Bếp lửa- Bằng Việt Phân tích và tổng hợp.... - Pdf 15

Bằng Việt
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bằng Việt (sinh ngày 15 tháng 6 năm 1941) nguyên quán xã Chàng Sơn, huyện Thạch Thất,
Thành phố Hà Nội), là một nhà thơ Việt Nam. Ông đã từng là Chủ tịch Hội đồng thơ Hội Nhà văn
Việt Nam và đang là Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội.
Mục lục
[ẩn]
1 Tiểu sử
2 Sự nghiệp
3 Tác phẩm
o 3.1 Sáng tác
o 3.2 Dịch thuật
o 3.3 Biên soạn
4 Giải thưởng
5 Liên kết ngoài
[sửa]Tiểu sử
Bằng Việt tên thật là Nguyễn Việt Bằng, nguyên quán xã Chàng Sơn, huyện Thạch Thất, Thành
phố Hà Nội), nhưng ông sinh tại thành phố Huế và học trung học tại Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp
khoa Pháp lý, Đại học Tổng hợp Kiev vào năm 1965, Bằng Việt về Việt Nam, công tác tại Viện
Luật học thuộc Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Đến năm 1969, ông chuyển sang công tác ở
Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1970, ông tham gia công tác ở chiến trường Bình Trị Thiên, với tư
cách là một phóng viên chiến trường và làm tại Bảo tàng truyền thống cho đoàn Trường Sơn.
Năm 1975, ông công tác ở Nhà xuất bản Tác phẩm mới.
Sau khi về Hội Văn học nghệ thuật Hà Nội (gọi tắt là Hội Văn nghệ Hà Nội) năm 1983, ông được
bầu làm Tổng thư ký Hội Văn học nghệ thuật Hà Nội (1983-1989) và là một trong những người
sáng lập tờ báo văn nghệ Người Hà Nội (xuất bản từ 1985).
Sau đó được bầu làm Uỷ viên Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam,
làm tổng biên tập tờ tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam (1989-1991).
Năm 2001, ông được bầu làm Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội và được bầu lại
làm Chủ tịch Hội nhiệm kỳ 2006 - 2010.
1

 Cát sáng (1985), in chung với Vũ Quần Phương
2
 Bếp lửa - Khoảng trời (Tập thơ) (1986)
 Phía nửa mặt trăng chìm (1995)
 Ném câu thơ vào gió (Tập thơ; Flying a verse with the wind; 2001)
 Thơ trữ tình (2002)
 Thơ Bằng Việt (Tập thơ), (2003)
[sửa]Dịch thuật
 Hãy nói bằng ngôn ngữ của tình yêu (1978), thơ Yannis Ritsos (Hy Lạp), dịch chung
với Tế Hanh, Phạm Hổ, Đào Xuân Quý
 Lọ lem (1982), thơ E. Evtushenko (Nga)
 TASS được quyền tuyên bố, tiểu thuyết Liên Xô
 Thơ trữ tình thế giới thế kỷ XX (hợp tuyển thơ dịch; 2005), NXB Văn Học và Công ty Văn
hóa Việt
[sửa]Biên soạn
 Mozart, truyện danh nhân
 Từ điển Văn học, 2 tập, NXB Khoa học xã hội, 1983-1984, đồng tác giả
 Từ điển Văn học (bộ mới), NXB Thế Giới, 2004, đồng tác giả
 Từ điển tác gia văn học nước ngoài, đồng tác giả, Hữu Ngọc chủ biên
[sửa]Giải thưởng
 Giải nhất về thơ của Hội Văn học nghệ thuật Hà Nội (1968)
 Giải thưởng dịch thuật văn học quốc tế và giao lưu văn hóa quốc tế do Quỹ Hòa
bình Liên Xô trao tặng năm 1982
 Giải thưởng Nhà nước về văn học (do Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam trao tặng, 2001)
 Giải thưởng thơ của Hội nhà văn Việt Nam (2002)
 Giải thưởng văn học ASEAN 2003 cho tập thơ "Ném câu thơ vào gió"
 "Giải thành tựu trọn đời" của Hội Nhà văn Hà Nội (2005) cho Thơ trữ tình thế giới thế kỷ
XX, với nhận xét: "Nhiều bài đã trở nên quen thuộc với các thế hệ người yêu thơ trong bốn
thập kỷ qua, mang dấu ấn tâm hồn và nét sang trọng, tinh tế của người chuyển ngữ. Giải

Câu kết với câu hỏi tu từ mở ra điều gì?
Gợi ý trả lời:
Tác giả, tác phẩm
- Bằng Việt: tên thật là Nguyễn Việt Bằng, sinh năm 1941, quê ở Thạch Thất - Hà
Tây.
- Thuộc lớp nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ
- Là một luật sư
4
- Đề tài: thường viết về những kỷ niệm, ước mơ của tuổi trẻ, gần gũi với người
đọc trẻ tuổi, bạn đọc trong nhà trường. Tập thơ Bếp lửa viết năm 1968.
- Bài thở Bếp lửa được viết năm 1963, khi tác giả là sinh viên đang học ở Liên Xô.
Bố cục
- Bài thơ mở ra với hình ảnh bếp lửa, từ đó gợi về những kỷ niệm tuổi thơ được
sống bên bà được bà chăm sóc.
Nay cháu đã trưởng thành, suy nghĩ và thấu hiểu về cuộc đời bà với lẽ sống giản dị
và cao quý của bà. Cuối cùng nguời cháu muốn gửi niềm thương, nhớ mong với
bà.
Mạch thơ đi từ hồi tưởng đến hiện tại, tù kỷ niệm đến suy ngẫm.
Bài thơ chia làm 2 phần:
Phần 1 (Từ đầu đến “niềm tin dai dẳng”): những hồi tưởng về bà và tình bà cháu.
Phần 2 (còn lại): Những suy ngẫm về bà, về bếp lửa, nỗi nhớ với bà.
Ý chính
- Bài thơ là lời nói của người cháu ở nơi xa nhớ về bà và những kỷ niệm với bà,
nói lên lòng kính yêu và những suy ngẫm về bà.
Khổ thơ 1
- Tên bài thơ là Bếp lửa, câu mở đầu cũng viết về bếp lửa: khắc sâu hình ảnh bếp
lửa, khẳng định nỗi nhớ dai dẳng khắc sâu bắt đầu sự khởi nguồn của khổ thơ
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
…nắng mưa.

