Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với quá trình cải cách nền hành chính, Việt Nam đang đẩy mạnh
công cuộc cải cách khu vực dịch vụ công, trong đó có việc đổi mới cơ chế
quản lý của Nhà nước đối với các tổ chức sự nghiệp công luôn được gắn với
vai trò chính yếu của Nhà nước. Mục đích chính của những cải cách trong
lĩnh vực dịch vụ sự nghiệp công tại Việt Nam thời gian qua không gì khác là
hướng tới bảo đảm nguồn ngân sách của Nhà nước dành cho lĩnh vực này
được sử dụng hiệu quả hơn, mọi người dân Việt Nam ngày càng được hưởng
những dịch vụ công tốt hơn, công bằng hơn, với chất lượng đảm bảo.
Nhưng thực tế hiện nay việc đổi mới cơ chế quản lý các TCSN công vẫn
rất chậm, không đồng bộ và không bắt nhịp cùng với quá trình cải cách nền
kinh tế đất nước trong giai đoạn vừa qua. Việc Nhà nước quá ôm đồm và cơ
chế bao cấp chàn lan, tài trợ ngân sách chưa đúng mục đích và đúng đối tượng
và Nhà nước vẫn chưa có quan điểm rõ ràng về vai trò của mình và vai trò của
thị trường trong việc đảm bảo cung ứng dịch vụ sự nghiệp công, đó những
nguyên nhân chính làm cho các đơn vị sự nghiệp công hoạt động không hiệu
quả.
Cùng với quá trình phát triển kinh tế, thì việc đảm bảo có một cơ chế
quản lý phù hợp để tạo điều kiện và phát huy hoạt động hiệu quả của các
TCSN công là yêu cầu cấp bách quá trình phát triển đất nước. Đặc biệt trong
lĩnh vực giáo dục & đào tạo, giáo dục luôn là vấn đề trung tâm của đời sống
xã hội vì nó quyết định tương lai của mỗi người và của cả xã hội. Thực trạng
nhức nhối của nền giáo dục Việt Nam hiện nay - nguyên nhân làm trì trệ sự
phát triển của Việt Nam.
Đảng và Nhà nước ta khẳng định giáo dục là quốc sách hàng đầu, và để
có thể thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước trong giai đoạn mới này vai trò của giáo dục và đào tạo
Vũ Trí Bình Kinh tế & Quản lý công 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
là rất lớn. Việc chấn chỉnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của
Chương III: Một số kiến nghị giải pháp về đổi mới cơ chế quản lý các
tổ chức sự nghiệp công trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Vũ Trí Bình Kinh tế & Quản lý công 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN VỀ ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ CÁC
TỔ CHỨC SỰ NGHIỆP CÔNG
1.1. Cơ sở lý thuyết về đổi mới cơ chế quản lý các tổ chức sự nghiệp
công
1.1.1. Khái niệm hàng hóa và dich vụ công, vai trò của nhà nước
trong việc cung cấp loại hàng hóa này trong nền kinh tế thị
trường
1.1.1.1. Khái niệm hàng hóa và dịch vụ công
Khái niệm hàng hóa và dịch vụ công hay vẫn được gọi là hàng hóa
công cộng, từ lâu đã có nhiều học giả nghiên cứu và có nhiều quan điểm về
nó. Ở Việt Nam, thuật ngữ hàng hóa công mới được đưa vào sử dụng và
nghiên cứu trong những năm gần đây.
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về hàng hóa công cộng như
theo S.A.Sammuelson và W.D.Nordhaus thì cho rằng: Hàng hóa công cộng
là một loại hàng hóa có thể cho moi người ( trong một nước hoặc trong một
thành phố) được hưởng với một giá không lớn hơn cái giá đòi hỏi để cung cấp
nó cho một người. Việc hưởng thụ hàng hóa đó không thể chia cắt được và
không thể loại trừ ai. Đối chiếu với hàng hóa tư nhân, như bánh mỳ, nếu mà
một người đã tiêu dùng thì người khác không thể tiêu dùng được
1
.
Có tác giả lại cho: Hàng hóa công cộng là hàng hóa mà khi một ai đó
tiêu dùng thì nó không làm giảm mức tiêu dùng hàng hóa đó của người khác,
là hàng hóa mà mọi người đều cần dùng, và khi nó đã được sản xuất ra thì
không thể ngăn cản người dân tiêu dùng hàng hóa đó ( an ninh, trật tự xã hội,
trong xã hội bị giảm đi, và việc loại trừ kẻ ăn không cũng đòi hỏi nguồn lực
để thực hiện.
