Chuyên đ 1
TỔNG QUAN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN
CA LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN MARKETING
Trong cc giai đoạn ca qu trình pht triển marketing, cc học giả hàng đầu về marketing
đã có cc cch tiếp cận khc nhau trong nghiên cứu ca mình, có thể là theo hàng hóa, theo định
chế, chức năng, thị trường, theo hành vi tiêu dùng, theo quản trị và theo phương diện xã hội.
Wilkie and Moore (2003) đã xc định 4 kỷ nguyên pht triển tư duy marketing:
Thời kỳ I: Đặt nền móng, 1900–1920.
Thời kỳ II: Hình thành ngành, lĩnh vực 1920–1950.
Thời kỳ III: Sự chuyển đổi mô hình - Marketing, Quản trị và Khoa học, 1950–1980.
Thời kỳ IV: Thay đổi mạnh mẽ - Sự phân nhnh, 1980 đến nay.
Về mặt học thuật như đã được phản ảnh trong cc công trình nghiên cứu và cc tc phẩm
từ trên ba thập niên qua (cuối thời kỳ III đến thời kỳ IV), tiếp cận marketing đã dịch chuyển từ
quản trị sang phân tích. Marketing đã đnh mất vai trò quan trọng với tư cch là một chức năng
quản trị trong nhiều doanh nghiệp. Hiện nay hầu hết cc lý thuyết gia hàng đầu về marketing đã
chú trọng đến cch thức định hướng khch hàng, nhấn mạnh quan điểm marketing là xc định,
pht triển và phân phối gi trị cho khch hàng, và xem marketing như là một tiến trình kinh
doanh hơn là một chức năng quản trị phân biệt. Những trường phi mới về quản trị marketing
đang đề cập đến sự chuyển dịch tâm điểm cốt lõi ca marketing từ công ty sang khch hàng, từ
sản phẩm sang dịch vụ và lợi ích, từ giao dịch sang mối quan hệ, từ sản xuất sang cùng sng tạo
gi trị với cc đối tc kinh doanh và khch hàng, và từ cc nguồn lực hữu hình và lao động sang
nguồn lực trí tuệ và vị thế ca công ty trong chuỗi gi trị.
Cch đây hơn 40 năm, những người đặt nấc thang đầu tiên cho khi niệm marketing, với
lòng nhiệt huyết ca người truyền gio, đã đề cao vai trò ca marketing và vị trí trung tâm ca
quản trị marketing trong tất cả cc tổ chức. Peter Drucker, một trong những người khai sinh ra
ngành quản trị hiện đại, đã từng cho rằng “Marketing không chỉ bao quát phạm vi rộng hơn việc
bán ra một sản phẩm, nó cũng không phải là một hoạt động chuyên biệt. Nó là toàn bộ quá trình
kinh doanh xét trên quan điểm kết quả cuối cùng, đó chính là quan điểm của khách hàng”
Trong suốt những năm 60 và 70, cc nhà quản trị đã nhiệt thành theo đuổi khi niệm
marketing đến mức tất cả tổ chức đều bổ sung vào cơ cấu tổ chức ca mình một bộ phận mới có
tên “ bộ phận marketing”. Nhưng người ta đã bỏ qua điểm mấu chốt trong thông điệp ca Peter
tự do bắt nguồn từ thế kỷ 17 và 18, là nền tảng cho học thuyết kinh tế hiện đại sau này. Cc nhà
lý luận ca nền kinh tế tự do cho rằng sự giàu có ca quốc gia và trật tự xã hội tuỳ thuộc vào
năng lực ca c nhân và cc lực lượng cạnh tranh trên thị trường. Đó chính là triết lý xã hội cơ
bản ca Adam Smith, người đã hệ thống ho ch nghĩa kinh tế tự do và được công nhận là cha đẻ
ca cc học thuyết về kinh tế. Trong tc phẩm bước ngoặt ca ông “Tìm hiểu về bản chất và
nguyên nhân sự giàu có của các quốc gia”, Smith cho rằng sự giàu có ca c nhân và xã hội nói
chung bắt nguồn từ việc mỗi c nhân được tự do hành động nhằm pht triển những ý tưởng ca
mình. Trong ấn phẩm đầu tiên ca mình “Lý thuyết về quan điểm đạo đức ” và được lặp lại trong
cuốn “Tìm hiểu về bản chất và nguyên nhân sự giàu có của các quốc gia”, con người tư lợi
thường được dẫn dắt bởi “một bàn tay vô hình mà nếu không có nó, nếu không mong muốn nó ”
thì không thể tạo ra động lực pht triển cho xã hội. Theo đó, Smith đã dựa trên cc khi niệm về
động cơ cố hữu trong tâm lý con người. Ông tin rằng sự cạnh tranh diễn ra như một cơ chế bảo vệ
tính điều hoà ca nền kinh tế và bản thân con người có một mong ước cố hữu là làm cho điều
kiện sống tốt đẹp hơn (một mơ ước từ khi lọt lòng cho đến khi mất đi) do đó sự cạnh tranh giữa
cc nhà sản xuất đã hạ thấp gi cả đến một “mức tự nhiên”. Cuối cùng, Smith tranh cãi rằng bởi
vì mỗi con người luôn có một “thiên hướng buôn bán, đổi chác và trao đổi một vật phẩm nào đó”
do đó họ trở nên phụ thuộc vào nhau. Như vậy, có thể nói qu trình trao đổi được dẫn dắt bởi nhu
cầu và mong muốn ca mỗi c nhân.
Những nhà nhân loại học và xã hội học cũng bị thu hút bởi vai trò trung tâm ca trao đổi
trong đời sống xã hội. Chẳng hạn, Malinowski cho rằng trao đổi tương hỗ đã tạo ra sự liên kết xã
hội trong khi đó Mauss lại nhấn mạnh đến bản chất bắt buộc và ưa chuộng ca quà cp và cc
hình thức trao đổi khc. Blau lại nhắc đến vai trò ca trao đổi như là sự sng tạo nên cc mối
quan hệ quyền lực. Cc nhà nghiên cứu ng hộ lý thuyết trao đổi đã quan niệm ho mối tương tc
xã hội như một sự trao đổi hàng ho hữu hình và vô hình, được sắp xếp từ thức ăn, nhà ở cho đến
sự tn thành và cảm thông trong xã hội.
Sự trao đổi diễn ra trong nền kinh tế và trong xã hội thuộc về một loại lý thuyết nói chung
gọi là “lý thuyết về sự lựa chọn có lý trí”. Nhà xã hội học Wallace và Wolf cho rằng có 4 nhận
định cơ bản chịu tc động bởi lý thuyết về sự lựa chọn có lý trí, bao gồm:
• Cc c nhân đều mong muốn tối đa ho lợi nhuận, về cơ bản họ quyết định dựa trên
mong muốn và những ưu tiên ca mình.
và lĩnh vực marketing bắt đầu được pht triển như một ngành khoa học gần một thế kỷ, người ta
dm chắc rằng những hoạt động marketing phức tạp đã được tiến hành bởi nhiều tổ chức kể từ
thời điểm Cch mạng công nghiệp. Những nhà nghiên cứu lịch sử marketing gồm McKendrick,
Brewer và Plum cho rằng cuộc Cch mạng công nghiệp (bắt đầu từ những năm 1770) đạt được
nhiều thành công bởi qu trình sản xuất và marketing đã được tiến hành song song. Để dẫn chứng
cho điều này, Fullerton đã cho rằng những người đặt nền móng đầu tiên cho thực tiễn sản xuất
như Mathew Boulton và Josiah Wedgewood cũng đồng thời tiên phong cho thực tiễn marketing
hiện đại, họ đã đưa lý thuyết nhu cầu vào cuộc cch mạng sản xuất cc loại sản phẩm rẻ tiền bằng
cch sử dụng cc kỹ thuật marketing, mà những những ấn phẩm về chúng mãi đến năm 1950 mới
được xuất bản tại Hoa Kỳ, như: phân đoạn thị trường, tạo sự khc biệt sản phẩm, định gi ưu thế,
tự làm lỗi mốt, quảng co theo chu kỳ, chiến dịch marketing trực tiếp, hấp dẫn từ nhóm tham
khảo và cc phần thưởng cổ động,
Nửa sau thế kỷ 19, nhiều hoạt động thực tiễn ca marketing hiện đại đã được tiến hành.