“Viết thư chớ kể này kể nọ… bình yên”. Người bà với đức tính cao cả, hy sinh
thầm lặng, nhận gian khổ về mình
Hình ảnh người bà và bếp lửa trong nỗi nhớ của người cháu, đó là người bà chịu
thương chịu khó, giàu đức hy sinh
“Rồi sớm rồi chiều… một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
……………chứa niềm tin dai dẳng”
Ngọn lửa của trái tim con người, của tình yêu thương mà người bà truyền cho
người cháu, ngọn lửa của niềm tin, của hy vọng.
Bếp lửa là hình ảnh của cuộc sống thực đầy vất vả nhọc nhằn của 2 bà cháu, và là
hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng, hình ảnh bếp lửa hiện diện cho tình bà ấm áp
như chỗ dựa tinh thần, như sự đùm bọc cưu mang chắt chiu của người bà giành
cho cháu.
Khổ thơ cuối
- Mấy chục năm…
- Thói quen dậy sớm, nhóm lửa.
Nhóm bếp lửa: Nhóm niềm yêu thương… ngọt bùi.
Nhóm… nồi xôi gạo… sẻ chung vui
Nhóm… dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ.
- Hình ảnh bếp lửa là sự nuôi dưỡng, nhen nhóm tình cảm yêu thương con người,
thể hiện nỗi nhớ, lòng biết ơn, khơi gợi lên cho cháu một tâm hồn cao đẹp.
Nỗi nhớ về cội nguồn, tình yêu thương sâu nặng của người cháu với bà.
Nghệ thuật bài thơ:
- Sáng tạo: hình ảnh thơ vừa thực, vừa mang ý nghĩa biểu tượng.
- Biểu cảm, miêu tả tự sự, bình luận
- Giọng điệu phù hợp với cảm xúc hồi tưởng suy ngẫm.
Nội dung chính:
Bài thơ nói về những kỷ niệm rất giản dị gắn bó sâu sắc gần gũi trong đời sống, tình cảm của con người,
những gì thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi người đều có sức toả sáng, nâng đỡ con người suốt hành trình dài
rộng của cuộc đời, tình yêu thưogn biết ơn với bà chính là biểu hiện cụ thể của tình yêu thương, sự gắn bó
với gia đình, quê hương và đó cũng là sự khởi đầu của tình người, tình yêu đất nước.

hơi thở công nông binh.
Sau khi ra Bắc, cụ thân sinh nhà thơ Bằng Việt thoát ly đi lên Việt Bắc tham gia
Kháng chiên, mẹ tham gia hội phụ nữ, nhà chỉ còn hai anh em, sau một thời kỳ về
quê phụ giúp ông bác nhà thơ Bằng Việt chở xe ngựa kiếm sống nuôi gia đình. Chi
tiết này về sau nhà thơ cũng đưa vào bài thơ "Bếp lửa", mà nhiều bạn cứ tưởng là hư
cấu (Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy). Nói đến câu thơ này bông nhiên thấy ông
buồn buồn. Ông giải thích: “Nhiều người sau khi đọc đến câu thơ này gọi điện cho tôi
hỏi ‘ông có bịa không đấy vì nhà ông là gia đình theo cách mạng làm gì đến nỗi ông
cụ đi “đánh xe khô rạc ngựa gầy”, hay ông giả vờ nghèo, kể khổ để mọi người phải
thông cảm cho gia đình ông? Tôi khẳng định với họ rằng chẳng việc gì phải bịa hay
cách điệu hoàn cảnh để xin mọi người thông cảm cả. Gia đình tôi có gì tôi đã đưa hết
vào thơ rồi.” Nhà thơ kể tiếp: “Bố mẹ tôi ở trong Huế 18 năm và sinh tôi trong ấy.
Sau khi cách mạng nổ ra cả nhà chuyển ra Bắc, tản cư về một vùng quê ở chân núi
Ba Vì – Hà Tây. Sau khi cách mạng thành công bố tôi chưa có việc gì làm cho dù ông
là một trí thức ngành luật. May sao trong lúc khó khăn đó bác tôi có cỗ xe ngựa
chuyên chạy tuyến Phùng (Đan Phượng, Hà Tây) đi Hà Nội nên bố tôi nhận lời mời
của bác đi phụ xe kiếm tiền nuôi gia đình. Những năm đói 1945 – 1946 ấy người còn
đói nữa huống hồ ngựa nên chuyện tôi nói trong thơ “Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa
gầy” không có gì là sai hay cường điệu hoàn cảnh cả”.
Rất nhiều chi tiết, cứ tưởng như ngẫu nhiên, đến khi tập họp lại, tự nhiên lại như
những nét chấm phá để hình thành nên cả một khung cảnh, cả một không gian sống,
thậm chí làm nên cái nền chân thật, sinh động cho cả một thời. Từ đó nhà thơ chỉ
còn có việc dựng nên trên cái nền ấy một hình ảnh xuyên suốt, hình ảnh đã được
điển hình hoá và phổ quát hoá, từ bà nội thực của mình trở thành bà nội của bao
người khác, thành biểu tượng một người Mẹ hậu phương tận tuỵ, hy sinh, làm chỗ
dựa cho con cháu, làm điểm trụ vững chăc ở phía sau để làm yên lòng những người
ra tiền tuyến.
7
“Bếp lửa” sau khi “bay” từ Nga về ngay lập tức được nhà thơ Khương Hữu Dụng chọn
đăng trên báo Văn nghệ, số tháng 9 năm 1963. “Bếp lửa” cũng chính là bài thơ đầu

cha, anh đã quên mình làm nên những kỳ tích vĩ đại từ ngay trong cuộc đời rất bình
thường của mình để chúng ta có được ngày hôm nay. Ông bồi hồi:
Giờ cháu đã đi xa
Có ngọn khói trăm tàu
Có niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng khi nào quên nhắc nhở
Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa ?
Yên Khương
Nguồn: Vietvan.VN
__________________
Ai bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai.
Bếp lửa (Bằng Việt)
Tình bà cháu trong bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt.
8
a. Giới thiệu khái quát về tác giả Bằng Việt (thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ
chống Mỹ cứu nước. Thơ Bằng Việt hấp dẫn người đọc bởi sự trong trẻo, mượt mà và chiều sâu
triết lý) ; về bài thơ Bếp lửa (chú ý hoàn cảnh sáng tác).
b. Suy nghĩ, cảm nhận của bản thân về tình bà cháu trong bài thơ:
Tình bà cháu thắm thiết, cảm động được khơi gợi qua hình ảnh bếp lửa.
- Hình ảnh thân thương, ấm áp về bếp lửa: Một bếp lửa chờn vờn sương sớm / Một bếp lửa ấp iu
nồng đượm khơi gợi kỷ niệm thời thơ ấu bên người bà. Bếp lửa hiện lên trong kí ức như tình bà
ấm áp, như sự đùm bọc của bà.
- Những suy ngẫm về người bà: đó là những suy ngẫm về cuộc đời nhiều gian khổ nhưng giàu hi
sinh, tần tảo của người bà. Bà là người nhóm lửa, cũng là người giữ cho ngọn lửa luôn ấm nóng
và tỏa sáng trong mỗi gia đình: Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ /Bà vẫn giữ thói quen dậy
sớm / Nhóm bếp lửa ấp ui nồng đượm… Bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là
người truyền lửa - ngọn lửa của sự sống, của niềm tin cho các thế hệ sau: Rồi sớm rồi chiều lại
bếp lửa bà nhen / Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn / Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…
- Đứa cháu dù đi xa, vẫn không thể quên bếp lửa của bà, không quên tấm lòng thương yêu đùm

