hệ thống tiền tệ và hình thức chuyển dịch tài chính quốc tế - Pdf 15

Hệ thống tiền tệ và hình thức chuyển dịch tài chính quốc tế
NỘI DUNG
I) LỚI GIỚI THIỆU
II ) HỆ THỐNG TIỀN TỆ
1. CÔNG CỤ TÀI CHÍNH
2. CÁC THIẾT CHẾ CỦA HỆ THỐNG TIỀN TỆ QUỐC TẾ
3. HỆ THỐNG ĐIỀU CHỈNH
III) CÁC HÌNH THỨC CHUYỂN DỊCH TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
1. ĐẦU TƯ LIÊN QUỐC GIA
2. CHUYỂN DỊCH QUA HỆ THỐNG THANH TOÁN VÀ MUA BÁN NGOẠI HỐI
3. CHUYỂN DỊCH TÀI CHÍNH LIÊN NGÂN HÀNG
IV) NỢ TÀI CHÍNH QUỐC TẾ VÀ VAI TRÒ CỦA CÂU LẠC BỘ LONDON-PARIS
V) KẾT LUẬN
VI) TÀI LIỆU THAM KHẢO
=========================================

I. GIỚI THIỆU

Khi nghiên cứu về tài chính và tiền tệ, người nghiên cứu bắt buộc phải tìm hiểu Tài Chính Quốc Tế, hệ
thống tiền tệ và hình thức chuyển dịch tài chính quốc tế là những căn bản trong nghiên cứu tài chính quốc
tế, nó cung cấp cho người đọc về hệ thống các công cụ về tài chính quốc tế để các tổ chức, chính quyền
thực hiện chuyển dịch và trao đổi tài chính quốc tế. Hệ thống tiền tệ và tài chính quốc tế cho ta thấy các
công cụ tài chính, các thiết chế, và hệ thống điều chỉnh sự vận động và sử dụng luồng tài chính quốc tế.
Ngày nay chuyển dịch tài chính cấp quốc tế không còn đơn thuần thể hiện bởi sự di chuyển công cụ tài
chính như ngoại tệ, trái phiếu, SDR ….Từ chủ thể nầy sang chủ thể khác mà dần sang hình thức không
công cụ. Ví dụ như kết toán bù trừ liên ngân hàng quốc tế, vay mượn và thanh toán qua mạng, cho vay dự
trữ hoặc cho vay ngoại tệ qua đêm giữa các tổ chức tài chính quốc tế… Nếu phân loại theo chủ thể tham
gia ta thấy có ba hình thức chuyển dịch tài chính quốc tế đó là: chuyển dịch đa phương, chuyển dịch song
phương, chuyển dịch không đối tác (chuyển dịch nội bộ). Nếu phân loại theo cách thức duy chuyển ta có
bốn hình thức chuyển dịch phổ biến đó là:
Đầu tư liên quốc gia

bỏ qui định bảo chứng vàng cho tiền giấy phát hành của mình. tiền giấy có thể mua vàng chứ
không đổi vàng được nữa, và lượng giá đồng tiền nước nầy qua nước khác qua đồng USD.
b/ Các công cụ tài chính và các hình thức trái phiếu:

Hệ thống tỉ giá trao đổi cố định (Bretton Woods)
Là thoả thuận hướng về giữ giá đồng tiền các nước theo giá vàng, chống lạm phát và giữ giá vàng
ổn định làm cơ sở thương mại và thanh toán quốc tế thuận lợi
Bretton woods thiết lập cái khung về giá trị mà đồng tiền các nước phải dựa vào
Do sự phá giá đồng USD và các đồng tiền khác nên tháng 3 năm 1973 chế độ tỉ giá cố định theo
vàng và USD bị sụp đổ.
Hệ thống tiền tệ với tỉ giá thả nổi

