Đổi mới cơ chế quản lý các tổ chức sự nghiệp công trong lĩnh vực giáo dục & đào tạo - Pdf 27

LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với quá trình cải cách nền hành chính, Việt Nam đang đẩy mạnh
công cuộc cải cách khu vực dịch vụ công, trong đó có việc đổi mới cơ chế
quản lý của Nhà nước đối với các tổ chức sự nghiệp công luôn được gắn với
vai trò chính yếu của Nhà nước. Mục đích chính của những cải cách trong
lĩnh vực dịch vụ sự nghiệp công tại Việt Nam thời gian qua không gì khác là
hướng tới bảo đảm nguồn ngân sách của Nhà nước dành cho lĩnh vực này
được sử dụng hiệu quả hơn, mọi người dân Việt Nam ngày càng được hưởng
những dịch vụ công tốt hơn, công bằng hơn, với chất lượng đảm bảo.
Nhưng thực tế hiện nay việc đổi mới cơ chế quản lý các TCSN công vẫn
rất chậm, không đồng bộ và không bắt nhịp cùng với quá trình cải cách nền
kinh tế đất nước trong giai đoạn vừa qua. Việc Nhà nước quá ôm đồm và cơ
chế bao cấp chàn lan, tài trợ ngân sách chưa đúng mục đích và đúng đối tượng
và Nhà nước vẫn chưa có quan điểm rõ ràng về vai trò của mình và vai trò của
thị trường trong việc đảm bảo cung ứng dịch vụ sự nghiệp công, đó những
nguyên nhân chính làm cho các đơn vị sự nghiệp công hoạt động không hiệu
quả.
Cùng với quá trình phát triển kinh tế, thì việc đảm bảo có một cơ chế
quản lý phù hợp để tạo điều kiện và phát huy hoạt động hiệu quả của các
TCSN công là yêu cầu cấp bách quá trình phát triển đất nước. Đặc biệt trong
lĩnh vực giáo dục & đào tạo, giáo dục luôn là vấn đề trung tâm của đời sống
xã hội vì nó quyết định tương lai của mỗi người và của cả xã hội. Thực trạng
nhức nhối của nền giáo dục Việt Nam hiện nay - nguyên nhân làm trì trệ sự
phát triển của Việt Nam.
Đảng và Nhà nước ta khẳng định giáo dục là quốc sách hàng đầu, và để
có thể thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước trong giai đoạn mới này vai trò của giáo dục và đào tạo
1
là rất lớn. Việc chấn chỉnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của
ngành là một vấn đề tất yếu mà Đảng và Nhà nước cần phải làm trong bối
cảnh hiện nay. Trước những yếu cầu đòi hỏi của quá trình đổi mới, Nhà nước

CHƯƠNG I
LÝ LUẬN VỀ ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ CÁC
TỔ CHỨC SỰ NGHIỆP CÔNG
1.1. Cơ sở lý thuyết về đổi mới cơ chế quản lý các tổ
chức sự nghiệp công
1.1.1. Khái niệm hàng hóa và dich vụ công, vai trò
của nhà nước trong việc cung cấp loại hàng hóa này
trong nền kinh tế thị trường
1.1.1.1. Khái niệm hàng hóa và dịch vụ công
Khái niệm hàng hóa và dịch vụ công hay vẫn được gọi là hàng hóa
công cộng, từ lâu đã có nhiều học giả nghiên cứu và có nhiều quan điểm về
nó. Ở Việt Nam, thuật ngữ hàng hóa công mới được đưa vào sử dụng và
nghiên cứu trong những năm gần đây.
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về hàng hóa công cộng như
theo S.A.Sammuelson và W.D.Nordhaus thì cho rằng: Hàng hóa công cộng
là một loại hàng hóa có thể cho moi người ( trong một nước hoặc trong một
thành phố) được hưởng với một giá không lớn hơn cái giá đòi hỏi để cung cấp
nó cho một người. Việc hưởng thụ hàng hóa đó không thể chia cắt được và
không thể loại trừ ai. Đối chiếu với hàng hóa tư nhân, như bánh mỳ, nếu mà
một người đã tiêu dùng thì người khác không thể tiêu dùng được
1
.
Có tác giả lại cho: Hàng hóa công cộng là hàng hóa mà khi một ai đó
tiêu dùng thì nó không làm giảm mức tiêu dùng hàng hóa đó của người khác,
là hàng hóa mà mọi người đều cần dùng, và khi nó đã được sản xuất ra thì
không thể ngăn cản người dân tiêu dùng hàng hóa đó ( an ninh, trật tự xã hội,
1
S.A.Sammuelson và W.D.Nordhaus - Kinh tế học tập 2, ĐH KTQD, Hà nội 1989, trang
712
4