với gia đình, quê hương, đất nước.
Tình cảm và những kỉ niệm về bà được khơi gợi từ hình ảnh bếp lửa. Ở nơi đất khách quê người, bắt gặp
hình ảnh bếp lửa, tác giả chợt nhớ về người bà:
“ Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.”
Hình ảnh “chờn vờn” gợi lên những mảnh kí ức hiện về trong tác giả một cách chập chờn như khói bếp.
Bếp lửa được thắp lên, nó hắt ánh sáng lên mọi vật và toả sáng tâm hồn đứa cháu thơ ngây. Bếp lửa được
thắp lên đó cũng là bếp lửa của cuộc đời bà đã trải qua “ biết mấy nắng mưa”. Từ đó, hình ảnh người bà
hiện lên. Dù đã cách xa nữa vòng trái đất nhưng dường như Bằng Việt vẫn cảm nhận được sự vỗ về, yêu
thương, chăm chút từ đôi tay kiên nhẫn và khéo léo của bà. Trong cái khoảnh khắc ấy, trong lòng nhà thơ
lại trào dâng một tình yêu thương bà vô hạn. Tình cảm bà cháu thiêng liêng ấy cứ như một dòng sông với
con thuyền nhỏ chở đầy ắp những kỉ niệm mà suốt cuộc đời này chắc người cháu không bao giờ quên
được vàcung chính t? đó, sức ấm và ánh sáng của tình bà cháu cũng như của bếp lửa lan toả toàn bài thơ.
Khổ thơ tiếp theo là dòng hồi tưởng cùa tác giả về những kỉ niệm của những năm tháng sống bên cạnh bà.
Lời thơ giản dị như lời kể, như những câu văn xuôi, như thủ thỉ, tâm tình, tác giả như đang kể lại cho người
đọc nghe về câu chuyện cổ tích tuổi thơ mình. Nếu như trong câu chuyện cồ tích của những bạn cùng lứa
khác có bá tiên, có phép màu thí trong câu chuyện của băng Việt có bà và bếp lửa. Trong những năm đói
khổ, người bà đã gắn bó bên tác giả, chính bà là người xua tan bớt đi cái không khí ghê rợn của nạn đói
1945 trong tâm trí đứa cháu. Cháu lúc nào cũng được bà chở che, bà dẫu có đói cũng để cháu thiếu bữa ăn
nào, bà đi mót từng củ khoai, đào từng củ sắn đểâ cháu ăn cho khỏi đói:
“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!”
Chính “mùi khói” đã xua đi cái mùi tử khí trên khắp các ngõ ngách. Cũng chính cái mùi khói ấy đã quện lại
và bám lấy tâm hồn đứa trẻ. Dù cho tháng năm có trôi qua, những kí ức ấy cũng sẽ để lại ít nhiều ấn tượng
trong lòng đứa cháu để rồi khi nghĩ lại lại thấy “sống mũi còn cay”. Là mùi khói làm cay mắt người người
cháu hay chính là tấm lòng của người bà làm đứa cháu không cầm được nước mắt?

Trong những tháng năm sống bên cạnh bà, bà không chỉ chăm lo cho cháu từng miếng ăn, giấc ngủ mà còn
là người thầy đầu tiên của cháu. Bà dạy cho cháu những chữ cái, những phép tính đầu tiên. Không chỉ thế,
bà còn dạy cháu những bài học quý giá về cách sống, đạo làm người. Nững bài học đó sẽ là hành trang
mang theo suốt quãng đời còn lại của cháu. Người bà và tình cảm mà bà dành cho cháu đã thất sự một chỗ
dựa vững chắc về cả vật chất lẫn tinh thần cho đứa cháu be ùbỏng. Cho nên khi bây giờ nghĩ về bà, nhà
thơ càng thương bà hơn vì cháu đã đi rồi, bà sẽ ở với ai, ai sẽ người cùng bà nhóm lửa, ai sẽ cùng bà chia
sẻ những câu chuyện những ngày ở Huế, Thi sĩ bổng tự hỏi lòng mình: “Tu hú ơi, chẳng đến ở cùng bà?”.
Một lời than thở thể hiện nỗi nhớ mong bà sâu sắc của đứa cháu nơi xứ ngươi. Chỉ trong một khổ thơ mà
hai từ “bà”, “cháu” đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lấn gợi lên hình ảnh hai bà cháu sóng đôi, gắn bó, quấn
qúit không rời.
Chiến tranh, một danh từ bình thườnh nhưng sức lột tả của nó thì khốc liệt vô cùng, nó đã gây ra đau khổ
cho bao người, bao nhà. Và hai bà cháu trong bài thơ cũng trở thành một nạn nhân của chiến tranh: gia
đình bị chia cắt, nhà bị giặc đốt cháy rụi
“Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở vế lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lếu tranh
Vẫng vững lòng bà dặn cháu đinh ninh:
“ Bố ở chiến khu bố còn việc bố
Mày viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!’
Cuộc sống càng khó khăn, cảnh ngộ càng ngặt ngèo, nghị lứccủa bà càng bền vững, tấm lòng ủa bà càng
mênh mông. Qua đó, ta thấy hiện lên một người bà cần cù, nhẫn nại và giàu đức hi sinh. Dù cho ngôi nhà,
túp lều tranh của hai bà cháu đã bị đốt nhẵn, nơi nương thân của hai bà cháu nay đã khong còn, bà dù có
đau khổ thế nào cũng không dám nói ra vì sợ làm đứa cháu bé bong của mình lo buồn. Bà cứng rắn, dắt
cháu vượt qua mọi khó khăn, bà không đứa con đang bận việc nước phải lo lắng chuyện nhà. Điều đó ta có
thể thấy rõ qua lới dặn của bà: “Mày có viết thư chớ kể này kể nọ / Cứ bảo nhà vẫn đươc bình yên!”. Lới
dăn của bà nôm na giản dị nhưng chất chứa biết bao tình. Gian khổ, thiếu thốn, bao nỗi nhớ thương con bà
đều phải nén vào trong lòng để yên lòng người nơi tiền tuyến. Hình ảnh người bà không chỉ còn là người bà
của riêng cháu mà còn là một biểu tượng rõ nét cho nhữnh người phụ nữa Việt Nam giàu đức hi sinh,
thương con qúy cháu.

