ử dụng
Thực hiện đầu
tư (xây dựng
- Thẩm đinh dự án để quyết định đầu tư.
- Gửi hồ sơ dự án đến nơi quy định.
2.2.2/ Giai đoạn thực hiện đầu tư, bao gồm các nhiệm vụ:
- Xin giao đất hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nước (đối với các dự án có
sử dụng đất).
- Xin giấy phép xây dựng (nếu cần phải có giấy phép xây dựng) và giấy phép
khai thác tàI nguyên (nếu có).
- Tổ chức đền bù giảI phóng mặt bằng, thực hiện kế hoạch di dân, phục hồi và
chuẩn bị mặt bằng xây dựng (nếu có).
- Mua sắm thiết bị và công nghệ.
- Thực hiện khảo sát, thiết kế xây dựng.
- Thẩm định, phê duyệt thiết kế và tổng dự toán, dự toán công trình.
- Tiến hành thi công, xây lắp công trình.
- Theo dõi, kiểm tra và thực hiện các hợp đồng.
- Quản lý kĩ thuật, chất lượng thiết bị và chất lượng xây dựng.
- Vận hành thử nghiệm, nghiệm thu, quyết toán vốn đầu tư, bàn giao và thực
hiện bảo hành sản phẩm.
2.2.3/ Giai đoạn kết thúc xây dựng và đưa dự án vào khai thác, sử dụng: - Nghiệm thu, bàn giao công trình.
- Thực hiện việc kết thúc xây dựng công trình.
- Vận hành công trình và hướng dẫn sử dụng công trình.
- Bảo hành công trình.
- Quyết toán vốn đầu tư.
- Phê duyệt quyết toán. Đối với dự án xây dựng các khu tập trung, dự án BOT,
BT, BTO, ngoàI các bước trên thì chủ đầu tư còn phảI làm thủ tục `chuyển giao sau
khi kết thúc xây dựng hoặc sau khi hết thời gian khai thác sử dụng theo hợp đồng kinh
doanh.
2.3/ Các lực lượng tham gia vào quá trình hình thành công trình xây
Nghành tư vấn đầu tư và xây dựng chuyên nhận thầu thực hiện các công việc
của chủ đầu tư giao như lập dự án đầu tư xây dựng, khảo sát, thiết kế, giám sát công
việc xây dựng Đây cũng là một lĩnh vực đòi hỏi những kiến thức chuyên nghành tổng
hợp.
3.4/ Các nghành sản xuất cung cấp đầu vào cho dự án đầu tư xây
dựng:
Các nghành sản xuất cung cấp đầu vào cho dự án đầu tư xây dựng bao gồm các
nghành chủ yếu sau:
3.4.1/ Nghành công nghiệp vật liệu xây dựng: Có nhiệm vụ chuyên sản xuất các
loại vật liệu xây dựng, bán thành phẩm và cấu kiện xây dựng để bán cho nghành công nghiệp xây dựng. Về bản chất nghành này phải được coi là một nghành sản xuất riêng
biệt. ở Việt Nam, nghành này hiện còn được quan lý chung với nghành công nghiệp
xây dựng.
3.4.2/ Nghành cơ khí xây dựng: Có nhiệm vụ sản xuất các máy móc và thiết bị
xây dựng (bao gồm cả công việc sủa chữa máy móc xây dựng) để cung cấp cho nghành
công nghiệp xây dựng.
3.4.3/ Các nghành cung ứng vật tư, thiết bị cho dự án đầu tư xây dựng: ở đây
phải kể đến các nghành tài chính, ngân hàng, thông tin, đào tạo phục vụ đầu tư xây
dựng.