Sau hệ thống tỉ giá cố định sụp đổ mỗi quốc gia đều có quyền chọn một chế độ tỉ giá riêng thích hợp cho
mình, Nhằm thúc đẩy hỗ trợ những thanh toán quốc tế IMF đã tạo ra thêm một loại trái phiếu của nó như
một loại tiền tệ bổ sung cho hệ thống tiền tệ với hệ thống thả nổi

SDR

Là một công cụ tài chính toàn cầu, loại trái phiếu nầy có giá trị được tạo thành từ giá trị đóng góp của 5
đồng tiền (theo nguyên lý rổ tiền tệ) USD, Mark,Yen, Pound, Franc. Giá trị của SDR được IMF tính hàng
ngày theo nguyên tắc rổ tiền giữa giá trị USD với 4 đơn vị tiền còn lại theo tỷ giá tại thời điểm tính.

ECU
Là một trái phiếu của EU do quỹ EMS (quỹ tiền tệ Châu Âu) tạo thành, mỗi thành viên của quỹ nầy
gởi 20% dự trữ ngoại hối của họ vào rồi nhận về một lượng ECU tương đương. Quỹ nầy được
EMS sử dụng để can thiệp khi cần ổn định giá trị của ECU, và của các đơn vị tiền của các quốc gia
thành viên. Ngày 01-01-1999 nó được gọi là đồng EURO
Hiện nay EURO được xem là dự trữ tài chính thứ 3 toàn cầu sau USD va DM trong đó: USD và
các đồng tiền của các nước công nghiệp phát triển (OECD) đómg vai trò rất quang trọng


Các thiết chế tài chính của chính quyền (Kho bạc, công ty tài chính )
b) Các tổ chức tài chính quốc tế đầu não

Thị trường tiền tệ Châu Âu:

Thị trường nầy phát triển nhanh do các nguyên nhân sau đây
Cung cấp các khoản gữi và cho vay với lãi suất hấp dẫn hơn các ngân hàng nội địa ở các nước có
đơn vị tiền cần vay mượn
Thị trường cực kỳ rộng
Lãi suất thả nổi theo thương lượng trên nền Libor, điều chỉnh lãi suất các suất các thị trường khác.
Rủi ro được giảm thiểu thấp nhất
Các dịch vụ kinh doanh ngân hàng quốc tế đều có thể kết toàn ở thị trường nầy.
Nơi mà thị trường tài chính nội địa có thể kế nối với thị trường tài chính toàn cầu.
Ngân hàng phục vụ thanh toán quốc tế:
Là diễn đàn họp nhất hoạt động tài chính và tiền tệ quốc tế.
Là ngân hàng của các ngân hàng trung ương toàn cầu
Là đại lý tín dụng cho các hoạt động và chương trình tài trợ quốc tế
Trung tâm nghiên cứu quản trị tài chính và thanh toán quốc tế
Hỗ trợ chương trình thị trường hoá, quốc tế hoá các nền kinh tế chuyển đổi.
Ngân hàng thế giới (WB).

Là một tổ chức tài chính điển hình, tổ chức nầy là một tập đòan gồm 3 thiết chế khác phụ thuộc là:
Ngân hàng quốc tế về tái thiết và phát triển(IBRD)
Ngân hàng tài tài chính quốc tế
Hiệp hội phát triển quốc tế

Hoạt động chính của ngân hàng thế giới là:
Cấp các khoản vay cứng: là các khoản vay có lãi suất thanh toán và đáo hạn không quá 25 năm,
Những quốc gia khó khăn về tài chính không thanh toán nợ đúng hạn, ngân hàng có thể cơ cấu lại
nợ để gia hạn.