thơ nhanh mạnh như tình cảm dâng trào lớp lớp sóng vỗ vao bãi biễn xanh thẳm lòng bà. Người bà đã là,
đang là và sẽ mãi mãi là người quan trọng nhất đối với cháu dù ở bất kì phương trời nào. Bà đã trờ thành
một người không thể thiếu trong trái tim cháu.
Giờ đây, khi đang ở xa bà nửa vòng trái đất, Bằng Việt vẫn luôn hướng lòng mình về bà:
“Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
Có lưả trăm nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở
Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?”
Xa vòng tay chăm chút cuả bà để đến vơí chân trơì mới, chính tình cảm cuả hai bà chaú đã sươỉ ấm lòng
tác giả trong cái muà đông lạnh giá cuả nước Nga. Đứa cháu nhỏ cuả bà ngàu xưa giờ đã trưởng thành
nhưng trong lòng vần luôn đinh ninh nhớ về góc bếp, nới nắng mưa hai bà cháu có nhau. Đưá cháu sẽ
không bao giờ quên và chẳng thể nào quên được vì đó chính là nguồn cội, là nơi mà tuổi thơ cuả đưá chaú
đã được nuôi dưỡng để lớn lên từ đó.
“ Đọc xong bài thơ, nhắm mắt laị tưởng tưởng, bạn sẽ hình dung thấy ngay hình ảnh bếp lưả hồng và dáng
ngươì bà lặng lẽ ngồi bê. Hình ảnh có tính sóng đôi này hiện lên thật sống động, rõ ràng như thể nét khắc,
nét chạm vậy ” (Văn Giá). Bài thơ Bếp lưả sẽ sống maĩ trong lòng bạn đọc nhờ sưc truyền cảm sâu sắc
cuả nó. Bài thơ đã khơi dạy trong lòng chúng ta một tình cảm cao đẹp đối với gia đình, với những ngươì đã
tô màu lên tuổi thơ trong sáng cuả ta /./
Phân tích bài Bếp Lửa của bằng Việt
12
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nộng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa
Ôi kì là và thiêng liêng bếp lửa !
Bếp lửa _ Bằng Việt
Thơ của bằng Việt thật thiết tha và nồng đượm . Chỉ là 1 tiếng gà mái nhảy ổ cục tác trong nắng trương , chỉ
là 1 bếp luẳ chờn vờn sương sớm mà sao tha thiết nghĩa tình thế , mà sao lắng sâu đến thế Thì ra có khi
những điều nhỏ nhoi , giản dị nhất lại ẩn chứa tâm tình , chắt đọng những điều thiêng liêng , lại hiện hình
lên những tình cảm thiết tha , chân thành không thể nao quên . Cứ thế bài thơ Bếp lửa đã đọng trong lòng
ta nhưng dư vị ngọt ngào

Khi tu hú kêu bà còn nhớ ko bà
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế
Cuộc sống đói khổ đã làm vấy đen đi tuổi bé thơ hồn nhiên của tác giả . Chỉ mới 4 tuổi thôi mà trông già dặn
làm rồi , già đi do 8 năm trời dài vô tận . 8 năm của biết bao khó nhóc , 8 năm của cái đói và cái vất vả đei
đẳng nhưng chẳng thể nào thoát ra được . Từ bếp luẳ cho đến nhóm lửa thật logic . Đã góp phần tô đậm
thêm cái vất vả ấy . Nhưng chính bên bếp lửa , trong cái ánh lửa ấm sáng của tình bà cháu . Đã hồng lên
ngọn lửa kiên trì dai dẳng , niềm tin vào ngày kháng chiến thắng lợi , đất nước sẽ trở lại bình yên . Và bấy
giờ lại xuất hiện thêm 1 hình ảnh gần gũi thân quen . Tiếng tu hú !. Sóng đôi cùng bếpl luẳ nói gợi lên
những liên tưởng gần xa . Đời bà và cháu chỉ quanh quẫn bên chiếc bếp gần gũi mà nghe tiêng tu hú kia
sao giục giã như khắc khỏai những khao khác rộng dài đến 1 không gian xa xôi ở cuộc sống khác 1 không
gian có những cánh đồng ,có mùa quả ngọt trong mùa hè rực nắng , có cánh phượng đỏ, có mùa lúa
chính Nghe não lòng ! Cái âm thanh quen thuộc ấy cứ nhắc đi , nhắc lại nhiều lần làm cho lòng tác giả
càng trở nên tha thiêt, bồi hồi , đó là tiếng vọng gợi nhớ nơi thơi gian , năm tháng của kỷ niệm về gia đình
về quê hương yêu thương, về những giây phút vắng bóng mẹ cha , chỉ còn bà . Cháu ở cùng bà , cháu lớn
lên trong sự nuôi dưỡng yêu thương của à
Cháu ở cùng bà bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm bà chăm cháu học
" Cháu ở cùng bà " từ ngữ thật hay và hàm xúc " bà bảo" " bà dạy" " bà chăm " vai trò của bà trong gia đình
thật to lớn . Năm tháng đã trôi qua , thế mà bà vẫn khó nhọc vất vả nhóm bếp. Ngẫm nghĩ ngọn luẳ hồng và
tiếng chim tu hú gọi bầy , đứa cháu nhỏ bỗng thốt lên câu nói giản dị những dạt dao tình yêu thương " chim
13
tu hú kêu chi hoài " Câu thơ cảm thàn và câu hỏi tu từ diễn tả nỗi thương nhớ bà da diết . Cảm xúc cứ trào
lên như sóng vỗ
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhcụ
Tu hú ơi ! Chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hòai trên những cánh đồng xa
Cháu cảm thông với nỗi nhọc nhằn của bà , cháu đã dần khôn lớn trong vòng tay chở che ấm áp ấy . Cháu
càng lớn càng cảm thấy xót thương cho mảnh đời bất hạnh của tu hú .Cháu muốn tu hú cũng được sự
chăm sóc như bà đối với mình . Kỷ niệm cứ hiện dần lên và trong xúc cảm hình ảnh bà và hình ảnh bếp luẳ