4. Đặc điểm của sản phẩm xây dựng và sản xuất xây dựng:
4.1/ Đặc điểm của sản phẩm xây dựng:
Trước hết ta phân biệt các kháI niệm có liên quan sau đây đến sản phẩm xây
dựng:
4.1.1/ Sản phẩm đầu tư xây dựng: Sản phẩm đầu tư xây dựng là các công trình
đã hào chỉnh (bao gồm cả việc lắp đặt thiết bị, công nghệ ở bên trong). Sản phẩm đầu
tư xây dựng là kết tinh của các thành quả khoa học-công nghệ và tổ chức sản xuất của
xã hội ở một thời kỳ nhất định. Nó là một sản phẩm có tính chất liên nghành, trong đó
có những lực lượng tham gia tạo thành sản phẩm chủ yếu: chủ đầu tư; các doanh
giá trị sản phẩm thuần tuý của các doanh nghiệp này, tức là đem giá trị dự toán xây lắp
trừ đI chi phí vật liệu, năng lượng và khấu hao ở tất cả các khoản mục của giá trị dự
toán xây lắp.
4.1.3/ Công trình xây dựng:
Công trình xây dựng là sản phẩm của công nghệ xây lắp, được tạo thành bởi
vật liệu xây dựng, thiết bị công nghệ, lao động và gắn liền với đất, khoảng không, mặt
nước, mặt biển hay thềm lục địa.
4.1.4/ Những đặc điểm của sản phẩm xây dựng:
Những đặc điểm của sản phẩm xây dựng có ảnh hưởng lớn đến phương thức tổ
chức sản xuất và quản lý kinh tế trong nghành xây dựng, làm cho các công việc này có
nhiều đặc điểm khác biệt so với các nghành khác. Sản phẩm xây dựng với tư cách là
các công trình xây dựng hàon chỉnh thường có các đặc điểm sau: Sản phẩm xây dựng là những công trình, nhà cửa được xây dựng và sử
dụng tại chỗ và phân bố tản mạn ở nhiều nơi trên lãnh thổ. Điều này làm cho sản xuất
xây dựng có tính lưu động cao và thiếu ổn định.
Sản phẩm xây dựng phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện địa phương nơI đặt
công trình xây dựng. Do đó, nó có tính đa dạng và cá biệt cao về công dụng, cách cấu
tạo và cách chế tạo.
Sản phẩm xây dựng thường có kích thước và chi phí lớn, có thời gian kiến
tạo và thời gian sử dụng lâu dài. Do đó, những sai lầm về xây dựng có thể gây nên các
lãng phí lớn, tồn tại lâu dàI và khó sửa chữa.
Sản phẩm xây dựng thuộc phần kết cấu xây dựng chủ yếu đóng vai trò
nâng đỡ và bao che, không tác động trực tiếp lên đối tượng lao động trong quá trình
sản xuất, trừ một số loại công trình đặc biệt như đường ống, công trình thuỷ lực, lò
luyện gang thép…
Sản phẩm xây dựng liên quan đến nhiều nghành cả về phương diện cung
cấp các yếu tố đầu vào, thiết kế và chế tạo sản phẩm, cả về phương diện sử dụng sản
phẩm của xây dựng làm ra.
giảI quyết vấn đề vận chuyển ngang và vận chuyển lên cao, hoặc để xâm nhạp vào
trong lòng đất. Việc áp dụng tự động hoá qúa trình xây lắp phát triển chậm, tỷ lệ lao
động thủ công chiếm cao.
Những đặc điểm của sản xuất xây dựng trong điều kiện tự nhiên và xã hội
của Việt Nam:
- Về điều kiện tự nhiên: Sản xuất xây dựng ở Việt Nam được tiến hành trong
điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm, điều kiện địa chất, thuỷ văn phức tạp, đất nước dàI, hẹp
và còn nhiều nơI chưa được khai phá, có một số nguồn vật liệu xây dựng phong phú.
Do đó, các giảI pháp xây dựng ở Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh của các yếu tố này. - Về điều kiện kinh tế: Sản xuất xây dựng ở Việt Nam được tiến hành trong
điều kiện của một nền kinh tế đang phát triển, còn nhiều mặt yếu kém so với các nước
trên thế giới. Trong bối cảnh hợp tác quốc tế hiện nay, nghành xây dựng của Việt Nam
đang đứng trước nhiều cơ hội phát triển, nhưng cũng có nhiều nguy cơ và thách thức.