Khi HHCC chỉ hội tụ một trong hai thuộc tính trên thì nó thuộc loại
HHCC không thuần túy, như giáo dục, y tế, cứu hỏa.v.v...Bản thân nó có sự
2
PGS.TS.Mai Văn Bưu – Giáo trình Quản lý học ĐH KTQD, tập 1, NXB Khoa học và Kỹ
thuật, Hà nội 2001
3
Theo từ điển Kinh tế học hiện đại – Macmillan (Daivid W.Pearce). Trong chuyên đề này,
các khái niệm “hàng hóa công cộng”, “hàng hóa công” và “dịch vụ công” được hiểu và sử
dụng như nhau.
4
GS.TS. Đỗ Hoàng Toàn – Bài giảng Chính trị học trong Quản lý công(2007), ĐH KTQD
Vũ Trí Bình Kinh tế & Quản lý công 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
kết hợp giữa HHCC và hàng hóa tư, cho đến này thực tế thuật ngữ hàng hóa
và dịch vụ công thường được dùng chung cho cả hai loại HHCC thuần túy và
cả không thuần túy.
Như vậy ở đây chúng ta có thể hiểu hàng hóa công cộng là những loại
hàng hóa, những tiện ích được đem trao đổi để sử dụng chung mà thỏa mãm
được ít nhất một trong hai thuộc tính: không có tính loại trừ và không có tính
canh tranh trong tiêu dùng.
1.1.1.2. Các hình thức cung ứng dịch vụ công và vai trò của nhà nước
Hiện nay có nhiều hình thức cung ứng hàng hoá và dịch vụ công, trong
đó Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng, nhà nước đảm bảo cho các hàng
hóa và dịch vụ công được cung cấp cho người dân. Hiện có một số hình thức
cung ứng đã được sử dụng như sau:
- Chính phủ là cung ứng trực tiếp hàng hoá, dịch vụ công.
- Chính phủ chuyển trách nhiệm cung ứng cho chính quyền địa phương.
- Chính phủ ký hợp đồng thuê khu vực tư nhân, các tổ chức phi chính
nhỏ
Trường tư phi tôn giáo
Các doanh nghiệp
lớn
Nguồn: Ngân hàng Thế giới
Như vậy, khá phong phú về hình thức cung ứng các dịch vụ công, như
bảng trên ta thấy có các loại tổ chức khác nhau, các loại hình sở hữu khác
nhau tham gia cung cấp một loại dịch vụ giáo dục. Điều này hoàn toàn không
làm mờ đi vai trò của nhà nước trong việc cung ứng dịch vụ công, mà lại làm
cho việc cung ứng các dịch vụ này trở nên linh hoạt và hiệu quả hơn nhiều.
Nhà nước đảm bảo việc hàng hoá và dịch vụ công phải được cung cấp cho
người dân, nhưng không nhất thiết nhà nước phải là người duy nhất và trực
tiếp cung ứng dịch vụ công. Đặc biệt đối với các hàng hoá và dịch vụ công
“không thuần tuý” như giáo dục, y tế v.v... nên để khu vục khác tham gia
cung ứng, do tính có tính loại trừ trong tiêu dùng của các hàng hoá này.
Nhưng sẽ là sai lầm nếu để thị trường hoàn toàn điều tiết việc cung ứng các
dịch vụ công. Vì vậy Nhà nước, cần đảm bảo chức năng điều tiết thị trường
Vũ Trí Bình Kinh tế & Quản lý công 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đối với hàng hoá và dịch vụ đặc biệt này, đảm bảo về mặt thể chế để thị
trường hoạt động. Ngoài ra, khi phân phối dịch vụ công nhà nước cần đảm
bảo các đối tượng dễ bị tổn thương, khu vực vùng sâu vùng xa, vùng còn
nghèo khó phải được tiếp cận, đảm bảo phúc lợi xã hội và công bằng xã hội.
Nhưng nếu chỉ do nhà nước trực tiếp cung ứng hoàng hoá và dịch vụ
công không thuần tuý thì cũng chưa chắc đảm bảo sẽ đạt được tính hiệu quả
xã hội. Vì khi đó nhà nước hoàn toàn đảm nhiệm việc cung ứng nên tính hiệu
quả không cao, cứng nhắc và thiếu tính cạnh tranh trong cung ứng các hàng
hoá và dịch vụ này. Vì vậy cần phải chuyển đổi đa dạng hoá và mở rộng diện
các nhà cung cấp, đặc biệt là các nhà cung cấp tư nhân là cần thiết. Tuy nhiên,
vẫn phải nhấn mạnh vai trò điều tiết của nhà nước để đảm bảo cho thị trường
Trong đó, những hoạt động thuộc lĩnh vực sự nghiệp được đưa vào các nhóm
như được trình bày trong Hộp 1 dưới đây.