PGS.TS.Mai Văn Bưu – Giáo trình Quản lý học ĐH KTQD, tập 1, NXB Khoa học và Kỹ
thuật, Hà nội 2001
3
Theo từ điển Kinh tế học hiện đại – Macmillan (Daivid W.Pearce). Trong chuyên đề này,
các khái niệm “hàng hóa công cộng”, “hàng hóa công” và “dịch vụ công” được hiểu và sử
dụng như nhau.
4
GS.TS. Đỗ Hoàng Toàn – Bài giảng Chính trị học trong Quản lý công(2007), ĐH KTQD
5
kết hợp giữa HHCC và hàng hóa tư, cho đến này thực tế thuật ngữ hàng hóa
và dịch vụ công thường được dùng chung cho cả hai loại HHCC thuần túy và
cả không thuần túy.
Như vậy ở đây chúng ta có thể hiểu hàng hóa công cộng là những loại
hàng hóa, những tiện ích được đem trao đổi để sử dụng chung mà thỏa mãm
được ít nhất một trong hai thuộc tính: không có tính loại trừ và không có tính
canh tranh trong tiêu dùng.
1.1.1.2. Các hình thức cung ứng dịch vụ công và vai trò của nhà nước
Hiện nay có nhiều hình thức cung ứng hàng hoá và dịch vụ công, trong
đó Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng, nhà nước đảm bảo cho các hàng
hóa và dịch vụ công được cung cấp cho người dân. Hiện có một số hình thức
cung ứng đã được sử dụng như sau:
- Chính phủ là cung ứng trực tiếp hàng hoá, dịch vụ công.
- Chính phủ chuyển trách nhiệm cung ứng cho chính quyền địa phương.
- Chính phủ ký hợp đồng thuê khu vực tư nhân, các tổ chức phi chính
phủ cung cấp dịch vụ công.
- Nhà nước có thể bán, nhượng quyền kinh doanh sang cho khu vực tư
nhân.
- Nhà nước thu hút sự tham gia của cộng đồng xã hội hoặc nhà nước hỗ
trợ trực tiếp cho các hộ gia đình.
Ví dụ: Một số hình thức cung ứng dịch vụ giáo dục và đào tạo được