Cch sử dụng thương hiệu như một phương tiện để nhận biết đã xuất hiện từ những năm
60 ca thế kỷ 19 (chẳng hạn, P&G đã dùng hai thương hiệu Pears Soap tại Anh và Ivory Soap tại
Hoa Kỳ cho cùng một loại xà phòng).
Cc công ty quảng co cũng ra đời trong thời gian này (tại Anh từ năm 1786 và tại Đức từ
những năm 1850). Năm 1882, P&G đã tiến hành quảng co loại xà phòng nhãn hiệu Ivory một
2
H.R. Tosdal, “Some recent changes in the marketing of consumer goods”, Harvard Business Review, X1, no.2,
January, 1933, p.157.
3
cch có hệ thống. Từ đầu thế kỷ 20, cc công ty quảng co Hoa Kỳ đã bổ sung thêm dịch vụ sng
tạo và thay thế cc quảng co cho khch hàng ca mình và cung cấp cc dịch vụ khc như tư vấn
marketing, thực hiện cc cuộc nghiên cứu thị trường, thiết kế bao bì và sản phẩm Bn hàng c
nhân cũng trở nên phức tạp hơn và hoạt động huấn luyện trong bn hàng đã được thực hiện ở cc
công ty ca Đức trong suốt những năm cuối thế kỷ 19. Đầu thế kỷ 20, cch tiếp cận tương tự
cũng được cc hãng sản xuất ca Hoa Kỳ tiến hành.
Những gì được mô tả như marketing dữ liệu (database marketing) ngày nay thực ra đã
được thực hiện bởi một công ty ca Đức vào năm 1870, Bibliographoisches Institut, họ đã sử
phối. Marketing có vai trò quyết định trong việc hoạch định sản phẩm, kiểm soát chu kỳ
sản xuất và tồn kho cũng như phân phối và dịch vụ cho khách hàng”
3
.
Đây là sự khởi đầu cho việc cổ xuý một triết lý quản trị mới mà sau đó hai năm, Peter
Drucker gọi là “triết lý marketing”. GE đã làm cho quan điểm này trở nên rõ ràng hơn khi tuyên
bố marketing đóng vai trò trung tâm trong tất cả hoạt động kinh doanh ca hãng. Drucker đã xc
nhận lại quan điểm này trong cuốn “Thực tiễn quản trị” và từ đó, hàng loạt cc công ty ở Hoa Kỳ
3
General Electric Company, Annual Report, New York, 1952, p.21
4
đã làm cho nó trở nên phổ biến và rõ ràng hơn, thậm chí đối với cc doanh nghiệp phương Tây,
người ta còn xem nó như một vấn đề kinh doanh cốt lõi. Drucker cho rằng một hãng kinh doanh
có hai mục đích: tạo ra khách hàng và luôn đổi mới. Hơn nữa, ông còn tin rằng vai trò ca quản
trị marketing chính là việc xây dựng một công ty bằng cch tạo ra khch hàng.
“Nếu chúng ta muốn biết chúng ta đang ở lĩnh vực kinh doanh nào, hãy bắt đầu bằng câu
hỏi “ Mục tiêu của nó là gì? Và một mục tiêu phải được dựa trên những gì nằm ngoài bản
thân ngành kinh doanh đó. Trên thực tế, nó phải dựa vào xã hội bởi vì doanh nghiệp là tế
bào của xã hội. Chỉ có một định nghĩa thực sự có giá trị về mục tiêu của doanh nghiệp, đó
chính là việc tạo ra một khách hàng
Chính khách hàng là người quyết định ngành nghề kinh doanh của chúng ta Bởi vì mục
đích này nên bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có hai và chỉ hai chức năng cơ bản:
marketing và đổi mới. Chúng là những chức năng quyết định sống còn
Marketing không chỉ rộng hơn việc bán hàng, nó cũng không phải là một hoạt động
chuyên biệt nào. Nó là toàn bộ quá trình kinh doanh xét trên quan điểm kết quả cuối
cùng, đó chính là quan điểm của khách hàng. Chính vì vậy, mối quan tâm và trách nhiệm
đối với hoạt động marketing phải được lan toả trong tất cả các bộ phận của doanh
nghiệp”
4
.
J.B. McKitterick, “What is the marketing management concept?”, in F.M. Bass (ed.), The Frontiers of Marketing
Thought and Science, American Marketing Association, 1957, p. 71-82.
5
chẳng khác nào một dãy các phòng ban lắp ghép lại trong đó không có bất kỳ sự cảm
nhận thống nhất về mục đích và phương hướng chung”
6
.
Ông chứng minh lời nói trên bằng cch viện dẫn một ví dụ về cc công ty đường sắt ca
Hoa Kỳ. Những công ty này, theo Levitt khẳng định, đã bỏ qua một điều quan trọng rằng họ đang
ở trong một ngành kinh doanh đp ứng nhu cầu vận chuyển ca khch hàng (hành khch và hàng
ho). Cch định nghĩa ngành dựa trên sản phẩm hiện tại đã khiến họ xem khía cạnh công nghệ
mới (mà biểu hiện là loại hình xe tải, xe buýt hay my bay phản lực) là những đối th cạnh tranh
hơn là một phương tiện hiệu quả hơn để thoả mãn nhu cầu khch hàng. Vì thế, trong một thời
gian dài, thay vì bắt kịp công nghệ, cc công ty này lại quay sang chống đối nó và phải gnh chịu
hậu quả nặng nề.
Cũng trong năm đó, Robert Keith, Phó ch tịch Hiệp hội hàng tiêu dùng đồng thời là
Gim đốc ca hãng Pillsbury, đã công bố một bài bo dài 4 trang trên tạp chí Journal of
Marketing về những ảnh hưởng ca lý thuyết “Tật cận thị trong marketing” đối với thế giới kinh
doanh. Hơn 3 thập kỷ, những sinh viên nghiên cứu marketing trên khắp thế giới đã được dạy dỗ
rằng những tư duy quản trị có liên quan đến một vài “kỷ nguyên kinh tế”. Pillsbury đã xuất pht
từ một công ty “định hướng sản phẩm” khi nó bắt đầu hoạt động từ năm 1869. Từ năm 1930 cho
đến 1960, cc nhà quản trị nhận ra rằng khch hàng mới là lực lượng đóng vai trò quan trọng
nhất. Tuy nhiên từ năm 50 đến những năm 60 một sự thay đổi về tư duy xảy ra khi hãng cho rằng
chính marketing mới trực tiếp kiểm sot tất cả cc chức năng khc ca tổ chức. Năm 1960, Keith
tuyên bố một cuộc cch mạng marketing đang diễn ra và cc công ty không còn là trung tâm ca
vũ trụ, chính khch hàng đã thay thế vị trí đó! Keith dự đon Pillsbury đang tiến vào kỷ nguyên
thứ tư ca cuộc cch mạng nơi “marketing sẽ trở thành động lực thúc đẩy căn bản cho tổ chức”
trong đó nhu cầu khch hàng đóng vai trò trung tâm và sự tồn tại ca những kỷ nguyên kinh tế,
như Marion từng nói “trong truờng hợp tốt nhất chúng là giả thiết cho việc tìm kiếm một sự trải
nghiệm, trong trường hợp xấu nhất, chúng chỉ là một sự kiến thiết hoang đường và không thể đại
Từ những năm 60, định nghĩa về marketing càng được bổ sung với sự pht triển ca khi niệm
phối thức marketing (marketing-mix), đặc biệt là mô hình 4P (sản phẩm, gi, phân phối và cổ
động). Bên cạnh đó, vào năm 1958, Kelly và Lazer còn nhấn mạnh đến vai trò ca công tc
hoạch định marketing như là nhiệm vụ quan trọng nhất ca nhà quản trị marketing:
“Hệ thống marketing được thiết kế nhằm phục vụ nhu cầu của khách hàng trong những
công ty hoạt động theo quan điểm marketing. Số phận của một tổ chức có thể được quyết
định bởi những nỗ lực marketing. Một trong những nhiệm vụ chủ yếu nhất của quản trị
marketing chính là việc hoạch định liên tục trong ngắn hạn và dài hạn cho những hoạt
động của công ty và sự phát triển các chiến lược và chiến thuật bắt nguồn từ hệ thống
tích hợp những hành động này”
7
.
