CẬP NHẬT KHUYẾN CÁO VỀ TẠO NHỊP TIM VÀ CRT
I. Chỉ định tạo nhịp tim vĩnh viễn trong bệnh lý nút xoang
Loại I:
(1) Hội chứng suy nút xoang với biểu hiện nhịp chậm xoang kèm theo nhiều đoạn ngưng xoang có triệu
chứng.
(2) Nhịp chậm không thích hợp có triệu chứng.
(3) Nhịp chậm xoang có triệu chứng gây ra bởi thuốc điều trị thiết yếu cho một bệnh lý khác.
Loại IIa:
(1) Nhịp chậm xoang dưới 40 ck/ph và có mối liên quan rõ giữa nhịp chậm và triệu chứng lâm sàng và không
kèm theo các tình trạng nhịp chậm trầm trọng khác.
(2) Ngất không rõ nguyên nhân nhưng có bằng chứng của hội chứng suy nút xoang trên lâm sàng và khi
thăm dò điện sinh lý học tim.
Loại IIb:
(1) Nhịp chậm xoang mạn tính (dưới 40 ck/ph lúc thức - awake) gây triệu chứng ở mức độ nhẹ.
Loại III:
(1) Nhịp chậm không gây triệu chứng.
(2) Triệu chứng được cho là do nhịp chậm gây ra xuất hiện ngay cả khi không có nhịp chậm.
(3) Nhịp chậm có triệu chứng gây ra bởi thuốc không phải thiết yếu.
II. Chỉ định tạo nhịp vĩnh viễn trong blốc nhĩ thất mắc phải ở người lớn
Loại I:
(1) Blốc nhĩ thất cấp III hoặc blốc nhĩ thất độ cao ở bất kỳ vị trí giải phẫu nào gây nhịp chậm có triệu chứng
(bao gồm cả suy tim hoặc rối loạn nhịp thất liên quan đến nhịp chậm).
(2) Blốc nhĩ thất cấp III hoặc blốc nhĩ thất độ cao ở bất kỳ vị trí giải phẫu nào gây rối loạn nhịp hoặc các bệnh
lý khác đòi hỏi phải điều trị bằng các thuốc làm chậm nhịp tim.
(3) Blốc nhĩ thất cấp III hoặc blốc nhĩ thất độ cao ở bất kỳ vị trí giải phẫu nào xảy ra ở bệnh nhân không triệu
chứng và nhịp xoang lúc thức nhưng blốc nhĩ thất kèm theo: vô tâm thu ≥ 3,0 giây; nhịp thoát < 40 ck/ph
hoặc chủ nhịp thoát ở dưới nút nhĩ thất.
(4) Blốc nhĩ thất cấp III hoặc blốc nhĩ thất độ cao ở bất kỳ vị trí giải phẫu nào xảy ra ở bệnh nhân không triệu
chứng và nhịp xoang lúc thức nhưng kèm theo rung nhĩ với nhịp chậm và có ít nhất một đoạn ngưng tim trên
5 giây.
(5) Blốc nhĩ thất cấp III hoặc blốc nhĩ thất độ cao ở bất kỳ vị trí giải phẫu nào xảy ra sau khi đốt điện.
(2) Blốc hai nhánh kèm theo blốc nhĩ thất cấp II, loại II.
(3) Blốc luân phiên nhánh phải và nhánh trái.
Loại IIa:
(1) Ngất không chứng minh được là do blốc nhĩ thất nhưng đã loại trừ các nguyên nhân khác, đặc biệt là tim
nhanh thất.
(2) Bệnh nhân không triệu chứng nhưng tình cờ phát hiện đoạn HV kéo dài trên 100 ms khi thăm dò điện
sinh lý học tim.
(3) Blốc dưới His xảy ra khi kích thích nhĩ không phải là đáp ứng sinh lý bình thường.
Loại IIb:
(1) Blốc hai nhánh hoặc bất kỳ nhánh nào xảy ra trên bệnh nhân có bệnh lý thần kinh cơ, gây hoặc không
gây triệu chứng.
Loại III:
(1) Blốc hai nhánh không kèm theo blốc nhĩ thất và không gây triệu chứng.
(2) Blốc phân nhánh kèm theo blốc nhĩ thất cấp I không gây triệu chứng.
IV. Chỉ định tạo nhịp tim vĩnh viễn sau nhồi máu cơ tim cấp
Loại I:
(1) Blốc nhĩ thất cấp II ở vị trí His-Purkinje với blốc nhánh luân phiên hoặc blốc nhĩ thất cấp III ở vị trí bó
His/dưới bó His xuất hiện kéo dài sau nhồi máu cơ tim cấp với ST chênh lên.