nhau tham gia cung cấp một loại dịch vụ giáo dục. Điều này hoàn toàn không
làm mờ đi vai trò của nhà nước trong việc cung ứng dịch vụ công, mà lại làm
cho việc cung ứng các dịch vụ này trở nên linh hoạt và hiệu quả hơn nhiều.
Nhà nước đảm bảo việc hàng hoá và dịch vụ công phải được cung cấp cho
người dân, nhưng không nhất thiết nhà nước phải là người duy nhất và trực
tiếp cung ứng dịch vụ công. Đặc biệt đối với các hàng hoá và dịch vụ công
“không thuần tuý” như giáo dục, y tế v.v... nên để khu vục khác tham gia
cung ứng, do tính có tính loại trừ trong tiêu dùng của các hàng hoá này.
Nhưng sẽ là sai lầm nếu để thị trường hoàn toàn điều tiết việc cung ứng các
dịch vụ công. Vì vậy Nhà nước, cần đảm bảo chức năng điều tiết thị trường
7
đối với hàng hoá và dịch vụ đặc biệt này, đảm bảo về mặt thể chế để thị
trường hoạt động. Ngoài ra, khi phân phối dịch vụ công nhà nước cần đảm
bảo các đối tượng dễ bị tổn thương, khu vực vùng sâu vùng xa, vùng còn
nghèo khó phải được tiếp cận, đảm bảo phúc lợi xã hội và công bằng xã hội.
Nhưng nếu chỉ do nhà nước trực tiếp cung ứng hoàng hoá và dịch vụ
công không thuần tuý thì cũng chưa chắc đảm bảo sẽ đạt được tính hiệu quả
xã hội. Vì khi đó nhà nước hoàn toàn đảm nhiệm việc cung ứng nên tính hiệu
quả không cao, cứng nhắc và thiếu tính cạnh tranh trong cung ứng các hàng
hoá và dịch vụ này. Vì vậy cần phải chuyển đổi đa dạng hoá và mở rộng diện
các nhà cung cấp, đặc biệt là các nhà cung cấp tư nhân là cần thiết. Tuy nhiên,
vẫn phải nhấn mạnh vai trò điều tiết của nhà nước để đảm bảo cho thị trường
về các hàng hoá và dịch vụ công được vận hành một cách có hiệu quả.
1.2. Một số vấn đề lý luận về đổi mới cơ chế tổ chức và
quản lý của các tổ chức sự nghiệp công
1.2.1. Lĩnh vực sự nghiệp và tổ chức sự nghiệp
công.
1.2.1.1. Lĩnh vực sự nghiệp
Thuật ngữ lĩnh vực sự nghiệp đã được sử dụng ở Việt Nam từ nhiều
năm nay, từ thời kỳ kế hoạch hóa tập trung lẫn trong thời kỳ chuyển sang nền

dịch vụ này được cung cấp cho người dân của mình
9
Hộp 1: Phân loại một số lĩnh vực sự nghiệp liên quan trong danh
mục của WTO về dịch vụ

1.1.2.2. Tổ chức sự nghiệp.
1.2.1.2. Tổ chức sự nghiệp
10
1. Dịch vụ kinh doanh
a. Dịch vụ nghiên cứu triển khai (R&D)
b. Dịch vụ R&D về khoa học tự nhiên
c. Dịch vụ R&D về khoa học xã hội và nhân văn
d. Các dịch vụ R&D khác
2. Dịch vụ giáo dục và đào tạo
a. Dịch vụ giáo dục mầm non & tiểu học
b. Dịch vụ giáo dục phôt thông
c. Dịc vụ giáo dục cao học
d. Dịch vụ giáo dục cho người lớn
e. Dịch vụ giáo dục khác
3. Dịch vụ về môi trường
a. Dịch vụ thoát nước
b. Dịch vụ thu gom chất thải
c. Các dịch vụ vệ sinh và liên quan khác
4. Cá dịch vụ liên quan về y tế và xã hội
a. Dịch vụ y tế bệnh viện
b. Các dịch vụ khác liên quan tới sức khỏe con người
c. Cá dịch vụ xã hội khac
5. Dịch vụ giải trí, văn hóa và thể thao
a. Dịch vụ giải trí ( nhà hát, xiếc, ban nhạc...)
b. Dịch vụ thông tấn báo chí