tình người , tình bà cháu, niềm tin hi vọng , và chính cái bếp lửa thân quen đễ mà sống , tồn tại , để vượt
qua mọi khó khăn . Chính lúc này đây ta như hình dung ra được hình ảnh 1 người bà nhỏ nhắn trong bộ
quần áo nâu đắp đổi qua ngày , mái tóc bạc , đôi mắt ngời lên vẻ vị tha phúc hậu , đôi bàn tay khéo léo, và
những vết nhăn do cuộc đời lam lũ . Bà ngồi bên bếp lửa , da tay sằn sùi hăn đi dấu vết thời gian cô gắng
giữ cho ngọn lửa nồng đượm . " nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm " Vì ngọn luẳ này bà đã chịu bao cực nhọc
trong cuộc sống . Nhóm lửa 1 công việc tuy hình sức bình thường như bao công việc khác mà trách nghiệm
của người phụ nữ đảm đang phải làm , nhưng ngọn lửa của bà lại khác , ngọn lửa cao quý hơn đặc biết
hơn . Ngọn lửa ấp iu nồng đượm . Từ ấp iu được dùng rất khéo là sự giao thoa , kết hợp của 2 từ ấp ủ và iu
thương cộng với tính từ nồng đượm. CÓ phải chưang ngọn luẳ bà nhóm lên là tình thương , tình yêu mà ba
dành cho cháu . Lúc này không chỉ tác giả cảm nhận được hơi ấm dịu dàng mà ca ta người đọc : tâm hồn
cũng được sưởi ấm bên ngọn lửa thiêng liêng ấy, ngọn lửa của niềm yêu thương khoai sắn ngọt bụi , của
nồi xôi gạo mới sẻ chung vui .Và đặc biệt chính ngọn lửa này , ngọn lửa đã tiu hao mấy chục năm đời của
bà đã giúp cháu nên người , đã nhóm dậy cả những tâm tình của tác giả . Đên tận bây giờ , dù đã trải qua
rất lâu , tác giả đã ở trong 1 cuộc sống tiện nghi , đang trên đừơng đi học vậy mà khói bếp bà nhem vẫn con
hum nhèm mắt tác giả . Ngọn luẳ ấy cao cả quá, vĩ đại quá làm tác giả không thể nào quên.
Rồi sớm rồi chiều lại bếp lủa bà nhen
Một ngọn luẳ lòng bà luôn ủ sẳn
Một ngọn luẳ chứa niềm tin dai dẳng
Một lần nuẵ qua lời thơ của tác giả ta đã cảm nhận được sự khó nhọc của người bà khi ngày ngày , sớm
chiều nhen bếp lửa . Tại sao bà có thể nhẫn nại hi sinh đến như vậy ! Do trong lòng bà luôn có 1 ngọn luẳ
niềm tin ủ sẳn . Ngọn luẳ của niềm tin đất nước sẽ hòa bình độc lập , cuộc sống sẽ được nâng cao , không
còn viễn cảnh đói nghèo nữa , đất nước sẽ thống nhất với nhau , người thân và gia đình sẽ không còn chịu
cảnh thoát li nữa mà sẽ về sum họp cùng bà lúc cuối đời . Là ngọn luẳ của niềm tin đứa cháu mình sau này
sẽ nên người , sẽ noi gương được cha mẹ , sẽ nhận ra được sự khó nhọc của bà trong công việc nuôi dạy
14
cháu tù đó người cháu có thể quyết tâm học thành tài để xây dựng đất nước tươi đẹp hơn , giàu đẹp hơn .
Bà luôn mong cháu sẽ cống hiến mãi không nguôi cho tổ quốc giống như Thanh Hải trong mùa xuân nho
nhỏ
1 mùa xuân nho nhỏ lặng lẽ dâng cho đời
dù là tuổi 20

của cuộc đời. Bằng Việt cũng có riêng ông một kỉ niệm, đó chính là những tháng
năm sống bên bà, cùng bà nhóm lên cái bếp lửa thân thương. Không chỉ thế, điều
in đậm trong tâm trí của Bằng Việt còn là tình cảm sâu đậm của hai bà cháu.
Chúng ta có thể cảm nhận điều đó qua bài thơ “Bếp lửa” của ông.
Bằng Việt thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Bài thơ
“ Bếp lưả” được ông sáng tác năm 1963 lúc 19 tuổi và đang đi du học ở Liên Xô.
Bài thơ đã gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, đồng
thời thể hiện lòng kính yêu, trân trọng và biết ơn của người cháu với bà, với gia
đình, quê hương, đất nước.
Tình cảm và những kỉ niệm về bà được khơi gợi từ hình ảnh bếp lửa. Ở nơi đất
khách quê người, bắt gặp hình ảnh bếp lửa, tác giả chợt nhớ về người bà:
“ Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.”
Hình ảnh “chờn vờn” gợi lên những mảnh kí ức hiện về trong tác giả một cách
chập chờn như khói bếp. Bếp lửa được thắp lên, nó hắt ánh sáng lên mọi vật và toả
15
sáng tâm hồn đứa cháu thơ ngây. Bếp lửa được thắp lên đó cũng là bếp lửa của
cuộc đời bà đã trải qua “ biết mấy nắng mưa”. Từ đó, hình ảnh người bà hiện lên.
Dù đã cách xa nữa vòng trái đất nhưng dường như Bằng Việt vẫn cảm nhận được
sự vỗ về, yêu thương, chăm chút từ đôi tay kiên nhẫn và khéo léo của bà. Trong
cái khoảnh khắc ấy, trong lòng nhà thơ lại trào dâng một tình yêu thương bà vô
hạn. Tình cảm bà cháu thiêng liêng ấy cứ như một dòng sông với con thuyền nhỏ
chở đầy ắp những kỉ niệm mà suốt cuộc đời này chắc người cháu không bao giờ
quên được vàcung chính t? đó, sức ấm và ánh sáng của tình bà cháu cũng như của
bếp lửa lan toả toàn bài thơ.
Khổ thơ tiếp theo là dòng hồi tưởng cùa tác giả về những kỉ niệm của những năm
tháng sống bên cạnh bà. Lời thơ giản dị như lời kể, như những câu văn xuôi, như
thủ thỉ, tâm tình, tác giả như đang kể lại cho người đọc nghe về câu chuyện cổ tích
tuổi thơ mình. Nếu như trong câu chuyện cồ tích của những bạn cùng lứa khác có