(2) Blốc nhĩ thất cấp III hoặc blốc nhĩ thất cấp II độ cao ở vị trí dưới nút nhĩ thất kemd theo blốc nhánh. Nếu
vị trí blốc không rõ ràng, có thể tiến hành thăm dò điện sinh lý tim để xác định.
(3) Blốc nhĩ thất cấp II hoặc cấp III kéo dài và gây triệu chứng.
Loại IIb:
(1) Blốc nhĩ thất cấp II hoặc cấp III tại vị trí nút nhĩ thất kéo dài ngay cả khi không có triệu chứng.
Loại III:
(1) Blốc nhĩ thất thoáng qua không kèm theo rối loạn dẫn truyền trong thất.
(2) Blốc nhĩ thất thoáng qua kèm theo blốc phân nhánh trái trước đơn độc.
(3) Blốc nhánh hay blốc phân nhánh mới xuất hiện không kèm theo blốc nhĩ thất.
(4) Blốc nhĩ thất cấp I không triệu chứng kèm theo blốc nhánh hoặc blốc phân nhánh.
V. Chỉ định tạo nhịp tim vĩnh viễn ở bệnh nhân có Hội chứng tăng nhạy cảm xoang cảnh và ngất qua
trung gian thần kinh
Loại IIa:
(1) Hội chứng QT dài bẩm sinh có nguy cơ cao.
Loại IIb:
(1) Rung nhĩ tái phát gây triệu chứng, không đáp ứng với điều trị thuốc ở bệnh nhân có kèm theo hội chứng
nút xoang bệnh lý.
Loại III:
(1) Ngoại tâm thu thất số lượng nhiều hoặc đa hình thái nhưng không có cơn tim nhanh thất dai dẳng ở bệnh
nhân không có hội chứng QT kéo dài.
(2) Xoắn đỉnh do các nguyên nhân có thể điều chỉnh được.
IX. Chỉ định tạo nhịp trong dự phòng rung nhĩ
Loại III:
(1) Rung nhĩ không kèm theo bất kỳ chỉ định tạo nhịp nào.
X. Chỉ định tạo nhịp điều trị tái đồng bộ tim (CRT) ở bệnh nhân suy tim tâm thu nặng.
Loại I:
(1) Bệnh nhân có chức năng tâm thu thất trái (LVEF) giảm dưới 35%, thời gian phức bộ QRS kéo dài trên
120 ms và nhịp xoang với triệu chứng ở mức độ NYHA III hoặc IV ngay cả khi đã điều trị nội khoa tối ưu
(CRT-P hoặc CRT-D).
Loại IIa:
(1) Bệnh nhân có chức năng tâm thu thất trái (LVEF) giảm dưới 35%, thời gian phức bộ QRS kéo dài trên
120 ms nhưng có rung nhĩ với triệu chứng ở mức độ NYHA III hoặc IV ngay cả khi đã điều trị nội khoa tối ưu
(CRT-P hoặc CRT-D).
(2) Bệnh nhân đang được điều trị tạo nhịp thất với chức năng tâm thu thất trái (LVEF) giảm dưới 35%, mức
độ triệu chứng NYHA III hoặc IV ngay cả với điều trị nội khoa tối ưu (CRT-P).
Loại IIb:
(1) Bệnh nhân có chức năng tâm thu thất trái (LVEF) giảm dưới 35% với mức độ triệu chứng NYHA I hoặc II
sau khi điều trị nội khoa tối ưu nhưng đang có chỉ định cấy máy tạo nhịp vĩnh viễn hoặc ICD với khả năng tạo
nhịp thất thường xuyên.
Loại III:
(1) Bệnh nhân giảm chức năng thất trái nhưng chưa gây triệu chứng và không kèm theo các chỉ định tạo
nhịp tim khác.
(4) Tim bẩm sinh kèm theo nhịp chậm xoang hoặc tình trạng mất đồng bộ nhĩ thất gây ảnh hưởng huyết
động.
(5) Ngất không rõ nguyên nhân trên bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật tim bẩm sinh có blốc nhĩ thất hoàn toàn
thoảng qua lúc mổ hoặc có blốc phân nhánh tồn dư sau phẫu thuật (sau khi đã loại trừ các nguyên nhân gây
ngất khác).
Loại IIb:
(1) Blốc nhĩ thất hoàn toàn xuất hiện thoảng qua sau phẫu thuật đã chuyển về nhịp xoang nhưng còn tồn dư
tình trạng blốc hai nhánh.