pháp luật.
(3) Tổ chức sự nghiệp do tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
thành lập.
(4) Tổ chức sự nghiệp dân lập: là tổ chức do một tổ chức hoặc cá nhân
thành lập theo quy định của pháp luật.
5
Tổng cục Thống kê. Tổng điều tra các đơn vị kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm 2002
6
Tổng cục Thống kê. Tổng điều tra các đơn vị kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm 2002
11
Trong khuân khổ chuyên đề này chỉ đề cập tới các TCSN công hoạt
động trong lĩnh vực y tế và giáo dục đao tạo, đây là những lĩnh vực mang tính
quyết sách hàng đầu của Đảng và nhà nước ta hiện nay.
1.2.1.3. Tổ chức sự nghiệp công
TCSN công trước hết phải là một TCSN, được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền thành lập và được quản lý theo qui định của pháp luật. Ngoài ra,
TCSN công được ngân sách nhà nước tài trợ để thực hiện các nhiệm vụ được
giao.
Tùy vào lĩnh vực hoạt động, tính chất của lĩnh vực và nguồn thu mà
các TCSN công có thể thuộc vào một trong hai nhóm: TCSN công có thu và
TCSN công không có thu. TCSN công có thu được hiểu là ngoài nguồn tài
chính hoạt động từ ngân sách nhà nước cấp, các TCSN công còn được pháp
luật cho phép thu phí, lệ phí từ người sử dụng "dịch vụ công" mà tổ chức đó
cung cấp để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình.
Sự có mặt của các TCSN công thể hiện việc thực hiện vai trò và trách
nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm cung cấp dịch vụ phúc lợi xã hội
thiết yếu cho mọi người dân của mình, thông qua các tổ chức do nhà nước lập
ra .Đây cũng là một việc làm tất yếu mà nhà nước khó có thể chối từ. Sự cung
ứng này là để sửa chữa các khuyết tật của thị trường và đảm bảo phúc lợi xã
hội. Dịch vụ công rất cần thiết đối với cuộc sống của con người, song tư nhân

13
Cơ chế quản lý các tổ chức sự nghiệp công đó là phương thức quản lý
của nhà nước đối với các TCSN, để các TCSN công hoạt động có hiệu quả,
dịch vụ sự nghiệp đáp ứng được yêu cầu của xã hội, cả về số lượng và chất
lượng dịch vụ. Mà nhà nước quản lý thông qua các chính sách, qua các văn
bản quy phạm pháp luật để điều tiết, quản lý các tổ chức sự nghiệp công này.
Cơ chế ở đây đó là các chính sách của nhà nước, do vây khi xem xét cơ
chế quản lý các tổ chức sụ nghiệp công là ta xem xét đến các chính sách của
nhà nước đối với các tổ chức này.
Các TCSN công do nhà nước thành lập, là một bộ phận của bộ máy nhà
nước nên cơ chế quản lý của các tổ chức này không khác gì nhiều so với cơ
chế của các tổ chức hành chính nhà nước khác. Tức là, nhà nước đầu tư cơ sở
vật chất kỹ thuật, giao nhiệm vụ cần làm kèm theo cấp kinh phí thường xuyên
để các tổ chức này hoạt động, đánh giá kết quả đạt được...
Về hình thức pháp lý: Thông thường hoạt động của các TCSN công được điều
chỉnh theo một bộ luật riêng, chẳng hạn như luật về các TCSN, luật về dịch
vụ công. Tuy nhiên, ở nhiều nước khác, những qui định về hoạt động của các
TCSN công được thể hiện trong luật hành chính và hoặc không có luật riêng
nào điều chỉnh . Các TCSN công của Việt Nam rơi vào trường hợp thứ hai,
tức là chưa có luật riêng điều chỉnh các hoạt động sự nghiệp nói chung và
TCSN công nói riêng.
1.2.2.2. Nội dung
Cơ chế quản lý các tổ chức sự nghiệp công tuỳ thuộc vào từng loại hình
dịch vụ, nhưng nhìn chung nội dung cơ chế quản lý các tổ chức sự nghiệp
công có đặc điểm chủ yếu như sau:
- Thường Nhà nước quản lý chặt chẽ các tổ chức này theo cơ chế
hành chính, nhưng nhà nước có thể trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối
với các TCSN công. Các TCSN công được Nhà nước cấp kinh phí để xây
14
dựng cơ sở vật chất ban đầu cũng như chi thường xuyên để trả lương cho cán