16
hú khắc khoải làm cho dòng kỉ niệm của đứa cháu trải dài hơ, rộng hơn trong cái
không gian xa thẳng của nỗi nhớ thương.
Nếu như trong những năm đói kém của nạn đói 1945, bà là người gắn bó với tác
giả nhất, yêu thương tác giả nhất thì trong tám năm ròng của cuộc kháng chiến
chống Mĩ, tình cảm bà cháu ấy lại càng sâu đậm:
“Mẹ cùng cha bận công tác không về
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học.
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cách đồng xa”
Trong tám năm ấy, đất nước có chiến tranh, hai bà cháu phải rời làng đi tản cư, bố
mẹ phải đi công tác, cháu vì thế phải ở cùng bà trong quãng thời gian ấy, nhưng
dường như đối với đứa cháu như thế lại là một niềm hạnh phúc vô bờ.? cùng bà,
ngày nào cháu cũng cùng bà nhóm bếp. Và trong cái khói bếp chập chờn, mờ mờ
ảo ảo ấy, người bà như một bà tiên hiện ra trong câu truyện cổ huyền ảo của cháu.
Nếu như đối với mỗi chúng ta, cha sẽ là cánh chim để nâng ước mơ của con vào
một khung trời mới, mẹ sẽ là cành hoa tươi thắm nhất để con cài lên ngực áo thì
đoiá với Bằng Việt, người bà vừa là cha, vừalà mẹ, vừa là cách chim, là một cành
hoa của riêng ông. Cho nên, tình bà cháu là vô cùng thiêng liêng và quý giá đối
với ông. Trong những tháng năm sống bên cạnh bà, bà không chỉ chăm lo cho
cháu từng miếng ăn, giấc ngủ mà còn là người thầy đầu tiên của cháu. Bà dạy cho
cháu những chữ cái, những phép tính đầu tiên. Không chỉ thế, bà còn dạy cháu
những bài học quý giá về cách sống, đạo làm người. Nững bài học đó sẽ là hành
trang mang theo suốt quãng đời còn lại của cháu. Người bà và tình cảm mà bà
dành cho cháu đã thất sự một chỗ dựa vững chắc về cả vật chất lẫn tinh thần cho
đứa cháu be ùbỏng. Cho nên khi bây giờ nghĩ về bà, nhà thơ càng thương bà hơn
vì cháu đã đi rồi, bà sẽ ở với ai, ai sẽ người cùng bà nhóm lửa, ai sẽ cùng bà chia
sẻ những câu chuyện những ngày ở Huế, Thi sĩ bổng tự hỏi lòng mình: “Tu hú

“Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn,
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”.
Hình ảnh ngọn lửa toả sáng trong câu thơ, nó có sức truyền cảm mạnh mẽ. Ngọn
lửa của tình yên thương, ngọn lửa của niềm tin, ngọn lửa ấm nồng như tình bà
cháu, ngọn lửa đỏ hồng si sáng cho con đường đứa cháu. Bà luôn nhắc cháu rằng:
nơi nào có ngọn lửa, nơi đó có bà, bà sẽ luôn ở cạnh cháu.
Những dòng thơ cuối bài cũng chính là những suy ngẫm về bà và bếp lửa mà nhà
thớ muốn gởi tới bạn đọc, qua đó cũng là nh74ngbài học sâu sắc từ công việc nhó,
lửa tưởng chừng đơn giản:
“ Nhóm bếp lửa ấp iu, nồng đượm”
Một lấn nữa, hình ảnh bếp lửa “ ấp iu”, “nồng đượm” đã được nhắc lại ở cuối bài
thơ như một lần nữa khẳng định lại cái tình cảm sâu sắc của hai bà cháu.
“Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi”
Nhóm lên bếp lửa ấy, người bà đã truyền cho đứa cháu một tình yêu thương những
người ruột thịt và nhắc cháu rằng không bao giờ được quên đi những năm tháng
nghĩ tình, những năm tháng khó khăn mà hai bà cháu đã sống vơi nhau, những
năm tháng mà hai bà cháu mình cùng chia nhau từng củ sắn, củ mì.
“Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui”
“Nồi xôi gạo mới sẻ chung vui” của bà hay là lời răng dạy cháu luôn phải mở lòng
ra với mọi người xung quanh, phải gắn bó với xóm làng, đừng bao giờ có một lối
sống ích kỉ.
“Nhóm dậy cả những tâm tinh tuổi nhỏ”.
Bà không chỉ là người chăm lo cho cháu đấy đủ về vật chất mà còn là người làm
cho tuổi thơ của cháu thêm đẹp, thêm huyền ảo như trong truyện. Người bà có trái
tim nhân hậu, người bà kì diệu đã nhóm dậy, khơi dậy, giáo dục và thức tỉnh tâm
hồn đứa cháu để mai này cháu khôn lớn thành người. Người bà kì diệu như vậy
ấy, rất giản dị nhưng có một sức mạnh kì diệu tứ trái tim, ta có thể bắt gặp người
bà như vậy trong “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh:
18
“Tiếng gà trưa

tác giả bộc lộ tâm trạng nhớ nhung cùng với những tình cảm yêu thương xen lẫn cảm phục của
mình đối với người bà thân yêu.
Đi ra từ nỗi nhớ, tất cả những hình ảnh, ngn6 từ bị cuốn theo dòng hoài niệm. Một thờ wá khứ đc tái
hiện lại trong tâm tưởng với những chi tiết rất cụ thể. Tác giả nâng niu từng mảnh ký ức ký ức hiện
về. Theo diễn biến tâm tư của ngân vật người cháu, chúng ta cảm nhận thắm thía từng cung bậc
tâm trạng theo từng ngọn lủa trong bài thơ: lửa của kỷ niệm tuổi thơ, lửa của cuộc sống lúc đã
trưởng thành ; bếp lửa của bà ngày xưa, bếp lửa ngày nay.
Sống xa quê hương, giã từ xứ lạnh đầy sương tuyết, tác giả chạnh lòng nhớ đến một bếp lửa thật
ấm áp của quê hương. Bêp lửa gắn chặt với hinh ảnh người bà, bếp lửa của 1 thời thơ ấu với nhiều
kỷ niệm khó phai.
"Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Chàu thương bà biết mấy nắng mưa"
Trong mấy câu thơ mở đầu có một bếp lửa chờn vờn mang màu cổ tích. Hình ảnh "chờn vờn sương
19
sớm" thật sống động, gợi lên ngọn lửa ko định hìnhm khi to khi nhỏ, khi lên khi xuống nhưng rất
mạnh mẽ. Sử dụng hình ảnh ấy rất thích hợp với trạng thái tâm lý hồi tưởng những z đã wa, đã rời
ra nhưng lại có sức ám ảnh day dứt. Từ láy "ấp iu" bao gồm hàm ý bé nhỏ, thầm kín bên trong,
đồng thời còn gợil ên cho ta bàn tay khéo léo, kiên nhẫn và chăm chút của người nhóm lửa. Điệp
ngữ "một bếp lửa" đc lặp lại ở đầu những câu thơ có tác dụng nhấn mạnh dấu ấn kỷ niệm sâu lắng
trong ký ức tác giả. Nó trở thành hình tương xuyên suốt hết bài thơ. Hồi tưởng về bếp lửa của quê
hương, cũng chính là hồi tưởng về người bà thân yêu của mình. "Cháu thương bà biết mấy nắng
mưa". Đọng lại trong 3 dòng thơ đầu có lẽ là chữ "thương" và hình ảnh người bà lặng lẽ, âm thầm
trong khung cảnh lầm lũi "biết mấy nắng mưa". Hai chữ "nắng mưa" ko chỉ để nói đến nắng mưa
của thiên nhiên mà còn gợi cho ta nghĩ đến nắng mưa cuộc đời. Biết bao tình cảm xúc động mà
nghẹn ngào trong câu thơ ấy!
Từ tình thương và nỗi nhớ da diết tràn đầy đã đánh thức tác giả sống lại với những năm tháng ấu
thơ.
"Lên 4 tuổi
còn cay !"