- Đường lối phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ
chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đang
quyết định phương hướng và tiến độ phát triển của nghành xây dựng Việt Nam.
III. vốn đầu tư xây dựng cơ bản:
1. Khái niệm vốn đầu tư XDCB :
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là toàn bộ chi phí để đạt được mục đích đầu tư, bao
gồm: Chi phí cho việc khảo sát, qui hoạch xây dựng, chi phí chuẩn bị đầu tư, chi phí
cho thiết kế và xây dựng, chi phí mua sắm và lắp đặt máy móc, thiết bị và các chi phí
khác được ghi trong tổng dự toán.
Vốn đầu tư XDCB được vật hoá để hình thành nên cơ sở vật chất-kỹ thuật cho
nền kinh tế, là điều kiện của tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản
cố định cho nền kinh tế, có vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế-xã
hội. Nhưng cần lưu ý rằng, có một số công tác mà xét về tính chất lẫn nội dung kinh tế
thì thuộc về hoạt động XDCB, nhưng chi phí của chúng thì lại không được tính vào
vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Đó là các hoạt động sau đây:
trên là toàn bộ chi phí để đạt được mục đích đầu tư, bao gồm: Chi phí cho việc khảo
sát, qui hoạch xây dựng, chi phí chuẩn bị đầu tư, chi phí cho thiết kế và xây dựng, chi
phí mua sắm và lắp đặt máy móc, thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự
toán. Vốn đầu tư đầu tư XDCB và vốn cố định là những khía niệm không giống nhau
cả về nội dung kinh tế lẫn trong sự biểu hiện giá trị. Sự khác nhau cơ bản giữa chúng
thể hiện ở chỗ, vốn đầu tư đầu tư XDCB là vốn cố định dưới dạng tiềm tàng, còn vốn
cố định là vốn đầu tư XDCB đã được khai thác, sử dụng. Biểu hiện vật chất của vốn cố định là nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, dụng cụ điều
chỉnh, đo lường, dụng cụ sản xuất và kinh doanh có giá trị và thời gian sử dụng ở mức
quy định.
Như vậy, ngoài phần vốn đầu tư XDCB huy động từ nước ngoài, thì vốn đầu tư
XDCB ở nước ta được hình thành từ việc phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập
quốc dân. Phần lớn thu nhập quốc dân được sử dụng để tích luỹ, điều đó làm tăng khả
năng đầu tư XDCB vào nền kinh tế và tăng năng lực sản xuất mới cho nền kinh tế. ở
Việt Nam cơ sở vật chất-kỹ thuật đã được xây dựng ngay từ những năm kháng chiến
chống Pháp, Mĩ. Trong khu vực sản xuất vật chất, chúng ta đã tập trung đầu tư XDCB
và hình thành nên cơ sở vật chất-kỹ thuật của 2 nghành là nông nghiệp và công nghiệp,
trong khu vực phi sản xuất vật chất, vốn đầu tư được tập trung nhiều vào các nghành
giáo dục, văn hoá, nghệ thuật, khoa học. Những cơ sở công nghiệp quan trọng như
điện, than, cơ khí, luyện kim, hoá chất, dệt, may mặc, các công trình thuỷ lợi, hệ thống
đường giao thông, các trường học, bệnh viện. Sau ngày thống nhất, việc xây dựng cơ
sở vật chất-kỹ thuật cho nền kinh tế tiếp tục được đẩy mạnh, nguồn vốn đầu tư XDCB
đã được huy động cả ở những khu vực không phải là kinh tế Nhà nước, đặc biệt là vốn
đầu tư thu hút từ đầu tư nước ngoài đang đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta. Đầu tư tập trung, đúng hướng đã làm
tăng năng lực sản xuất của nhiều nghành kinh tế quốc dân. Đó là các cơ sở của nghành
điện ( thuỷ điện Hoà Bình, Trị An, nhiệt điện Phả Lại, và hiện nay là nhà máy thuỷ
điện có tầm cỡ thế giới-thuỷ điện Sơn La đang được xây dựng), mạng lưới điện đã
sản cố định hình thành quỹ khâu hao. Quỹ khấu hao được chia ra hai phần: Quỹ khâu
hao cơ bản và quỹ khấu hao sửa chữa lớn. Quỹ khấu hao sửa chữa lớn tài sản cố định
được dùng sửa chữa lớn nhằm phục hồi và duy trì tính năng, công dụng của tài sản cố
định. Quỹ khấu hao cơ bản được dùng để tái tạo lại toàn bộ giá trị của tài sản cố định
qua con đường đầu tư XDCB, có nghĩa là tái sản xuất giản đơn tài sản cố định. Quỹ
khấu hao TSCĐ chỉ ngang bằng giá trị TSCĐ khi nào TSCĐ đó hết thời hạn sử dụng.