Thứ nhất, cơ chế quản lý các TCSN công phải linh hoạt hơn, tăng tính
tự chủ cho các đơn vị này. Nhà nước cũng cần phải thay đổi vai trò của mình
từ "nhà nước trực tiếp cung ứng" chuyển sang "nhà nước bảo đảm cho các
dịch vụ công được cung ứng tới người dân" một cách hiệu quả và có thể đưa
cơ chế thị trường vào một số lĩnh vực, để tăng tính cạnh tranh trong cung ứng
dịch vụ.
Cơ chế phải tạo được mối liên hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước với
người dân và mối liên hệ giữa TCSN công với người dân - người trực tiếp sử
dụng dịch vụ. Các cơ quan nhà nước phải tạo dựng được mối liên hệ chặt chẽ
với người dân (người sử dụng dịch vụ) của mình để có những thông tin kịp
thời về cách thức cung ứng cũng như chất lượng dịch vụ được cung ứng, để từ
đó thể đưa ra cơ chế chính sách và cách thức cung ứng phù hợp với người sử
dụng. Hiện nay xu thế chung, người dân - những cử tri, ngày càng tham gia
nhiều hơn vào quá trình xây dựng chính sách, giám sát thực hiện chính sách,
từ đó tạo sức ép đối với Chính phủ các nước phải thực hiện cải cách, đổi mới
các TCSN công.
Thứ hai, cơ chế phải đảm bảo sao cho các TCSN công hoạt động linh
hoạt hơn, không có tính chất bị động, xơ cứng. Vì hầu hết các TCSN công là
nơi tập trung những chuyên gia có chuyên môn, các nhà khoa học có trình độ
cao. Do vậy cơ chế hoạt động lam sao phải phát huy được sự chủ động và sức
sáng tạo của họ và để sử dụng đội ngũ lao động có trình độ làm việc một cách
có hiệu quả.
16
Thứ ba, phải tách biệt rõ cơ chế quản lý đối với các TCSN công và các
cơ quan quản lý hành chính, vì hai loại hình hoạt động là khác nhau, các
TCSN công có chức năng trực tiếp cung ứng dịch vụ sự nghiệp công, còn các
cơ quan hành chính nhà nước chức năng quản lý hành chính. Cơ chế chính
sách của nhà nước phải nhất quán.
Thứ tư, cơ chế phải tăng quyền tự chủ hoạt động thực sự cho các cơ sở
công về các vấn đề tổ chức nội bộ, nhân sự, cơ chế trả lương và đặc biệt là cơ

nền văn minh nhân loại. Trong quá trình phát triển, con người luôn luôn biết
tự hoàn thiện mình, trở thành con người có trí tuệ cao và cách sống văn minh
hơn.
Trong các nguồn lực phát triển của mỗi quốc gia, nguồn lực con người là
nhân tố quyết định đối với sự phát triển, đồng thời nó cũng là mục tiêu của sự
phát triển hướng tới. Đặc biệt đối với nước ta, trong quá trình phát triển đất
nước, khi các nguồn lực khác còn hạn hẹp thì nguồn lực con người là nguồn
lực quý báu nhất để phát triển đất nước.
Nguồn lực con người trước hết là sức mạnh trí tuệ, tay nghề của họ. Sức mạnh
của mỗicon người xét cho cùng là bắt nguồn từ những trí thức mà họ có được,
từ khả năng vận dụng kiến thức đó vào hành động nhằm giải quyết các vấn đề
thực tế. Song những trí tuệ và kỹ năng làm việc của con người nó không tự
nhiên mà có được. Mà nó là kết quả của giáo dục và đào tạo và sự tự rèn
luyên lâu dài của mỗi con người. Cthể nói giáo dục luôn là mối quan tâm
hàng đầu của mỗi quốc gia, của cả nhân loại, nhằm đào tạo ra một nguồn nhân
lực có trí tuệ cao, đáp ứng được những yếu cầu của sự phát triển của đất nước.
Như vậy giáo dục và đào tạo là gì?
18
Có thể hiểu giáo dục theo một khái niệm khái quát nhất là một quá trình bao
gồm tất cả các hoạt động hướng vào sự phát triển và rèn luyện năng lực (trí
thức, kỹ năng, kỹ sảo) và phẩm chất (niềm tin, đạo đức, thái đội ...) ở con
người để phát triển nhân cách đầy đủ và trở lên có giá trị tích cực đối với xã
hội
8
Còn có thể hiểu giáo dục là quá trình được tổ chức một cách có mục đích, có
kế hoạch nhằm truyền đạt va lĩnh hội những kinh nghiệm của xã hội loài
người.
Ở đây ta hiểu giáo dục theo một nghĩa hẹp hơn, giáo dục được tiến hành trong
một phạm vi không gian hẹp hơn, nó gắn với hệ thống trường lớp. Trong
khuân khổ chuyên đề này chỉ dừng lại nghiên cứu giáo dục ở phạm vi hẹp