4. NHỮNG LỰC LƯỢNG DẪN DẮT SỰ THAY ĐỔI TRONG THẬP NIÊN 80 - 90
Trong phần này chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu những lực lượng làm thay đổi một cch
mạnh mẽ môi trường kinh doanh ca nhiều ngành công nghiệp và là tiền đề ca những thay đổi
trong lĩnh vực marketing.
Quản trị chất lượng toàn diện (TQM)
Tiếp nối sự thành công ca ngành công nghiệp Nhật Bản trong những năm 70 và sự sụp
đổ đồng thời ca ngành công nghiệp Hoa Kỳ, thập niên 80 được đnh dấu bằng việc tìm kiếm
một thực tiễn tốt đẹp hơn đã được Tom Peters và Robert Waterman diễn tả trong cuốn “Đi tìm sự
tuyệt hảo” (In search of Excellence)
8
. Vì thế khi W. Edwards Deming công bố một đoạn phim tài
liệu vào thng 6/1980 về phương thức quản trị chất lượng ca người Nhật, tc phẩm ca ông đã
không gây được tiếng vang lớn. TQM là một trong những nguyên nhân cơ bản tạo ra sự thay đổi
thần kỳ cho nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh thế giới II. Có nguồn gốc từ phương thức kiểm
sot chất lượng bằng thống kê ca Quân đội Hoa Kỳ, từ năm 1946 đến 1950, quy trình TQM
được Deming và những người tiên phong trong lĩnh vực này tại Hoa Kỳ bao gồm Joseph Julien
và Arman Feigenbaum cng cố và chắt lọc lại. Đến cuối những năm 50, cc chuyên gia Nhật Bản
gồm Kaoru Ishikawa, Genichi Taguchi và Shigeo Shingo đã bổ sung và pht triển cc phương
ca đời sống xã hội. Thương mại điện tử hay kinh doanh điện tử đã cho phép tổ chức chia sẻ
thông tin vượt khỏi biên giới ca hãng, do đó định hình lại bản chất ca mối quan hệ với khch
hàng, nhà cung cấp và đối th cạnh tranh. Với sự pht triển nhanh chóng ca Internet và World
Wide Web (www) kể từ năm 1950, cch thức hoạt động, liên lạc, thu thập và chia sẻ thông tin
ca cc tổ chức và c nhân đã thay đổi đng kể. Điều này càng làm gia tăng tầm quan trọng ca
bn hàng điện tử trong kỷ nguyên B2C, sự pht triển và thích nghi nhanh chóng khi niệm
“hoạch định nguồn lực doanh nghiệp” (ERP) - một hệ thống tích hợp liên kết bởi rất nhiều hệ
thống quản trị tài chính, sản xuất, nhân lực, phân phối và đặt hàng trong tổ chức.
Cuộc cách mạng dịch vụ khách hàng
Phong trào dịch vụ khch hàng, mở rộng từ triết lý TQM, đã được phổ biến trong suốt
những năm 80. Tom Peter, một trong những học giả có nhiều đóng góp cho nền học thuật về
quản trị, đã diễn tả khía cạnh dịch vụ khch hàng trong cuốn “Pht đạt trong thời hỗn loạn”
(Thriving on chaos)
9
như sau:
Khách hàng, dù tồn tại ở dạng tinh thần hay bằng xương bằng thịt, cũng ảnh hưởng đến
toàn bộ tổ chức ở mỗi hệ thống, mỗi phòng ban, mỗi quy trình, mỗi cuộc họp, mỗi quyết
định Hãy tạo ra một cuộc cách mạng định hướng khách hàng (mà khách hàng là nỗi ám
ảnh!). Thường xuyên chú ý đến những sắc thái nhỏ nhất trong mỗi chương trình qua cặp
mắt của khách hàng, đó chính là cách khách hàng cảm nhận nó. Hãy chiến thắng sự thay
đổi bằng sự giúp đỡ của khách hàng, họ không phải là những người bảo vệ cho tính bền
vững bên trong tổ chức chúng ta mà thực sự là những thành viên hợp tác mới trong mỗi
chức năng của tổ chức.
Trong suốt thập niên 80, việc đo lường sự thoả mãn ca khch hàng đã trở nên phổ biến
trong hầu hết cc tổ chức. Trong khoảng 10 năm (từ 1980 đến 1990), trên 15000 bài viết học
thuật được đăng trên cc tạp chí kinh doanh về ch đề này và lĩnh vực điều tra sự thoả mãn ca
khch hàng đã pht triển nhanh chóng trong ngành nghiên cứu thị trường.
Hệ thống quản trị tồn kho Just-in-time (JIT)
Có xuất xứ từ chữ “kanban” trong tiếng Nhật, hệ thống quản trị tồn kho đã được cc công
ty Hoa Kỳ, khởi đầu là cc hãng sản xuất ôtô, đưa vào sử dụng từ đầu những năm 1980. Mục
mang đến cho cc nhà làm marketing khả năng pht triển cc mối quan hệ học tập (learning
relationship) với khch hàng mà không cần hình thành bộ phận công nghệ thông tin và những
phương tiện để phân biệt giữa nhu cầu ca khch hàng và gi trị ca tổ chức. CRM, hay còn gọi
là marketing được phép (permission marketing), cũng cung cấp cho tổ chức một khả năng tương
tc trực tiếp và đưa yêu cầu ca khch hàng vào sản phẩm và dịch vụ ca mình một cch c nhân
ho. Sự ra đời ca CRM đến lượt nó đã kéo theo sự hình thành một khi niệm mới – chuyên biệt
hóa khối lượng lớn (mass customisation) – sản xuất khối lượng lớn những sản phẩm và dịch vụ
theo nhu cầu riêng biệt ca khch hàng.
Sự phát triển của liên minh chiến lược và mạng lưới quan hệ
Cc nhà kinh doanh Hoa Kỳ, trong qu trình tìm kiếm con đường thành công, đã tiếp thu
một mô hình khc ca người Nhật gọi là zaibatsu. Được xem là một trong những phương tiện
giúp người Nhật đnh bại nền công nghiệp Hoa Kỳ, đặc biệt là ngành sản xuất ôtô, zaibatsu có
liên quan đến việc hình thành một hệ thống công ty theo kiểu gia đình do một công ty mẹ nắm
quyền kiểm sot duy nhất, thông thường là một ngân hàng. Hệ thống JIT, được thúc đẩy bởi
phong trào kiểm sot chất lượng trong sản xuất và cung ứng, ngày càng nhấn mạnh vào tính
tương tc giữa người mua - người bn và nhu cầu biến cc tổ chức thành những c thể năng động
và phản ứng nhanh chóng với sự thay đổi ca môi trường cạnh tranh, tất cả đã dẫn dắt sự ra đời
ca cc hình thức tổ chức mới. Liên minh chiến lược là sự liên kết giữa tổ chức với nhà cung cấp,
nhà bn lẻ (hay khch hàng) và những hãng chuyên sản xuất/cung ứng một loại hàng ho hay
dịch vụ nào đó. Trong nhiều trường hợp, liên minh chiến lược có thể được hình thành giữa cc
đối th cạnh tranh, chẳng hạn như Ford và Mazda, General Motors và Toyota, Apple và IBM.