Các hoạt động sự nghiệp thường có một số đặc điểm chung là:
(1) Cung cấp các dịch vụ công;
(2)Thường mang tính chuyên môn (như y tế, giáo dục, thể thao, khoa
học và công nghệ...), không vì mục tiêu lợi nhuận mà vì mục tiêu
phát triển con người, mục tiêu đảm bảo phúc lợi xã hội và công
bằng cho con người;
(3) Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm sao cho các
dịch vụ này được cung cấp cho người dân của mình
Vũ Trí Bình Kinh tế & Quản lý công 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Hộp 1: Phân loại một số lĩnh vực sự nghiệp liên quan trong danh
mục của WTO về dịch vụ
1.1.2.2. Tổ chức sự nghiệp.
1.2.1.2. Tổ chức sự nghiệp
Vũ Trí Bình Kinh tế & Quản lý công 46
1. Dịch vụ kinh doanh
a. Dịch vụ nghiên cứu triển khai (R&D)
b. Dịch vụ R&D về khoa học tự nhiên
c. Dịch vụ R&D về khoa học xã hội và nhân văn
d. Các dịch vụ R&D khác
2. Dịch vụ giáo dục và đào tạo
a. Dịch vụ giáo dục mầm non & tiểu học
b. Dịch vụ giáo dục phôt thông
c. Dịc vụ giáo dục cao học
d. Dịch vụ giáo dục cho người lớn
e. Dịch vụ giáo dục khác
3. Dịch vụ về môi trường
- Các tổ chức sự nghiệp hoạt động về văn hóa, thể thao, báo chí,
truyền hình, nghiên cứu khoa học công nghệ, lưu trữ, thư việ, bảo
tàng; về sân khấu, điện ảnh, âm nhạc, biểu diễn nghệ thuật...
Theo loại hình sở hữu, các tổ chức sự nghiệp được phân thành bốn
nhóm chính sau
6
.
(1) Tổ chức sự nghiệp công: là những tổ chức sự nghiệp do Nhà nước
thành lập, kinh phí hoạt động chủ yếu bằng nguồn ngân sách Nhà
nước cấp.
(2) Tổ chức sự nghiệp bán công: là những tổ chức sự nghiệp thành lập
trên cơ sở liên kết giữa Nhà nước và tổ chức ngoài Nhà nước để
cùng nhau xây dựng cơ sở vật chất, quản lý, điều hành mọi hoạt
động theo qui định của pháp luật.
(3) Tổ chức sự nghiệp do tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
thành lập.
5
Tổng cục Thống kê. Tổng điều tra các đơn vị kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm 2002
6
Tổng cục Thống kê. Tổng điều tra các đơn vị kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm 2002
Vũ Trí Bình Kinh tế & Quản lý công 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
(4) Tổ chức sự nghiệp dân lập: là tổ chức do một tổ chức hoặc cá nhân
thành lập theo quy định của pháp luật.
Trong khuân khổ chuyên đề này chỉ đề cập tới các TCSN công hoạt
động trong lĩnh vực y tế và giáo dục đao tạo, đây là những lĩnh vực mang tính
quyết sách hàng đầu của Đảng và nhà nước ta hiện nay.
1.2.1.3. Tổ chức sự nghiệp công
TCSN công trước hết phải là một TCSN, được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền thành lập và được quản lý theo qui định của pháp luật. Ngoài ra,
lý và thực hiện các loại dịch vụ công liên quan trực tiếp đến đời sống công dân,
cộng đồng. Chính phủ, các Bộ chỉ trực tiếp thực hiện cung cấp những loại dịch
vụ quan trọng. Ngoài ra các dịch vụ công mà xã hội có thể đảm nhận được nhà
nước thực hiện chuyển giao, khuyến khích, tạo điều kiện cho các tổ chức xã
hội, tổ chức kinh tế, tư nhân thực hiện trong sự định hướng và hỗ trợ của nhà
nước.