- Giáo dục và đào tạo ngoài mang lại lợi ích trực tiếp cho người được
hưởng giáo dục và đào tạo đó, mà còn mang lại lợi ích cho những người
không trực tiếp được hưởng, nó mang lại lợi ích chung cho toàn xã hội. Chính
vì vậy, Nhà nước với vai trò đại diện cho lợi ích của toàn xã hội, phải chịu
trách nhiệm đảm bảo dịch vụ giáo dục và đào tạo được cung ứng cho người
dân.
1.2.3.3. Mục đích, vai trò của giáo dục và đào tạo
Cùng với quá trình phát triển của cả nhân loại, thì nền văn minh, các thành
tựu khoa học – công nghệ, những trí thức của nhân loại luôn được tồn tại và
phát triển. Khi đó giáo dục và đào tạo với sứ mệnh của mình giúp con người
tiếp cận nền tảng tri thức của nhân loại và có được tri thức, kỹ năng. Giúp con
chuyển giao nền văn minh, các thành tựu khoa học - công nghệ , những hiểu
hiết, những tri thức về quy luật tự nhiên và xã hội.v.v. cho các thế hệ sau, giáo
dục tiếp tục giúp các thế hệ sau phát triển dựa trên nền tảng tri đã có.
20
Giáo dục và đào tạo giúp con người làm quen, tiếp nhận các giá trị và chuẩn
mực của xã hôi, để từ đó con người có được cơ chế kiểm soát và điều chỉnh
hành vi của mình trong cuộc sống xã hội.
Giáo dục và đào tạo là cơ sở phát triển nhân lực, tạo ra nguồn nhân lực quyết
định cho sự phát triển đất nước trong tương lai, nó gắn liền với mục tiêu chiến
lược phát triển, cơ cấu kinh tế của đất nước...Vì vậy, nếu nhà nước không có
những biện pháp thích hợp để định hướng công tác giáo dục và đào tạo thì sẽ
dẫn đến một cơ cấu đào tạo ngành nghề bất hợp lý ghê gớm, làm trệch hướng
phát triển của đất nước so với các mục tiêu đã đề ra.
1.2.3.4. Các loại hình tổ chức sự nghiệp công trong giáo dục và đào
tạo
Hiện nay các tổ chức sự nghiệp trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo được chia
thành 4 loại hình chủ yếu sau:
(1). Cơ sở giáo dục công lập: Do nhà nước thành lập và được quản lý theo qui
định của pháp luật được nhà nước tài trợ ngân sách để thực hiện các nhiệm