Đặc điểm ca liên minh chiến lược là sự chia sẻ mục tiêu và cam kết sử dụng chung nguồn lực
ca cc bên. Một hình thức khc ca liên minh chiến lược là liên doanh, trong đó một hãng mới
được tạo ra tồn tại vĩnh viễn hay trong một thời gian, chẳng hạn như tham gia vào một dự n
9
nghiên cứu và pht triển (R&D). Mạng lưới quan hệ (networks) là sự liên kết giữa những tổ chức
liên minh chiến lược tại đó mỗi bên nắm giữ một chức năng hay bí quyết chuyên môn nào đó.
Với sự ra đời ca liên minh chiến lược và mạng lưới quan hệ, cc hình thức quản trị truyền thống
dần bị xo bỏ, người ta dành sự chú ý vào cch thức quản trị cc mối quan hệ giữa cc bên khc
nhau hơn là việc hình thành cơ chế thứ bậc. Điều này dẫn đến sự thay đổi trong cấu trúc tổ chức
và toàn bộ thập niên 70, hoạch định chiến lược giữ vai trò thống trị trong thực tiễn quản trị tại
Hoa Kỳ. Nó trở thành một quy trình trung tâm đầu não trong hệ thống cc tập đoàn lớn Hoa Kỳ
và là sự phc hoạ rõ ràng giữa giai đoạn hình thành và thực thi chiến lược. Những nhà hoạch định
chịu trch nhiệm đưa ra cc quyết định chiến lược trong khi cc nhà quản trị chức năng không
được tham gia quy trình này, thay vào đó họ chịu trch nhiệm thực thi cc kế hoạch chiến lược.
Tuy nhiên marketing không được miễn trừ trch nhiệm và trong nhiều trường hợp, cc quyết định
marketing cấp cao hơn được đưa ra bởi cc nhà hoạch định chiến lược cấp cao hơn là từ cc nhà
quản trị marketing ở cc đơn vị kinh doanh chiến lược (SBUs). Ngay từ đầu thập niên 80, một số
tổ chức đã hăng hi tiếp cận khi niệm này trong những năm 70, bắt đầu nhận ra tính đúng đắn
ca câu châm ngôn “Chứng liệt vì phân tích” (Paralysis by analysis). Trong nhiều trường hợp
hoạch định chiến lược có thể gây thêm rắc rối, lãng phí thời gian và khiến cho hãng xa rời thực tế
10
kinh doanh ca mình. Những công ty hoạch định chiến lược thành công như General Electric bắt
đầu cắt giảm bộ phận hoạch định và đẩy trch nhiệm này sang cc đơn vị hoạt động kinh doanh.
Trong khi đó, khi niệm quản trị chiến lược có liên quan đến việc bổ sung quy trình thực thi
chiến lược và kiểm sot chiến lược vào 4 giai đoạn ca quy trình hoạch định, bao gồm: hình
thành mục tiêu, phân tích môi trường, hình thành chiến lược và đnh gi cc giải php chiến lược.
Sự nhấn mạnh vào vai trò của chiến lược cạnh tranh
Nhìn chung, lĩnh vực hoạch định và quản trị chiến lược chiếm vị trí thống trị trong cc tc
phẩm ca M.Porter, gio sư tại Trường Kinh doanh Harvard, trong suốt những năm 80. Cc khi
niệm do Porter đưa ra như lợi thế cạnh tranh (trong chiến lược cạnh tranh chung), phân tích
ngành (trong mô hình 5 lực lượng cạnh tranh) và chuỗi giá trị là sự đóng góp vô cùng ý nghĩa
cho tư duy quản trị trong thập niên này và những năm tiếp theo ca thập niên 90. Sau đó, Kotler
và Singh, vào năm 1982, đã phổ biến quan điểm đánh bại đối thủ cạnh tranh trong cc chiến lược
marketing dựa trên cc nguyên tắc ca chiến tranh quân sự. Thuật ngữ này tiếp tục được những
chiến lược gia kinh doanh và marketing là Al Ries và Jack Trout phổ biến từ việc nghiên cứu cc
bài học ca cc nhà chiến lược quân sự nổi tiếng trong lịch sử như nhà sử học quân sự người Anh
B. Liddell Hart (1895-1970), Carl von Clausewitz (1780-1831) và Tôn Tử (thế kỷ 5 TCN).
Tài sản thương hiệu
Thập niên 80 đnh dấu bằng sự nhận diện vai trò ca thương hiệu trong nền kinh tế nói
hướng thị trường và năng lực vượt trội cho tổ chức. Đây là giai đoạn mà cc ch đề như “Định
hướng thị trường là gì?” hay “Sự ti pht hiện khi niệm marketing” xuất hiện thường xuyên
trong ngôn ngữ ca giới làm marketing. Từ sau năm 1980 đến đầu năm 1990, điều này đã làm
dấy lên sự quan tâm ca cc nhà nghiên cứu trong việc tìm ra mối liên hệ giữa sự thực thi cc
khi niệm marketing với việc cải thiện hoạt động ca tổ chức. Cc bài viết ca Narver, Slater,
Kohli và Jaworski đã thúc đẩy sự pht triển ca cc tài liệu về marketing dưới ci tên “định
hướng thị trường” hay nói như Webster là “một khi niệm marketing mới” và Day là “cc tổ
chức được dẫn dắt bởi thị trường”. Cho dù được gắn với ci tên nào thì cch tiếp cận mới cũng
nhấn mạnh vào khía cạnh người mua (định hướng khch hàng) và những người bn khc (định
hướng đối th cạnh tranh) hơn là mô tả một sự tập trung vào chức năng hay quy trình hoạt động
ca cc phòng ban marketing. Narver và Slater đã khi qut ho “định hướng thị trường là một
chiều hướng bao gồm ba nhân tố thuộc về hành vi và hai điều kiện quyết định đó là: định hướng
khch hàng, định hướng đối th cạnh tranh, sự phối hợp cc chức năng trong tổ chức, một tầm
nhìn dài hạn và một mục tiêu sinh lợi ” Kohli và Jaworski chỉ ra ba nhân tố ca định hướng thị
trường bao gồm: sự hình thành, phổ biến và phản ứng với sự hiểu biết. Họ cho rằng tính ưu tiên
ca định hướng thị trường trong tổ chức nằm ở chỗ, chúng thuộc về những nhân tố quản trị cấp
cao (thể hiện qua khả năng cng cố một định hướng thị trường trong tổ chức ca nhà quản trị cấp
cao), là sự linh hoạt giữa cc bộ phận và những hệ thống trong tổ chức (bao gồm cấu trúc, hệ
thống ra quyết định, giao tiếp và tưởng thưởng).
Thuật ngữ định hướng thị trường được ng hộ bởi Narver, Slater, Kohli và Jaworski, đã
tạo động lực cho việc quan tâm nghiên cứu về trch nhiệm ca marketing trong tổ chức. Vì thế,
khi niệm định hướng thị trường cung cấp một quy trình:
• Xc định rõ tính chất có thể đo lường được ca marketing
• Quyết định liệu một tổ chức có phải theo định hướng thị trường hay không
• So snh khả năng thực thi ca một tổ chức được định hướng thị trường với những tổ
chức không được định hướng.