Trong khuân khổ chuyên đề thực tập này, sẽ chỉ đề cập đến các TCSN
công trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Đây là lĩnh vực mang tính quyết sách
hàng đầu của Đảng và nhà nước ta hiện nay. Giáo dục, đào tạo là linh vực tạo
ra nguồn lực quyết định cho sự phát triển đất nước trong tương lai, mang lại
lợi ích chung cho toàn xã hội và lĩnh vực chi phí cho tương lai. Nhà nước và
xã hội phải quan tâm nếu muốn một tương lai tốt đẹp hơn đối với đất nước
mình.
Vũ Trí Bình Kinh tế & Quản lý công 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.2.2. Cơ chế quản lý các tổ chức sự nghiệp công
1.2.2.1. Khái niệm
Cơ chế quản lý các tổ chức sự nghiệp công đó là phương thức quản lý
của nhà nước đối với các TCSN, để các TCSN công hoạt động có hiệu quả,
dịch vụ sự nghiệp đáp ứng được yêu cầu của xã hội, cả về số lượng và chất
lượng dịch vụ. Mà nhà nước quản lý thông qua các chính sách, qua các văn
bản quy phạm pháp luật để điều tiết, quản lý các tổ chức sự nghiệp công này.
Cơ chế ở đây đó là các chính sách của nhà nước, do vây khi xem xét cơ
chế quản lý các tổ chức sụ nghiệp công là ta xem xét đến các chính sách của
nhà nước đối với các tổ chức này.
Các TCSN công do nhà nước thành lập, là một bộ phận của bộ máy nhà
nước nên cơ chế quản lý của các tổ chức này không khác gì nhiều so với cơ
chế của các tổ chức hành chính nhà nước khác. Tức là, nhà nước đầu tư cơ sở
vật chất kỹ thuật, giao nhiệm vụ cần làm kèm theo cấp kinh phí thường xuyên
để các tổ chức này hoạt động, đánh giá kết quả đạt được...
- Cơ chế quản lý tài chính các TCSN công là các tổ chức này có thể
được trao quyền tự chủ tài chính, nhưng thường là chịu sự quản lý
tương đối chặt chẽ theo những chuẩn mực của nhà nước qui định về
tài chính do nhận nguồn tài trợ từ NSNN. Nhà nước có thể tiến hành
kiểm tra, giám sát và kiểm toán tài chính các TCSN công, đồng thời
tiến hành đánh giá hoạt động của các tổ chức này.
- Cơ chế quản lý giá cả dịch vụ sự nghiệp (bất kể chất lượng dịch vụ
đó tốt hay không) thường do nhà nước xác định hoặc kiểm soát.
Vũ Trí Bình Kinh tế & Quản lý công 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Cơ chế quản lý nói trên của các TCSN công đã phát huy tác dụng rất
tốt trong thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai và phát triển kinh tế thị
trường tại các nước trong nhiều thập kỷ của thế kỷ trước. Ở các nước có nền
kinh tế kế hoạch tập trung trước đây, cơ chế này cũng đã phát huy tác dụng và
được coi là một trong những ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Sở dĩ như
vậy vì mọi người đều được hưởng các dịch vụ công như y tế, giáo dục miễn
phí một cách bình đẳng, không phụ thuộc vào mức thu nhập của họ.
1.2.3.4. Yêu cầu
Cơ chế quản lý các tổ chức sự nghiệp công không còn phù hợp với tình
hình, xu thế phát triển của thế giới hiện nay. Cơ chế quản lý đó cần phải được
thay đổi và đáp ứng được những yêu cầu sau:
Thứ nhất, cơ chế quản lý các TCSN công phải linh hoạt hơn, tăng tính
tự chủ cho các đơn vị này. Nhà nước cũng cần phải thay đổi vai trò của mình
từ "nhà nước trực tiếp cung ứng" chuyển sang "nhà nước bảo đảm cho các
dịch vụ công được cung ứng tới người dân" một cách hiệu quả và có thể đưa
cơ chế thị trường vào một số lĩnh vực, để tăng tính cạnh tranh trong cung ứng
dịch vụ.
Cơ chế phải tạo được mối liên hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước với
người dân và mối liên hệ giữa TCSN công với người dân - người trực tiếp sử
dụng dịch vụ. Các cơ quan nhà nước phải tạo dựng được mối liên hệ chặt chẽ
trên cơ sở kết quả và tác động thực tế tới xã hội, chú không thể đánh giá một
cách thiếu khách quan dựa trên cơ sở hành chính bao cấp.