Đứa cháu lớn dần, cuộc sống khó khăn hơn trước song nghị lực của bà vẫn bền cững, tấm lòng của
bà vẫn nhân hậu, mênh mông. Lời người bà dặn cháu thật nôm na nhưng chân thực và cảm động.
"Bố ở chiến khu bố còn việc bố - Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ ." Gian khổ, thiếu thốn và nhớ
nhung cần phải che giấu cho con người đi xa đc yên lòng. Tấm lòng người bà thương con thương
cháu ân cần, chu đáo biết bao.
"Rồi sớm rồi chiều
dai dẳng."
Trong những câu của khổ thơ này, hình ảnh "bếp lửa" đã chuyển thành "ngọn lửa" trong ý nghĩ
tượng trưng, khái quát. "Bếp lửa" với những ấm áp bình lặng của tình cảm gia đình, của tình bà
cháu, đã trở thành ngọn lửa của trái tim, của niềm tin và sức sống mãnh liệt con người. Tình thương
và lòng nhân ái bao la của con người mãi ấm nóng, bền bỉ tỏa sáng, trường tồn.
Từ cảm xúc nhớ thương của đứa cháu nhỏ với bà, tác giả đã chuyển sang bộc lộ những cảm xúc,
suy nghĩ của 1 thanh niên đã trường thành đối với người bà trong hiện tại.
20
"Lận đận
bếp lửa!"
Chiến tranh đã đi wa, những gian khổ đã vơi bớt, cuôc sống đã đổi thay nhưng bà vẫn giữ thói quen
"thói quen dậy sớm", bếp lửa của bà vẫn "ấp iu nồng đượm" nhuw ngày nào. Điệp từ nhóm đc nhắn
lại 4 lần mang bốn nghĩa khác nhau, tỏa sáng dần nét "kỳ lạ", thiêng liêng và nhất là tình nghĩa của
bà. Nếu trc đây, đó là ngọn lửa nồng đươm nhóm niềm tin trong những ngày gian khổ, khó khăn vì
vật vã đói kém., thì bây giờ ngọn lửa ấy còn nhóm lên trong lòng tác giả bao vẻ đẹp khác nữa.
"Nhóm mở rộng tấm lòng đoàn kết, gắn bó với làng xóm quê hương. Và cuối cùng, người bà kỳ diệu
ấy "nhóm dậy", thức tỉnh và bồi đắp cho đứa cháu về tâm hồn bếp lửa ấp iu nồng đượm" ấy là bếp
lửa có thật, có ánh sáng và hơi ấm. "Nhóm niềm yêu thương" có nghĩa là bà truyền cho cháu tình
ruột thịt nồng đượm, ngọt ngào. "Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui" hay cũng chính là bà và cách
sống. Âm đệiu trong đạon thơ này dạt dào như sóng dồi, lan tỏa như lửa ấm hay đây chính là cảm
xúc đang dâng trào, đang tỏa ấm trong trái tim nhà thơ?Mỗi câu, mỗi chữ cứ hồng lên, nồng ấm
biết bao tình cam nhớ thương nhân nghĩa! Có thể nói câu thơ cuối bộc lộ rõ nhất thái độ kính trọng
và cảm xúc đang dâng trào ào ạt trong tâm hồn BV. Câu thơ chỉ có 8 chữ mà có sức khái quát cả
suy nghĩ lẫn tình cảm của tác giả đối với bếp lửa gắn liền hình ảnh người bà, với cách ngắt nhịp là 1

chính là những tháng năm sống bên bà, cùng bà nhóm lên cái bếp lửa thân thương. Không chỉ thế,
điều in đậm trong tâm trí của Bằng Việt còn là tình cảm sâu đậm của hai bà cháu. Chúng ta có thể
cảm nhận điều đó qua bài thơ “Bếp lửa” của ông.
phân tích khổ 1: Bằng Việt thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Bài thơ “
Bếp lưả” được ông sáng tác năm 1963 lúc 19 tuổi và đang đi du học ở Liên Xô. Bài thơ đã gợi lại
những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu, trân
trọng và biết ơn của người cháu với bà, với gia đình, quê hương, đất nước. Tình cảm và những kỉ
niệm về bà được khơi gợi từ hình ảnh bếp lửa. Ở nơi đất khách quê người, bắt gặp hình ảnh bếp lửa,
tác giả chợt nhớ về người bà: “ Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Cháu
thương bà biết mấy nắng mưa.
Bếp lửa_Bằng Việt
21
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm,
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm,
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.
Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói,
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi,
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy.
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu,
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay.
Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa,
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa.
Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà ?
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế,
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế.
Mẹ cùng cha bận công tác không về,
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe,
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học,
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc.
Tu hú ơi chẳng đến ở cùng bà,