Những tổ chức định hướng thị trường không chỉ hướng về khch hàng mà còn hướng về
thị trường. Do đó chúng vừa định hướng khch hàng vừa định hướng đối th cạnh tranh. Hơn
nữa, cc tổ chức này nhấn mạnh vào nhu cầu cung cấp những gi trị vượt trội cho khch hàng. Có
thể xem xét cch thức cc tổ chức được định hướng dựa vào mô hình 3C dưới đây:
định hướng thị trường – là sự chia sẻ hiểu biết và ý tưởng giữa cc thành viên trong tổ chức. Cc
chiến lược, cấu trúc và quy trình phải được đặt vào vị trí tạo động lực cho việc cung cấp gi trị
đến khch hàng. Đó là sự kết hợp rất nhuần nhuyễn những kiến thức, quy trình và cc công cụ
marketing như: marketing nội bộ, dịch vụ khch hàng, cc chương trình quản trị mối quan hệ và
sự thoả mãn khch hàng.
6. TƯƠNG LAI CA MARKETING
Với hàng loạt những thay đổi diễn ra trong thập niên 90, thật không ngạc nhiên khi biết
rằng cc nhà nghiên cứu học thuật và thực tiễn marketing vẫn còn tranh cãi về tương lai ca
marketing. Trong khi niệm định hướng thị trường, trch nhiệm ca cc hoạt động marketing
không chỉ thuộc về cc bộ phận marketing hay cấp chức năng nào đó mà thuộc về toàn thể cc
cấp ca tổ chức. Quan điểm này được Drucker, Levitt và những học giả khc ng hộ khi cho rằng
marketing cần được xem là một triết lý kinh doanh và không thể là một chức năng riêng biệt
trong ngành kinh tế. Hay nói cch khc, chúng ta nên xem marketing là một quy trình mang tính
tổng thể ca tổ chức.
Tuy nhiên, để đưa triết lý này vào thực tiễn là một công việc không dễ dàng. Thập niên 90
là khoảng thời gian cc công ty ra sức ti cấu trúc bằng cch thay thế hoặc bổ sung cc nhóm
hoạt động đa chức năng vào những “chức năng” (phòng ban) ca mình. Một số hãng hình thành
cc kiểu cấu trúc ma trận trong đó nhân viên phải bo co lên cùng lúc nhiều nhà quản trị thay vì
một gim đốc phòng ban như trước đây. Những người làm marketing trong cc cấu trúc này đòi
hỏi phải pht triển cc kỹ năng quản trị mới bên cạnh những kỹ năng chức năng như trước đây.
Cùng lúc đó, quy trình hình thành và thực thi chiến lược cũng được chuyển đổi trong
nhiều tổ chức. Cc nhà quản trị cấp cao (cấp công ty) và cấp đơn vị kinh doanh (cc SBU) chịu
trch nhiệm lớn hơn trong việc hình thành chiến lược trong khi trch nhiệm thực thi những chiến
lược này được uỷ nhiệm cho cc cấp hoạt động chức năng trong tổ chức như marketing, tài chính,
nhân sự và sản xuất. Những cân nhắc trong cc tình huống khc nhau, thường được xem là trch
nhiệm ca quản trị marketing như phân đoạn thị trường, xc định mục tiêu và định vị trở thành
công việc ca nhà quản trị cấp cao ở cấp đơn vị kinh doanh. Vai trò ca bộ phận marketing mang
13
tính tc nghiệp hơn với trch nhiệm thực thi cc chiến lược do cấp trên đưa xuống. Mục tiêu ch
yếu ca nhân viên marketing là pht triển và thực hiện cc chiến lược marketing-mix.
b. Nhu cầu cấp thiết, mong muốn và nhu cầu
Nhu cầu cấp thiết ca con người biểu hiện bằng trạng thi thiếu hụt, bao gồm những nhu
cầu vật chất đối với thực phẩm, quần o, sự ấm p và an toàn, những nhu cầu xã hội về sự thừa
nhận và tình cảm và nhu cầu cá nhân về hiểu biết và sự tự thể hiện. Những nhu cầu này không
được tạo ra bởi những người làm marketing, chúng là một phần cơ bản ca con người.
Mong muốn là hình thức biểu hiện ca nhu cầu cấp thiết ca con người được định hình
bởi văn hóa và c tính ca mỗi người. Mong muốn được định hình bởi xã hội và được mô tả bằng
những thứ cụ thể có thể thỏa mãn nhu cầu cấp thiết.
Mong muốn được đảm bảo bởi sức mua sẽ là nhu cầu. Với mong muốn và nguồn lực ca
mình, con người có nhu cầu về những sản phẩm chứa đựng những lợi ích có thể đem lại cho họ
nhiều gi trị và sự thỏa mãn nhất.
c. Các cung ứng marketing: sản phẩm, dịch vụ và kinh nghiệm
14
Cc công ty tiếp cận nhu cầu ca khch hàng bằng cch đưa ra những gi trị, là tập hợp
cc lợi ích mà họ cam kết nhằm thỏa mãn nhu cầu ca khch hàng. Cc gi trị được thực hiện
thông qua cc cung ứng marketing, là một số kết hợp cc sản phẩm, dịch vụ, thông tin và kinh
nghiệm cống hiến cho thị trường nhằm thỏa mãn nhu cầu cấp thiết hoặc mong muốn ca khch
hàng. Cc cung ứng marketing không hạn chế ở những sản phẩm vật chất. Thật vậy, ngoài sản
phẩm hữu hình, cc cung ứng marketing còn bao gồm những dịch vụ, hoạt động hoặc lợi ích
được cung ứng trong việc bn hàng, ch yếu là vô hình và không đem lại sự sở hữu một vật cụ
thể nào. Ví dụ, dịch vụ ngân hàng, hàng không, khch sạn, dịch vụ tư vấn thuế và dịch vụ sửa
chữa nhà cửa. Một cch rộng hơn, những cung ứng marketing còn bao gồm những thực thể khc
như con người, nơi chốn, tổ chức, thông tin và ý tưởng.
Nhiều người bn đã sai lầm khi qu chú trọng đến những sản phẩm cụ thể mà họ cung
ứng thay vì vào những lợi ích và kinh nghiệm mà sản phẩm này mang lại cho khch hàng. Họ tự
xem mình là người bn sản phẩm hơn là người cung ứng một giải php cho nhu cầu ca khch
hàng. Một nhà sản xuất my khoan nghĩ rằng người tiêu dùng cần một ci khoan. Nhưng nhu cầu
thật sự ca người tiêu dùng là một ci lỗ trên một vật nào đó. Những người bn này có thể đã bị
chứng thiển cận marketing. Họ đã qu quan tâm đến sản phẩm ca mình, do đó chỉ tập trung vào
mong muốn hiện tại và mất đi cơ hội nhận ra nhu cầu thật sự ca khch hàng. Họ quên rằng sản
lớn hơn gi trị kỳ vọng, khch hàng sẽ thỏa mãn và ngược lại. Sự hài lòng ca khch hàng có tc
động quan trọng lên hành vi mua tương lai ca khch hàng. Những khch hàng hài lòng sẽ mua
lại và truyền miệng với những người khc về kinh nghiệm tốt ca mình. Ngược lại, những khch
hàng không hài lòng thường sẽ đến với đối th cạnh tranh và chê bai sản phẩm ca công ty với
những người khc.
Người làm marketing phải cẩn thận trong việc xây dựng mức độ kỳ vọng ca khch hàng.