Hỗ trợ cơ cấu nợ
Chống khủng hoảng tài chính
Ngân hàng tái thết và phát triển Châu Âu

Ngân hàng phát triển châu A (ADB). 3) Hệ thống điều chỉnh:

a) Hệ thống điều chỉnh nó điều chỉnh luồng vận động của tài chính quốc tế nó bao gồm
Hệ thống điều chỉnh cơ cấu: (SAF)
Hệ thống điều chỉnh nâng cao.
b) London và Paris club là hai câu lạc bộ hoạt động như một hệ thống điều chỉnhcác luồng chuyển dịch tài
chinh quốc tế :
Nó là diễn đàn thực hiện các thương lượng, thỏa thuận, vay nợ, thnah toán, chuyển nhượng.
Điều chỉnh lãi suất của thị trường tiền tệ châu Âu và các lãi suất tài chính quốc tế khác
Hỗ trợ việc ân hạn nợ , tái cơ cấu nợ
Thực hiện các biện pháp ngăn chặn rủi ro vỡ nợ , phá sản , không thanh toán nợ trong chu chuyển
tài chính quốc tế.
c) Thỏa thuận liên ngân hàng Basle:

Những thoả thuận và điều khỏan ràng buộc là hệ thống điều chỉnh hoạt động tài chính quốc tế, tạo thị
trường tài chí`nh quốc tế hoạt động trong luật, tạo khung cho hoạt động thống nhất của thị trường toàn cầu.

d) IBF

Không những là một ngân hàng mà còn là một cơ chế quản lý điều tiết và theo dõi của Fed đối với các
khỏan cho vay và chuyển dịch tài chính ra nước ngoài của các ngân hàng thương mại Mỹ. Giữa những năm
1980 IBF quản lý quỹ viện trợ kỹ thuật của Hoa-Kỳ cho các nước phát triển, những ràng buộc của IBF là bộ
lọc làm tăng giảm tốc độ chuyển dịch tài chính ở phạm vịquốc tế dưới nhiều hình thức khác nhau.

công ty nhằm thực hiện quá trình kinh doanh tại địa phương, rõ nét nhất là đầu tư của các công ty
đa và xuyên quốc gia. Dòng đầu tư nầy nó khơi dòng chảy tư nhân ở phạm vi toàn cầu từ chỗ cao
đến chỗ thấp.

Ảnh hưởng của FDI: ta phân tích giữa hai nước có quan hệ đầu tư và không có quan hệ đầu tư: (theo hình
vẽ sau) Giả sử nước đầu tư là A nước chủ nhà là B

Tổng tư bản 2 nước là đường O O1

Tử bản của nước A là OZ, tư bản của nước chủ nhà B là O1 Z.

Trường hợp 1: chưa đầu tư

Tại quốc gia A ứng cới mức lợi tức R.a nội địa, nước A sử dũng hết nguồnvốn mức lợi tức sẽ ltại E1 , tức là
R.a, đường Ka cho biêế nó là đường giá trị cận biên của vốn tại nước A.

Tại B ở mức lợi tức rb cao hơn vì vốn khan hiếm, đướng giá trị sản phẩm biên của vốn là Kb đi qua điểm E2
Nếu không có quan hệ lợi tức của nước A là Ra=E1 Z.
Lợi tức của nước B là rb = E2 Z.
Tổng sản phẩm của nước A và B lần lượt là 2 hình chử nhật O.Ra. E1.Z và O1.rb. E2.Z.

Trường hợp 2: khi tư bản tự do duy chuyển tài chính từ A sang B tìm lợi nhuận cao hơn (dưới hình thức
FDI). Quá trình chuyển vốn từ A sang B làm cho vốn của nướa lùi dần về O, ngược lại vốn của nước B tăng
dần qua mức O1.Z. Giảm vốn nước A làm lãi súât tăng và tăng vốn ờ B làm lãi suất giảm cho đến khi lãi
suất 2 nước bằng nhau, lượng vốn từ A qua B là đoạn VZ.Cả 2 nước sản xuất tại E và mức lợi tức R1.R2.

Sản lượng thế giới tăng E. E1. E2 trong đó nước nhận đầu tư (B) là E .E2.U và nước đầu tư (A) là E. E1 U

trung riêng,

Giả sử tỉ giá được cố định tại E. Nếu cầu tăng lên D1 (đồ thị a) để ổn định lãi suất tại E các tổ chức quản lý
tài chính nội địa sẽ phải tăng cung lên q2 theo nhu cầu. Ngược lại lương cung tăng S1 (đồ thị b). Để tỉ giá
ổn định tại E các tổ chức tài chính phải làm ngược lại là mua hết lương cung tăng Q0.Q2.