giáo dục và đào tạo trong báo cáo này chỉ giới hạn cho các đơn vị công lập
cung cấp dịch vụ giáo dục-đào tạo hoạt động bằng nguồn ngân sách (toàn bộ
hoặc một phần), cụ thể hơn là các trường công thuộc hệ giáo dục mầm non và
phổ thông, giáo dục dạy nghề và giáo dục đại học.
Khi đất nước đổi mới, nền kinh tế chuyển sang nền kinh tế thị trường
và thực hiện chủ trương đa dạng hóa các loại hình trường thuộc sở hữu ngoài
nhà nước đòi hỏi phải hình thành khung pháp lý cho hoạt động của các tổ
chức công nói riêng và của hệ thống giáo dục nói chung. Trước yêu cầu của
22
thực tế hành lang pháp lý này tuy nhiên ra đời chậm, bắt đầu bằng Luật giáo
dục năm 1998 và hoạt động của các cơ sở công chịu sự điều chỉnh trực tiếp và
chịu ảnh hưởng gián tiếp của nhiều văn bản pháp quy, quan trọng nhất là Luật
giáo dục năm 1998, sau này là Luật giáo dục 2005 và quy định về tự chủ tài
chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu.
The cơ chế hiện hành, tất cả loại hình trường hoạt động trong khuôn
khổ pháp luật và có quyền bình đẳng trước pháp luật. Các cơ sở giáo dục và
đào tạo, không phân biệt loại hình sở hữu, chịu sự quản lý hành chính trực
tiếp hoặc gián tiếp của các cơ quan hành chính nhà nước trung ương và địa
phương phù hợp với chức trách, nhiệm vụ và phạm vi do chính phủ phân cấp.
Trường liên kết-liên doanh với nước ngoài và trường nước ngoài hoạt động có
thể vì mục tiêu lợi nhuận hoặc không vì mục tiêu lợi nhuận. Các cơ sở vì mục
tiêu lợi nhuận hoạt động theo quy định của Nghị định số 06/2000/NĐ-CP,
trong khi cơ sở không vì mục tiêu lợi nhuận hoạt động theo quy định của
Nghị định số 18/2000/NĐ-CP.
Khung pháp lý hiện hành cũng quy định thực hiện phân cấp triệt để về
quản lý đối với các trường công. Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm
chung xây dựng và triển khai thực hiện chính sách trong toàn ngành giáo dục
và đào tạo. Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội có trách nhiệm quản lý hệ
thống các cơ sở dạy nghề. Nếu phân theo loại trường, các cơ sở giáo dục đại
học và một phần chủ yếu giáo dục nghề nghiệp thuộc quyền quản lý của các

và ngày càng phát triển, đáp ứng phần nào nhu cầu ngày càng tăng của người
dân về cáo loại hình dịch vụ giáo dục, y tế, văn hoá, bảo vệ môi trường.v.v.
Theo kết quả đánh giá tại Báo cáo phát triển con người của Liên hợp quốc,
chỉ số phát triển con người HDI của Việt Nam không ngừng được cải thiện và
luôn được xếp hạng cao hơn so với trình độ phát triển kinh tế. Nếu như chỉ số
HDI của Việt Nam năm 1992 mới đạt 0,539 và đứng thứ 120/174 nước thì
đến năm 2000, HDI của Việt Nam là 0,688, đứng thứ 109/173 nước. Năm
2005, HDI của Việt Nam là 0,733, xếp thứ 105/177 nước trong khi xếp hạng
theo chỉ số GDP (theo GDP bình quân đầu người theo ngang giá sức mua-
PPP) cùng năm là 113/177 nước
9.

Những điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân đã
được cải thiện đáng kể trong hai thập kỷ qua. Theo đánh giá của nhiều tổ chức
quốc tế, nước ta đã và đang đạt được những thành tích ấn tượng trong quá trình
thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ (MDG) mà LHQ đã khởi xướng. Theo đó, Việt
Nam sẽ đạt được nhiều chỉ tiêu phát triển của thiên niên kỷ vào thời điểm trước
thời hạn năm 2015 (xem Bảng 2).
9
Báo cáo Phát triển con người 2007/2008 của Liên hợp quốc.
25

Trích đoạn Một số nhìn nhận đánh giá Định hướng đổi mới cơ chế quản lý Một số giải pháp chủ yếu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status