Nếu xây dựng một mức kỳ vọng qu thấp, có thể sẽ thỏa mãn được khch hàng một cch dễ dàng
nhưng sẽ khó khăn trong việc lôi kéo khch hàng về với công ty. Tuy nhiên, nếu đẩy kỳ vọng ca
khch hàng lên qu cao thì sẽ khó có thể thỏa mãn khch hàng. Chúng ta phải nhìn nhận rằng gi
trị dành cho khch hàng và sự thỏa mãn ca họ là những nền tảng cơ bản để pht triển và quản lý
quan hệ khch hàng.
e. Trao đổi và giao dịch
Marketing xuất hiện khi con người quyết định thỏa mãn nhu cầu và mong muốn ca mình
thông qua trao đổi. Chúng ta sẽ tìm hiểu khi niệm cốt lõi này.
Trao đổi là hành động có được thứ mà mình muốn từ một người khc bằng cch trao lại
cho họ một thứ gì đó. Trao đổi chỉ là một trong bốn cch để con người có được thứ mà mình
mong muốn. Con người có thể tự sản xuất ra sản phẩm hoặc dịch vụ, đó là trường hợp con người
săn bắt, hi lượm hoặc trồng trọt để tự thỏa mãn nhu cầu ca mình. Cch thứ hai là con người có
thể sử dụng sức mạnh để có được sản phẩm, khi họ cướp đoạt hoặc ăn trộm ca người khc. Con
người cũng có thể thỉnh cầu người khc, điều này diễn khi một người vô gia cư đi xin thức ăn. Và
cuối cùng con người có thể cung ứng sản phẩm, dịch vụ hoặc tiền để đổi lại thứ mà mình muốn
với người khc.
Trao đổi là một khi niệm cốt lõi ca marketing, đề cập việc có được sản phẩm mong
muốn từ người khc bằng cch cung ứng lại một thứ gì đó. Để trao đổi diễn ra, phải thỏa mãn
năm điều kiện:
- Có ít nhất hai bên
- Mỗi bên có thứ gì đó có gi trị đối với đối tc
- Mỗi bên có thể truyền thông và vận chuyển hàng hóa
- Mỗi bên tự do chấp nhận hoặc từ chối trao đổi
- Mỗi bên tin rằng hoàn toàn chích đng và tự nguyện tham gia trao đổi với bên kia.
cung ứng những sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao ở mức gi phải chăng qua thời gian.
Marketing quan hệ xây dựng cc mối quan hệ xã hội, kinh tế và kỹ thuật chặt chẽ giữa cc đối
tc. Marketing giúp cắt giảm chi phí và thời gian giao dịch. Trong hầu hết cc kinh doanh thành
công, cc giao dịch dịch chuyển từ việc thương lượng mỗi giao dịch sang cch làm theo thông lệ.
Kết quả cuối cùng ca marketing quan hệ là xây dựng tài sản độc đo ca công ty được
gọi tên là mạng lưới marketing. Mạng lưới marketing bao gồm công ty và cc bên hữu quan
(khch hàng, đội ngũ nhân viên, cc nhà cung ứng, cc nhà phân phối, cc nhà bn lẻ, cc hãng
quảng co,…) mà công ty xây dựng mối quan hệ cùng có lợi với họ. Cạnh tranh ngày càng không
phải giữa cc công ty mà giữa cc mạng lưới marketing, và phần thưởng sẽ thuộc về công ty nào
xây dựng được mạng lưới tốt hơn. Nguyên tắc vận hành rất đơn giản: xây dựng mạng lưới hiệu
quả cc mối quan hệ với cc bên hữu quan quan trọng và lợi ích sẽ xuất hiện.
g. Kênh marketing và chuỗi cung cấp
Kênh marketing
Để tiếp cận với thị trường mục tiêu, cc nhà làm marketing sử dụng ba loại kênh
marketing. Người làm marketing sử dụng cc kênh truyền thông để chuyển tải và nhận cc thông
điệp từ cc khch hàng mục tiêu. Chúng bao gồm bo chí, tạp chí, radio, tivi, thư tín, điện thoại,
bản thông bo, panô, quảng co di động, CDs, ghi âm và Internet. Ngoài những kênh này, truyền
thông còn được chuyển tải bằng thể hiện thân thể và o quần, trang trí cửa hàng bn lẻ, và nhiều
phương tiện khc. Cc nhà làm marketing sử dụng ngày càng nhiều cc kênh đối thoại trực tiếp
(thư điện tử và số điện thoại miễn phí) nhằm bù đắp cho cc kênh truyền thông một chiều thông
thường (ví dụ quảng co).
Cc nhà làm marketing sử dụng cc kênh phân phối để phân phối hoặc vận chuyển cc
sản phẩm hữu hình hoặc dịch vụ đến người mua hoặc người sử dụng. Có cc kênh phân phối vật
chất và cc kênh phân phối dịch vụ. Chúng bao gồm nhà kho, cc phương tiện vận chuyển và
nhiều kênh thương mại như nhà phân phối, nhà bn sỉ và cc nhà bn lẻ. Nhà làm marketing cũng
sử dụng cc kênh bán hàng để tc động cc giao dịch với cc khch hàng tiềm năng. Kênh bn
hàng bao gồm không chỉ cc nhà phân phối và bn lẻ mà còn ngân hàng và cc công ty bảo hiểm
17
hỗ trợ cho giao dịch. Cc nhà làm marketing rõ ràng phải đối mặt với vấn đề thiết kế bằng cch
lựa chọn phối thức truyền thông, phân phối và bn hàng tốt nhất cho cc cung ứng ca mình.
với tất cả cc nhà sản xuất xe hơi khc.
3. Cạnh tranh về hình thức sản phẩm: công ty sẽ xem cc đối th cạnh tranh ca mình là
tất cả cc công ty sản xuất những sản phẩm cùng cung ứng một dịch vụ cho khch hàng.
Wolkswagen sẽ xem mình là đối th cạnh tranh với không chỉ những nhà sản xuất xe hơi
mà còn với cc nhà sản xuất xe gắn my, xe đạp và xe tải.
4. Cạnh tranh chung: công ty sẽ xem cc đối th cạnh tranh ca mình là tất cả những công
ty cạnh tranh vì túi tiền ca cùng đối tượng khch hàng. Wolkswagen sẽ xem mình là đối
th cạnh tranh với cc công ty bn những sản phẩm tiêu dùng bền quan trọng, cc dịch vụ
du lịch nước ngoài và nhà mới.
Môi trường marketing
18
Cạnh tranh chỉ là một lực lượng ca môi trường trong đó cc nhà làm marketing vận
hành. Môi trường marketing bao gồm môi trường tc nghiệp (môi trường vi mô) và môi trường
rộng hơn (môi trường vĩ mô).
Môi trường tc nghiệp bao gồm cc nhân tố trực tiếp liên quan đến việc sản xuất, phân
phối và cổ động cho cc cung ứng. Cc nhân tố quan trọng trong môi trường này bao gồm công
ty, cc nhà cung ứng, cc nhà phân phối, cc tổ chức môi giới và khch hàng mục tiêu. Gộp trong
nhóm cc nhà cung ứng là cc nhà cung ứng nguyên vật liệu và cc nhà cung ứng cc dịch vụ
như cc hãng nghiên cứu marketing, cc hãng quảng co, ngân hàng và cc công ty bảo hiểm, cc
công ty vận chuyển và viễn thông. Gộp chung trong nhóm cc nhà phân phối và môi giới là cc
hãng, cc nhà môi giới, cc đại diện ca công ty và những đối tc khc hỗ trợ cho việc tìm kiếm
và bn hàng đến khch hàng.