Trong điều kiện tập trung quỹ khấu hao của nhiều TSCĐ, cùng với sự phát triển mạnh
mẽ của khoa học-kỹ thuật và năng suất lao động xã hội ngày càng được nâng cao thì quỹ khấu hao cơ bản không những được dùng tái sản xuất giản đơn mà còn có thể
được dùng để tái sản xuất mở rộng TSCĐ.
Nguồn vốn đầu tư XDCB hình thành từ quỹ khấu hao TSCĐ có các tính chất
sau:
Hình thành dần dần, tương đối ổn định và được tích luỹ theo mức độ hao
mòn TSCĐ.
Nguồn vốn này có giới hạn bởi giá trị ban đầu của TSCĐ.
Chủ yếu được dùng để tái sản xuất giản đơn TSCĐ.
Tống sản phẩm xã hội sau khi bù đắp các tư liệu sản xuất đã tiêu hao được gọi
là thu nhập quốc dân. Thu nhập quốc dân được chia ra thành quỹ tích luỹ và quỹ tiêu
dùng. Quỹ tích luỹ là nguồn vốn để tái sản xuất mở rộng, trong đó chủ yếu là tái sản
xuất mở rộng TSCĐ. ở các đơn vị, xí nghiệp thu nhập quốc được tạo ra dưới hình thức
quỹ tiền lương và thu nhập thuần tuý. Một phần thu nhập thuần tuý được để lại xí
nghiệp, một phần được tập trung vào ngân sách Nhà nước dưới hình thức thuế. Một
phần thu nhập thuần tuý của xí nghiệp và một phần trong số chi của ngân sách Nhà
nước được dùng làm nguồn vốn đầu tư đầu tư XDCB, để tạo ra TSCĐ trong nền kinh
tế quốc dân. Giữa TSCĐ và thu nhập quốc dân có mối quan hệ biện chứng phụ thuộc
lẫn nhau: Tăng TSCĐ sản xuất sẽ dẫn tới tăng thu nhâp quốc dân. Tăng thu nhập quốc
dân sẽ có điều kiện để tái sản xuất mơ rộng TSCĐ. TSCĐ tăng thêm trên cơ sở tăng
thêm vốn đầu tư XDCB. Khối lượng vốn đầu tư XDCB tăng lên khi thu nhập quốc dân
quan giữa các phần chi phí cho các công tác xây dựng cơ bản, đó là: vốn cho công tác
xây dựng và lắp đặt, cho công tác mua sắm máy móc và thiết bị và vốn đầu tư XDCB
cho các công tác kiến thiết cơ bản khác.
Hoàn thiện cơ cấu công nghệ của vốn đầu tư có nghĩa là tăng tương đối phần
chi mua thiết bị, công cụ. Sự thay đổi cơ cấu vốn đầu tư XDCB theo hướng tăng chi
phí mua thiết bị phản ánh tiến bộ kỹ thuật của sản xuất và có ý nghĩa kinh tế quan