Thứ năm, cơ chế quản lý phải hướng các TCSN công hoạt động hướng
tới “người sử dụng" trong hoạt động của mình, bảo đảm sao cho dịch vụ do
Vũ Trí Bình Kinh tế & Quản lý công 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
họ cung ứng thực sự thoả mãn nhu cầu người sử dụng. Cơ chế hiện nay người
sử dụng thường không thoả mãn với dịch vụ do các TCSN công cung ứng,
nhưng lại không có nhiều khả năng lựa chọn.
Thứ sáu, hiện nay ngoài các TCSN công, đã xuất hiện hệ thống các
TCSN không phải của nhà nước, thuộc tư nhân hoặc của các tổ chức xã hội,
tạo nên sự cạnh tranh mạnh mẽ đối với các TCSN công về chất lượng, giá cả
dịch vụ.
Người sử dụng dịch vụ giờ đây đã có thể và có quyền lựa chọn những
dịch vụ do nhiều loại TCSN cung ứng, tuỳ vào nhu cầu và khả năng chi trả
chứ không chỉ dựa vào các dịch vụ do các TCSN công cung cấp như trước
đây. Do vậy cơ chế quản lý của nhà nước phải khuyến khích và tạo điều kiện
để các tổ chức sự nghiệp ngoài công lập cùng tham gia cung ứng dịch vụ.
1.2.3. Tổ chức sự nghiệp giáo dục và đào tạo
1.2.3.1. Khái niệm giáo dục và đào tạo
Con người là trung tâm của mọi sự phát triển, là vốn quý
nhất của xã hội. Con người sáng tạo ra xã hội, làm cho xã
hội phát triển đến những đỉnh cao của nền văn minh nhân
loại. Trong quá trình phát triển, con người luôn luôn biết
tự hoàn thiện mình, trở thành con người có trí tuệ cao và
cách sống văn minh hơn.
Trong các nguồn lực phát triển của mỗi quốc gia, nguồn
lực con người là nhân tố quyết định đối với sự phát triển,
đồng thời nó cũng là mục tiêu của sự phát triển hướng tới.
8
Giáo trình Chính sách kinh tế xã hội, Khoa Khoa học quản lý, NXB Khoa học và kỹ thuật,
Hà nội 2006
Vũ Trí Bình Kinh tế & Quản lý công 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
gắn với hệ thống trường lớp. Trong khuân khổ chuyên đề
này chỉ dừng lại nghiên cứu giáo dục ở phạm vi hẹp hơn.
Đi cùng với khái niệm giáo dục thì còn có khái niệm đào
tạo. Đào tạo thì được hiểu nó là một dạng đặc thù của của
giáo dục và nó hướng về kỹ năng, chuyên môn nghiệp vụ
nghề nghiệp. Đào tạo là quá trình phát triển hệ thống tri
thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ, tư cách... đòi hỏi ở mỗi
cá nhân để thực hiện một nhiệm chuyên môn nghề nghiệp
nhất định.
Như vậy ta có thể hiểu, giáo dục và đào tạo là lĩnh vực
hoạt động truyền đạt và cung cấp cho con người những
kiến thức, kỹ năng lao động của xã hội loài người, tạo cho
họ có khả năng biến kiến thức và kỹ năng đó thành hành
động thực tế.
1.2.3.2. Đặc điểm của giáo dục, đào tạo
Giáo dục và đào có những đặc điểm chính sau:
- Giáo dục, đào tạo một lĩnh vực không tạo ra sản phẩm để có thể
hưởng thụ được ngay, mà nó là lĩnh vực chi phí cho tương lai, tạo ra
lợi ích trong tương lai. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai
của xã hội. Vì vậy giáo dục cần phải có tầm nhìn xa hơn, ở mỗi
quốc gia để chuẩn bị trước cho sự phát triển kinh tế ở mỗi giai đoạn
nhất định thì giáo dục luôn đi trước một bước, để có thể bắt nhịp và
đáp ứng được sự phát triển kinh tế ở giai đoạn đó.
- Kết quả của giáo dục và đào tạo, nó là sản phẩm có tính chất vô
hình, tạo tiềm năng cho sự phát triển của xã hội, nó không phải là
Vũ Trí Bình Kinh tế & Quản lý công 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trong tương lai, nó gắn liền với mục tiêu chiến lược phát
triển, cơ cấu kinh tế của đất nước...Vì vậy, nếu nhà nước
không có những biện pháp thích hợp để định hướng công
tác giáo dục và đào tạo thì sẽ dẫn đến một cơ cấu đào tạo
ngành nghề bất hợp lý ghê gớm, làm trệch hướng phát
triển của đất nước so với các mục tiêu đã đề ra.