Bằng Việt cũng có riêng ông một kỉ niệm, đó chính là những tháng năm sống bên bà,
cùng bà nhóm lên cái bếp lửa thân thương. Không chỉ thế, điều in đậm trong tâm trí
của Bằng Việt còn là tình cảm sâu đậm của hai bà cháu. Chúng ta có thể cảm nhận
điều đó qua bài thơ “Bếp lửa” của ông.
Bằng Việt thuộc thế hệ nhà thơ trương thành trong kháng chiến chống Mĩ. Bài thơ
“ Bếp lưả” được ông sáng tác năm 1963 lúc 19 tuổi và đang đi du học ở Liên Xô. Bài
thơ đã gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, đồng thời thể
hiện lòng kính yêu, trân trọng và biết ơn của người cháu với bà, với gia đình, quê
hương, đất nước.
Tình cảm và những kỉ niệm về bà được khơi gợi từ hình ảnh bếp lửa. Ở nơi đất khách
quê người, bắt gặp hình ảnh bếp lửa, tác giả chợt nhớ về người bà:
“ Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.”
Hình ảnh “chờn vờn” gợi lên những mảnh kí ức hiện về trong tác giả một cách chập
chờn như khói bếp. Bếp lửa được thắp lên, nó hắt ánh sáng lên mọi vật và toả sáng
tâm hồn đứa cháu thơ ngây. Bếp lửa được thắp lên đó cũng là bếp lửa của cuộc đời
bà đã trải qua “ biết mấy nắng mưa”. Từ đó, hình ảnh người bà hiện lên. Dù đã cách
xa nữa vòng trái đất nhưng dường như Bằng Việt vẫn cảm nhận được sự vỗ về, yêu
thương, chăm chút từ đôi tay kiên nhẫn và khéo léo của bà. Trong cái khoảnh khắc
ấy, trong lòng nhà thơ lại trào dâng một tình yêu thương bà vô hạn. Tình cảm bà
cháu thiêng liêng ấy cứ như một dòng sông với con thuyền nhỏ chở đầy ắp những kỉ
niệm mà suốt cuộc đời này chắc người cháu không bao giờ quên được và cung chính
từ đó, sức ấm và ánh sáng của tình bà cháu cũng như của bếp lửa lan toả toàn bài
thơ.
Khổ thơ tiếp theo là dòng hồi tưởng cùa tác giả về những kỉ niệm của những năm
tháng sống bên cạnh bà. Lời thơ giản dị như lời kể, như những câu văn xuôi, như thủ
thỉ, tâm tình, tác giả như đang kể lại cho người đọc nghe về câu chuyện cổ tích tuổi
thơ mình. Nếu như trong câu chuyện cồ tích của những bạn cùng lứa khác có bá tiên,
có phép màu thí trong câu chuyện của băng Việt có bà và bếp lửa. Trong những năm

dòng kỉ niệm của đứa cháu trải dài hơ, rộng hơn trong cái không gian xa thẳng của
nỗi nhớ thương.
Nếu như trong những năm đói kém của nạn đói 1945, bà là người gắn bó với tác giả
nhất, yêu thương tác giả nhất thì trong tám năm ròng của cuộc kháng chiến chống
Mĩ, tình cảm bà cháu ấy lại càng sâu đậm:
“Mẹ cùng cha bận công tác không về
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học.
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cách đồng xa”
Trong tám năm ấy, đất nước có chiến tranh, hai bà cháu phải rời làng đi tản cư, bố
mẹ phải đi công tác, cháu vì thế phải ở cùng bà trong quãng thời gian ấy, nhưng
dường như đối với đứa cháu như thế lại là một niềm hạnh phúc vô bờ.? cùng bà,
ngày nào cháu cũng cùng bà nhóm bếp. Và trong cái khói bếp chập chờn, mờ mờ ảo
ảo ấy, người bà như một bà tiên hiện ra trong câu truyện cổ huyền ảo của cháu. Nếu
như đối với mỗi chúng ta, cha sẽ là cánh chim để nâng ước mơ của con vào một
khung trời mới, mẹ sẽ là cành hoa tươi thắm nhất để con cài lên ngực áo thì đoiá với
Bằng Việt, người bà vừa là cha, vừalà mẹ, vừa là cách chim, là một cành hoa của
riêng ông. Cho nên, tình bà cháu là vô cùng thiêng liêng và quý giá đối với ông.
Trong những tháng năm sống bên cạnh bà, bà không chỉ chăm lo cho cháu từng
miếng ăn, giấc ngủ mà còn là người thầy đầu tiên của cháu. Bà dạy cho cháu những
chữ cái, những phép tính đầu tiên. Không chỉ thế, bà còn dạy cháu những bài học
quý giá về cách sống, đạo làm người. Nững bài học đó sẽ là hành trang mang theo
suốt quãng đời còn lại của cháu. Người bà và tình cảm mà bà dành cho cháu đã thất
sự một chỗ dựa vững chắc về cả vật chất lẫn tinh thần cho đứa cháu be ùbỏng. Cho
nên khi bây giờ nghĩ về bà, nhà thơ càng thương bà hơn vì cháu đã đi rồi, bà sẽ ở với
ai, ai sẽ người cùng bà nhóm lửa, ai sẽ cùng bà chia sẻ những câu chuyện những
ngày ở Huế, Thi sĩ bổng tự hỏi lòng mình: “Tu hú ơi, chẳng đến ở cùng bà?”.
Một lời than thở thể hiện nỗi nhớ mong bà sâu sắc của đứa cháu nơi xứ ngươi. Chỉ

của tình yên thương, ngọn lửa của niềm tin, ngọn lửa ấm nồng như tình bà cháu,
ngọn lửa đỏ hồng si sáng cho con đường đứa cháu. Bà luôn nhắc cháu rằng: nơi nào
có ngọn lửa, nơi đó có bà, bà sẽ luôn ở cạnh cháu.
Những dòng thơ cuối bài cũng chính là những suy ngẫm về bà và bếp lửa mà nhà thớ
muốn gởi tới bạn đọc, qua đó cũng là nh74ngbài học sâu sắc từ công việc nhó, lửa
tưởng chừng đơn giản:
“ Nhóm bếp lửa ấp iu, nồng đượm”
Một lấn nữa, hình ảnh bếp lửa “ ấp iu”, “nồng đượm” đã được nhắc lại ở cuối bài
thơ như một lần nữa khẳng định lại cái tình cảm sâu sắc của hai bà cháu.
“Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi”
Nhóm lên bếp lửa ấy, người bà đã truyền cho đứa cháu một tình yêu thương những
người ruột thịt và nhắc cháu rằng không bao giờ được quên đi những năm tháng nghĩ
tình, những năm tháng khó khăn mà hai bà cháu đã sống vơi nhau, những năm
tháng mà hai bà cháu mình cùng chia nhau từng củ sắn, củ mì.
25

Trích đoạn Những nét nổi bật về nghệ thuật của bài thơ: sáng tạo hình tượng bếp lửa vừa thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng; kết hợp miêu tả, biểu cảm, tự sự và bình
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status