Môi trường vĩ mô bao gồm cc nhân tố: môi trường nhân khẩu học, môi trường kinh tế,
môi trường tự nhiên, môi trường công nghệ, môi trường php luật-chính trị và môi trường văn
hóa xã hội. Môi trường này bao gồm những lực lượng có tc động quan trọng lên cc nhân tố
trong môi trường tc nghiệp (môi trường vi mô). Cc công ty kinh doanh phải quan tâm đến cc
xu hướng và sự pht triển trong những môi trường này và có những điều chỉnh định kỳ chiến
lược marketing ca mình.
i. Phối thức marketing
Những người làm marketing sử dụng nhiều công cụ nhằm khơi dậy những đp ứng mong
Kích cỡ
Dịch vụ
Bảo hành
Sản phẩm
Sự đa dạng
Chất lượng
Thiết kế
Đặc tính
Nhãn hiệu
Bao bì
Kích cỡ
Dịch vụ
Bảo hành
Giá
Gi niêm yết
Chiết khấu
Bớt gi
Kỳ hạn trả tiền
Điều khoản tín
dụng
Giá
Gi niêm yết
Chiết khấu
Bớt gi
Kỳ hạn trả tiền
Điều khoản tín
dụng
TTCĐ
Khuyến mãi
Quảng co
Đặc biệt, công ty có thể thay đổi gi, qui mô lực lượng bn và chi tiêu cho quảng co
trong ngắn hạn, nhưng chỉ có thể pht triển sản phẩm mới và thay đổi cc kênh phân phối trong
dài hạn.
Hình 1.3: Chiến lược phối thức marketing
Cần lưu ý rằng với cả hai cch tiếp cận trên, bốn công cụ ca phối thức marketing thể
hiện ci nhìn từ phía người bn đối với cc công cụ marketing nhằm tc động lên người mua. Từ
quan điểm ca người mua, mỗi công cụ marketing được thiết kế nhằm cung ứng lợi ích cho
khch hàng. Robert Lauterborn
11
gợi ý bốn P ca người bn tương ứng với 4C ca người mua.
4 Ps 4 Cs
Sản phẩm Giải php cho khch hàng
Gi Chi phí ca khch hàng
Phân phối Sự tiện lợi (convenience)
TTCĐ Truyền thông (communication)
Những công ty thành công sẽ là những công ty có thể đp ứng được nhu cầu ca khch
hàng một cch kinh tế và tiện lợi và với cc công cụ truyền thông hiệu quả.
Rõ ràng đến đây chúng ta nhận thức được một vấn đề quan trọng là marketing cần đến
những mô hình tiếp cận phối hợp một cch rõ ràng và xc đng hơn với môi trường quản trị hiện
đại, với lập luận cốt lõi về marketing: định hướng khch hàng và việc cung ứng gi trị phải chiếm
vị trí trung tâm trong công ty nếu công ty muốn tối đa hóa gi trị trong dài hạn cho những người
sở hữu nó, những bên liên quan khc và đặc biệt cc đối tc trong tiến trình cung ứng gi trị. Vì
vậy, để đưa ra một cch tiếp cận đúng đắn và phù hợp cho lĩnh vực marketing kinh doanh, cần
thiết phải tích hợp một cch hài hòa marketing chiến lược vào quản trị marketing.
8. QUẢN TRỊ MARKETING: NỀN TẢNG VÀ CÁC TRIỂT LÝ
Chúng ta định nghĩa quản trị marketing như một nghệ thuật và khoa học trong việc lựa
chọn cc thị trường mục tiêu và xây dựng mối quan hệ sinh lợi với chúng. Điều đó có nghĩa quản
11
Robert Lauterborn, New Marketing Litany: 4P’s Passe; C-Words Take Over, Advertising Age, October 1, 1990,
p.26.
cầu, có nhu cầu nhưng không đều hoặc qu nhiều nhu cầu. Quản trị marketing phải tìm những
cch thức để xử lý những tình trạng nhu cầu khc nhau này. Có thể có trường hợp không chỉ tìm
và làm tăng nhu cầu mà còn là thay đổi hoặc thậm chí giảm nhu cầu.
Chẳng hạn, Golden Gate Bridge đôi khi phải tải một lượng lưu thông qu lớn đến mức
không an toàn và Công viên quốc gia Yosemite đã qu tải trong mùa hè. Những người có trch
nhiệm ở những địa điểm này phải tìm cch giảm số lượng nhu cầu đối với những dịch vụ này
nhằm đảm bảo an toàn và chất lượng dịch vụ. Cc doanh nghiệp lớn đôi khi khó khăn trong việc
đp ứng nhu cầu trong những giai đoạn đỉnh cao. Trong những tình huống nhu cầu qu tải thì de-
marketing có thể phải được sử dụng để giảm số lượng khch hàng hoặc để thay đổi nhu cầu một
cch tạm thời hoặc vĩnh viễn. Do vậy, quản trị marketing tìm cch tc động đến loại khch hàng
phục vụ cũng như mức độ, thời điểm và bản chất ca nhu cầu ca khch hàng theo cch giúp tổ
chức đạt được cc mục tiêu ca mình. Một cch đơn giản, có thể nói quản trị marketing là quản
trị khch hàng và quản trị nhu cầu.
b. Các triết lý quản trị marketing
Cốt lõi ca quản trị marketing là định hướng vào khch hàng và cụ thể hơn là tạo ra gi trị
cho khch hàng. Chúng ta thống nhất rằng quản trị marketing là nhằm tạo ra những mối quan hệ
có lợi với cc khch hàng mục tiêu. Vậy những triết lý nào dẫn dắt cc nỗ lực marketing ca cc
doanh nghiệp? Nên cân nhắc như thế nào để phân chia tầm quan trọng cho cc lợi ích ca tổ
chức, khch hàng và xã hội? Thường thì những lợi ích này mâu thuẫn với nhau và cần có một
triết lý, một quan điểm định hướng.
Triết lý sản xuất
Triết lý này cho rằng khch hàng sẽ yêu thích những sản phẩm sẵn có và có đ khả năng.
Do vậy, việc quản trị phải tập trung vào việc cải thiện tính hiệu quả ca sản xuất và phân phối.
Triết lý này là một trong những định hướng xuất hiện sớm nhất.
Quan điểm sản xuất vẫn còn là một quan điểm hữu ích trong hai trường hợp đặc trưng: 1)
khi nhu cầu về sản phẩm vượt qu khả năng cung ứng, và quản trị nên tìm cch tăng cường sản
xuất; 2) khi chi phí ca sản phẩm là qu cao và năng suất sản xuất được cải thiện là yếu tố cần
thiết để cắt giảm chi phí. Chẳng hạn, quan niệm ca Henry Ford là thực hiện hoàn hảo việc sản
xuất Model T, vì thế chi phí ca nó có thể giảm và nhiều người có thể mua xe hơi ca công ty.
Mặc dầu hữu ích trong một số trường hợp, triết lý sản xuất có thể dẫn đến sự thiển cận về
hiểu biết nhu cầu, mong muốn ca thị trường mục tiêu và cung ứng sự hài lòng theo mong muốn
ca khch hàng tốt hơn cc đối th cạnh tranh. Với quan điểm marketing, tập trung vào khch
hàng và gi trị dành cho khch hàng là con đường để đạt được lợi nhuận và doanh số.
Khc với quan điểm sản xuất và bn hàng chú trọng vào sản phẩm, quan điểm marketing
là một triết lý cảm nhận và đp ứng hướng vào khch hàng. Nó xem marketing không chỉ “gặt
hi” mà còn là “nuôi dưỡng” nhu cầu. Công việc ca marketing không chỉ tìm đúng khch hàng
cho sản phẩm ca mình mà còn cung ứng đúng sản phẩm cho khch hàng. Như lời ca một người
làm marketing trực tiếp Lester Wunderman “Thnh ca trong thời đại công nghiệp ca cc nhà sản
xuất là: Tôi làm ra những sản phẩm này đây, bạn có vui lòng mua nó không? Trong khi đó, ở thời
đại thông tin, cc khch hàng lại hỏi: Tôi muốn những thứ này, có ai làm ra chúng không?”