1.2.3.4. Các loại hình tổ chức sự nghiệp công trong giáo dục và đào
tạo
Hiện nay các tổ chức sự nghiệp trong lĩnh vực giáo dục và
đào tạo được chia thành 4 loại hình chủ yếu sau:
(1). Cơ sở giáo dục công lập: Do nhà nước thành lập và
được quản lý theo qui định của pháp luật được nhà nước
tài trợ ngân sách để thực hiện các nhiệm vụi được giao
(2). Cơ sở giáo dục bán công: do Nhà nước thành lập trên cơ sở huy
động các tổ chức, cá nhân, thuộc mọi thành phần kinh tế cùng đầu tư xây
dựng cơ sở vật chất. Trường bán công thuộc sở hữu nhà nước, do các cơ quan
nhà nước cấp TƯ, tỉnh, quận/huyện, xã quản lý, nhưng mọi chi phí hoạt động
được trang trải bằng lệ phí do học sinh đóng góp.
(3). Cơ sở giáo dục dân lập: do các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp,
tổ chức kinh tế xin phép thành lập và tự đầu tư bằng nguồn vốn ngoài NSNN.
Các trường dân lập do các tổ chức phi Chính phủ hoặc hiệp hội như công
đoàn, hợp tác xã, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ...sở hữu và quản lý. Cũng
giống như cơ sở bán công, các trường này tự trang trải toàn bộ chi phí.
(4). Cơ sở giáo dục tư thục: do cá nhân hay một nhóm cá
nhân xin phép thành lập và đầu tư. Các cơ sở này do các
cá nhân sở hữu và quản lý.
Vũ Trí Bình Kinh tế & Quản lý công 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
dục năm 1998 và hoạt động của các cơ sở công chịu sự điều chỉnh trực tiếp và
chịu ảnh hưởng gián tiếp của nhiều văn bản pháp quy, quan trọng nhất là Luật
giáo dục năm 1998, sau này là Luật giáo dục 2005 và quy định về tự chủ tài
chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu.
The cơ chế hiện hành, tất cả loại hình trường hoạt động trong khuôn
khổ pháp luật và có quyền bình đẳng trước pháp luật. Các cơ sở giáo dục và
đào tạo, không phân biệt loại hình sở hữu, chịu sự quản lý hành chính trực
tiếp hoặc gián tiếp của các cơ quan hành chính nhà nước trung ương và địa
phương phù hợp với chức trách, nhiệm vụ và phạm vi do chính phủ phân cấp.
Trường liên kết-liên doanh với nước ngoài và trường nước ngoài hoạt động có
thể vì mục tiêu lợi nhuận hoặc không vì mục tiêu lợi nhuận. Các cơ sở vì mục
tiêu lợi nhuận hoạt động theo quy định của Nghị định số 06/2000/NĐ-CP,
trong khi cơ sở không vì mục tiêu lợi nhuận hoạt động theo quy định của
Nghị định số 18/2000/NĐ-CP.
Khung pháp lý hiện hành cũng quy định thực hiện phân cấp triệt để về
quản lý đối với các trường công. Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm
chung xây dựng và triển khai thực hiện chính sách trong toàn ngành giáo dục
và đào tạo. Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội có trách nhiệm quản lý hệ
thống các cơ sở dạy nghề. Nếu phân theo loại trường, các cơ sở giáo dục đại
học và một phần chủ yếu giáo dục nghề nghiệp thuộc quyền quản lý của các
Bộ. Cấp tỉnh quản lý các cơ sở giáo dục trung học và cấp huyện/quận và xã
quản lý giáo dục tiểu học và mầm non. Cơ chế phân cấp đang thực hiện việc
giảm dần sự chi phối của cấp trung ương bằng việc tăng quyền chủ động cho
các cơ sở giáo dục-đào tạo, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính.
Vũ Trí Bình Kinh tế & Quản lý công 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Cơ sở để thành lập một cơ sở giáo dục công phụ thuộc vào quy hoạch
phát triển ngành nhằm đạt các chỉ tiêu giáo dục đã được Chính phủ thông qua.
Cơ sở pháp lý quy định việc thành lập, sáp nhập, chia tách, hình thức tổ chức
và hoạt động của các trường được thực hiện theo Nghị định 43/CP năm 2000.