(2) Blốc nhĩ thất cấp III bẩm sinh không triệu chứng ở trẻ nhỏ hoặc trẻ vị thành niên với QRS thanh mảnh và
tần số tim chấp nhận được kèm theo chức năng tim bình thường.
(3) Nhịp chậm xoang không triệu chứng ở bệnh nhân sau phẫu thuật sửa chữa hai tâm thất với tần số tim lúc
nghỉ dưới 40 ck/ph hoặc có đoạn ngưng tim trên 3.0 giây.
Loại III:
(1) Blốc nhĩ thất thoảng qua sau phẫu thuật đã chuyển về nhịp xoang với dẫn truyền nhĩ thất hoàn toàn bình
thường.
(2) Blốc hai nhánh không triệu chứng có hoặc không kèm theo blốc nhĩ thất cấp I ở bệnh nhân sau phẫu
thuật tim bẩm sinh và không kèm theo tình trạng blốc nhĩ thất hoàn toàn trước đó.
(3) Blốc nhĩ thất cấp II, loại I không gây triệu chứng.
(4) Nhịp chậm xoang không triệu chứng với đoạn ngừng tim dài nhất không đến 3 giây và tần số tim chậm
nhất trên 40 ck/ph.
XIII. Các chỉ định cấy máy phá rung tự động (ICD)
Loại I:
(1) Các trường hợp sống sót sau ngừng tim do rung thất hoặc tim nhanh thất sau khi đã xác định nguyên
nhân và loại trừ các nguyên nhân có thể điều chỉnh được.
(2) Cơn tim nhanh thất bền bỉ xuất hiện tự phát trên bệnh nhân có bệnh tim thực tổn có hay không gây rối
loạn huyết động.
(3) Ngất chưa khẳng định nguyên nhân nhưng gây được cơn tim nhanh thất bền bỉ có rối loạn huyết động
hoặc rung thất khi thăm dò điện sinh lý học tim.
(4) Bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim ít nhất 40 ngày có chức năng tâm thu thất trái (LVEF) dưới 35% và mức
độ cơ năng NYHA II hoặc III.
khi thỏa mãn các chỉ định cấy ICD ở trên.
(2) Tim nhanh thất và rung thất dai dẳng, không thể ngưng được cơn.
(3) Bệnh nhân rối loạn tâm thần không hợp tác trong thủ thuật cấy máy và theo dõi sau cấy máy.
(4) Suy tim mức độ NYHA IV đã trơ với điều trị nội và không phải là ứng viên để ghép tim hay tạo nhịp điều
trị tái đồng bộ tim.
(5) Ngất không rõ nguyên nhân ở bệnh nhân không có bệnh tim thực tổn và không gây được các rối loạn
nhịp thất khi thăm dò điện sinh lý tim.
(6) Các trường hợp rung thất hoặc nhanh thất có thể điều trị bằng phẫu thuật hay đốt điện (rối loạn nhịp nhĩ
trên nền hội chứng WPW, tim nhanh thất có nguồn gốc từ đường ra thất phải, các thể tim nhanh thất do vào
lại nhánh… ở bệnh nhân không có bệnh tim thực tổn).
(7) Tim nhanh thất với ở bệnh nhân không có bệnh tim thực tổn gây ra bởi các nguyên nhân cấp tính có thể
điều chỉnh được (rối loạn điện giải, ngộ độc thuốc, sang chấn…).
XIV. Các chỉ định cấy máy phá rung tự động ở bệnh nhân trẻ em và bệnh nhân tim bẩm sinh
Loại I:
(1) Các trường hợp sống sót sau ngừng tim sau khi đã xác định nguyên nhân và loại trừ các nguyên nhân có
thể điều chỉnh được.
(2) Tim nhanh thất bền bỉ có triệu chứng ở bệnh nhân có bệnh tim bẩm sinh sau khi đã làm thăm dò đánh giá
về điện sinh lý tim và huyết động. Đốt điện hay phẫu thuật có thể được lựa chọn thay thế trong một số
trường hợp nhất định.
Loại IIa:
(1) Ngất tái phát không rõ nguyên nhân xảy ra trên bệnh nhân có bệnh tim bẩm sinh kèm theo rối loạn chức
năng thất trái hoặc gây được các rối loạn nhịp thất khi thăm dò điện sinh lý học tim.
Loại IIb:
(1) Ngất tái phát xảy ra trên bệnh nhân bệnh tim bẩm sinh phức tạp kèm theo rối loạn chức năng thất trái
nặng nhưng chưa xác định được nguyên nhân qua các thăm dò không chảy máu và chảy máu.
Loại III:
Giống các chỉ định loại III về ICD ở bệnh nhân người lớn.