Thị trường tỉ giá hoấi đoái thả nổi: tỉ giá sẽ do thị trường quyết định

B. Chuyển dịch tài chính qua thị trường ngoại hối:

Ta có:

Y = C + I + G + X - M

Hay Y – C = I + G +X - M

Mà Y – T= Yd và Yd = C + S

Suy ra Y-T = C + S hay Y –C = S + T Như vậy I + G +X – M = S + T

Suy ra I – S – (T-G) =M –X

Ta đặt (T-G) là tiết kiệm trong khu vực chính quyền ta viết tắc là Sg

Ta có I – (S + Sg) = M-X

Ta đặt M-X là tiết kiệm từ giao dịch với nước ngoài ta viết tắc là Sf

Câu lạc bộ Pari là một nhóm các nước chủ nợ trong
đó chủ yếu là Mỹ và các nước G7, nó là một tổ chức
không chính thức, không có luật lệ hay cơ cấu vật
chất. Bộ ngân khố cung cấp một số nhân viên, Thư ký…. Những người nầy sẽ triệu tập các nước chủ nợ
lien quan khi mà một nước con nợ thông báo rằng đang ở tình trạng nguy kịch. Mục đích của mỗi kỳ họp
Paris Club không hoàn toàn nhằm ban tăng tặng một ân hạn cho con nợ mà nhằm xây dựng một cơ sở mà
trên đó chủ nợ huy vọng rằng có thể thu hồi được công nợ bằng cách kéo dài thời gian hoàn trả và cắt giảm
các khỏan thanh toán hàng năm xuống tới míưc mà con nợ thanh toán được và thanh toán từ từ. Các nước
con nợ trước mắt được giảm các khoản phải trả hàng năm, có khả năng thanh toán trong năm nhưng tổng
số nợ tăng lên cả lãi lẫn gốc.

IV. KẾT LUẬN:
Việc nắm bắt sử dụng các công cụ tài chính quốc tế và thu hút đầu tư nước ngoài, tự do di chuyển
tài chính quốc tế sẽ làm tăng sản lượng và thu nhập cho quốc gia. Thu hút dòng vốn lãi suất thấp
làm giảm chi phí và tăng khả năng cạnh tranh sản phẩm xuất khẩu, tạo công ăn việc làm cho xã
hội và tạo sự phát triển.
Việc sử dụng vốn ODA kém hiệu quả do tham nhũng trong xây dựng cơ sở hạ tầng (PMU) tạo ra
những sản phẩm kém chất lượng hiệu quả sử dụng thấp, vốn FDI vào những lĩnh vực thâm dụng
lao động khai thác tài nguyên sẽ làm cho đất nước ngày càng nghèo đi,
Các khỏan vay không được hoạch định và tính toán có hiệu quả đầu tư tràn lan như nhà máy
đường, nhà máy xi măng lò đứng không mang lại hiệu quả kinh tế mà lãng phí vốn dẫn đấn mất
vốn là một nguy cơ lớn cần khắc phục.
Sự lãng phí ngày hôm nay, thế hệ con cháu mai sau phải trả vì quỹ tiền tệ thế giới (IMF), ngân
hàng thế giới (WB) câu lạc bộ Paris- London không phải là những tổ chức từ thiện nhằm giảm nợ
và xoá nợ mà ngược lại buộc con nợ và những ràng buộc khắc khe hơn, nợ chồng nợ và từ đó lệ
thuộc về kinh tế, chính trị…
o Muốn thoát nghèo (LDC) chúng ta cần phải trong sạch bộ máy nhà nước kiên quyết chống tham
nhũng, lãng phí, và tạo điều kiện cho nguồn tài chính quốc tế đổ vào Việt nam và sử dụng hiệu quả
nó.
VII. TÀI LIỆU THAM KHẢO


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status