Trong hình 1.4 chúng ta so snh triết lý bn hàng và triết lý marketing. Triết lý bn hàng
lấy tầm nhìn từ trong ra ngoài. Nó bắt đầu với xí nghiệp sản xuất, chú trọng vào những sản phẩm
hiện có ca công ty và kêu gọi để bn được nhiều hàng và cổ động để đạt được doanh số bn có
lãi. Nó tập trung ch yếu vào việc chinh phục khch hàng, đạt được doanh số trong ngắn hạn mà
ít quan tâm đến ai là người mua và tại sao họ mua sản phẩm.
Ngược lại, triết lý marketing có một tầm nhìn từ ngoài vào trong. Như Herb Kellerher,
một Tổng gim đốc điều hành ca Southwest Airlines đã nói : “Chúng tôi không có bộ phận
marketing mà chúng tôi có Bộ phận khch hàng” Triết lý marketing bắt đầu với thị trường được
xc định rõ, tập trung vào nhu cầu khch hàng và tích hợp tất cả cc hoạt động marketing tc
22
động đến khch hàng. Ngược lại, nó sẽ đem lại lợi nhuận bằng cch tạo ra mối quan hệ khch
hàng trong dài hạn dựa trên gi trị và sự hài lòng cho khch hàng.
Hình 1.4 : Các nhân tố của giá trị cung ứng cho khách hàng
Điểm khởi đầu Trọng tâm Công cụ Điểm kết thúc
Nhà máy Sản phẩm Bán hàng và cổ động
Lợi nhuận thông qua qui mô
doanh thu
(a) Triết lý bán hàng
Thị trường mục
tiêu
sử dụng buộc phải gia cố lại nhà của họ.
Hiểu được nhu cầu và mong muốn ca khch hàng không phải luôn đơn giản. Một số
người tiêu dùng cần những thứ mà họ không hoàn toàn ý thức được. Hoặc họ không thể điều phối
những nhu cầu này. Hoặc họ sử dụng những từ ngữ không rõ nghĩa và cần có một sự thuyết minh
mới có thể hiểu đúng. Chẳng hạn, nên hiểu như thế nào khi khch hàng tìm kiếm một “chiếc xe
không qu đắt”, một “my xén cỏ mạnh”, một “my tiện nhanh”, một bộ đồ tắm “hấp dẫn” hoặc
một phòng khch sạn “thư giãn”?
23
Chúng ta hãy cùng xem xét ví dụ khch hàng nói anh ta muốn một chiếc xe hơi rẻ tiền.
Người làm marketing phải thăm dò nhiều hơn để có thể hiểu đúng những gì anh ta mong muốn.
Chúng ta có thể phân biệt năm loại nhu cầu khc nhau:
- Nhu cầu nói ra (khch hàng cần một chiếc xe rẻ tiền)
- Nhu cầu thật sự (khch hàng muốn một chiến xe mà tổng chi phí vận hành, chứ không
phải gi bn ban đầu là thấp)
- Nhu cầu không được nói ra (khch hàng kỳ vọng dịch vụ tốt từ người bn)
- Nhu cầu được thích thú (khch hàng muốn người bn tặng quà là bản đồ về hệ thống
đường bộ ca nước Mỹ)
- Nhu cầu bí mật (khch hàng muốn được bạn bè nhìn nhận là một người tiêu dùng khôn
ngoan, hiểu biết).
Chỉ đp ứng nhu cầu nói ra ca khch hàng có thể lừa bịp khch hàng. Hãy xem một ví dụ
khc, người phụ nữ bước vào một cửa hàng bn dụng cụ dùng trong nhà và hỏi tìm mua một loại
keo dn để bịt kín kính cửa sổ bị hở vào mùa đông. Khch hàng này đang nói đến một giải pháp,
không phải là một nhu cầu. Người bn hàng có thể gợi ý rằng băng dn sẽ là một giải php tốt
hơn. Trong trường hợp này, khch hàng có thể coi trọng cch nhân viên bn hàng đp ứng được
nhu cầu ca mình, chứ không phải bản thân giải php.
Khi niệm nhu cầu giúp phân biệt giữa ba cấp độ làm marketing: marketing đp ứng,
marketing hơn mong đợi và marketing sng tạo. Người làm marketing đp ứng tìm nhu cầu được
nói ra và đp ứng nó. Người làm marketing hơn mong đợi nhìn trước những gì khch hàng có thể
mong muốn trong tương lai gần. Người làm marketing sng tạo khm ph và sản xuất ra giải
php mà khch hàng không hỏi nhưng họ lại tiếp nhận rất nồng nhiệt. Hamel và Prahalad tin rằng
marketing tích hợp.
Marketing tích hợp diễn ra ở hai cấp độ. Trước hết là cc chức năng marketing khc nhau
– bn hàng, quảng co, dịch vụ khch hàng, quản trị sản phẩm, nghiên cứu marketing – phải cùng
làm việc với nhau. Lực lượng bn hàng rất hay nghĩ rằng cc nhà quản trị sản phẩm định mức gi
hoặc hạn mức doanh thu qu cao, hoặc gim đốc quảng co và gim đốc nhãn hiệu không thể
đồng ý về chiến dịch quảng co. Do vậy, tất cả những chức năng marketing này phải được điều
phối từ quan điểm ca khch hàng.
Thứ hai, marketing phải được cc bộ phận khc đi theo, họ cũng phải “nghĩ cho khch
hàng”. Theo David Packard ca HP: “Marketing qu quan trọng để chỉ trao trọng trch đó cho bộ
phận marketing”. Xerox tiến rất xa khi gộp vào trong mỗi bản mô tả công việc một phần giải
thích công việc này tc động như thế nào đến khch hàng. Cc nhà quản trị phân xưởng ca
Xerox biết rằng việc thăm quan phân xưởng có thể giúp việc bn hàng cho khch nếu nhà xưởng
sạch sẽ và hiệu quả. Bộ phận kế ton ca Xerox cũng biết rằng thi độ ca khch hàng chịu sự tc
động ca tính chính xc ca cc hóa đơn và sự mau mắn ca việc gọi lại cho khch hàng sau khi
họ yêu cầu.
Để cổ động cho tinh thần làm việc nhóm giữa tất cả cc bộ phận, công ty chăm lo công
tc marketing nội bộ cũng như marketing bên ngoài. Marketing bên ngoài là marketing hướng
đến cc c nhân bên ngoài tổ chức. Marketing nội bộ là công việc tuyển dụng, đào tạo và cổ động
cc nhân viên để họ muốn phục vụ khch hàng tốt. Thật vậy, marketing nội bộ phải đi trước
marketing bên ngoài. Sẽ không có ý nghĩa gì khi hứa hẹn dịch vụ tuyệt hảo trước khi đội ngũ
nhân viên ca công ty sẵn sàng cung cấp dịch vụ đó.
• Tính sinh lợi
Mục tiêu cuối cùng ca triết lý marketing là giúp tổ chức đạt được cc mục tiêu ca mình.
Trong trường hợp cc công ty tư nhân, mục tiêu quan trọng là lợi nhuận, trong trường hợp phi lợi
nhuận và cc tổ chức công cộng, tổ chức phải tồn tại và thu hút đ nguồn vốn để thực hiện cc
công việc hữu ích. Cc công ty không nên hướng đến lợi nhuận bằng mọi cch mà là đạt lợi
nhuận bằng cch sng tạo và cung ứng những gi trị vượt trội cho khch hàng. Công ty làm ra lợi
nhuận bằng cch thỏa mãn nhu cầu khch hàng tốt hơn cc đối th cạnh tranh.
Đến đây chúng ta đã tiếp xúc với cc quan điểm làm marketing khc nhau và rõ ràng
trong môi trường marketing hiện đại quan điểm marketing là quan điểm phổ biến nhất. Tuy