MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM THƠ HAI CƯ - Pdf 15

Một số đặc điểm thơ Haicư
Trong truyền thống thơ ca Nhật Bản, thơ haiku giữ một vị trí rất quan
trọng. Nó là một viên ngọc quý giá và là một phần tài sản tinh thần trong
kho tàng văn học Nhật Bản.
Thơ haiku dung hợp và kết tinh nhiều giá trị văn hóa tinh thần của người
Nhật nói riêng và người phương Đông nói chung. Chính vì thế mà thơ
haiku mang hơi thở của Thiền tông, in đậm dấu ấn của thế giới u huyền,
thoát tục, đồng thời chứa đựng trong mình bức tranh thiên nhiên rộng lớn
với những âm thanh màu sắc đặc trưng cho bốn mùa, được thể hiện dưới
một hình thức ngắn gọn, cô đọng. Thơ haiku gắn liền với tên tuổi của
Bashô, Kikaku, Chiyô, Buson, Chôra, lssa, Shiki
I. Vài nét về sự hình thành thể thơ haiku Nhật Bản
Thơ ca Nhật Bản truyền thống thường dựa trên hình mẫu các câu 5 và 7 âm
tiết và tồn tại dưới các hình thức thơ chôka (trường ca), waca (hòa ca) hay
còn gọi là tanca (đoản ca), renca (liên ca). Từ thế kỷ XVl đến thế kỷ XlX,
một thể thơ mới ra đời thay thế cho thể thơ renca, đó là thể haiku.
Thuật ngữ haiku (đọc theo âm Hán Việt là bài cú hay hài cú) không phải
xuất hiện từ thời thịnh hành thể thơ này mà nó được sáng tạo vào năm 1890
theo đề xướng của nhà thơ Shihi (1867-1902) dùng để chỉ những bài thơ
ngắn gồm 3 câu, 17 âm tiết đứng độc lập được bố trí theo thứ tự: 5-7-5.
Thể thơ này vốn được tách ra từ ba câu khổ đầu của thể renca (phần phát
cú hay còn gọi là hokku) đứng độc lập và phát triển mạnh mẽ dưới thời Edo
. Từ đó nó trở thành một thể thơ với tên gọi là haiku hay haikai, hokku.
II. Những đặc điểm về nội dung của thể thơ haiku Nhật Bản
2.1. Thế giới thiên nhiên trong thơ haiku mang nhiều màu sắc rực rỡ, huyền
bí và đầy quyến rũ. Đó là bức tranh thiên nhiên không chỉ có trăng, sao,
hoa, lá, cỏ, cây mà còn là tiếng chim gù trong ban trưa tĩch mịch, tiếng dế
mèn kêu trong đêm, tiếng chim gọi bầy và những áng mây xa, những cơn
sóng, những cánh hoa anh đào Đứng trước biển, trước những chuyển
động của đất trời, con người càng ý thức về bản ngã của mình và lắng nghe
được bước chuyển của thiên nhiên:

chuột vẫn ung dung thong thả uống từng ngụm nước mát của mùa xuân đất
trời.
2.2. Trong thơ haiku nổi bật yếu tố "mùa". Vì thế người ta ví thơ haiku là
tiếng hát của bốn mùa và "mùa" được xem là quí ngữ (Kigo) của thơ haiku.
Sự luân chuyển của "mùa" thể hiện nhịp điệu của thế giới thiên nhiên và
đời sống con người, và đó là sự vận động của thời gian. Khi cái nóng oi
nồng làm tàn lụi những cánh anh đào rực rỡ của mùa xuân qua đi thì cái se
lạnh của mùa thu ùa về làm cho màu xanh chuyển sang màu vàng, tiếng
chim hót bỗng dừng và rồi những bông tuyết trắng xóa bắt đầu rơi báo hiệu
mùa đông đến. Sự xoay vần của tạo hóa trên đất nước đã tạo cho con người
Nhật mang những nét tính cách thật đặt biệt.
Mùa xuân được mô tả nhiều nhất trong thơ haiku không chỉ vì tác giả nhắc
đến từ "xuân" nhiều mà cảnh sắc mùa xuân được miêu tả gắn với con
người. Một bông hoa đại nazma nở e ấp bên hàng dậu cũng gợi lên cảm
hứng cho thi sĩ:
Khi nhìn kĩ
Tôi thấy Nazma nở hoa
Bên hàng dậu (Bashô)
Một tâm hồn bao lần tơi tả đau xót như lssa cũng bao lần hóa làm mưa mùa
xuân đã nhìn thấy sự chuyển mùa sang xuân qua các hiện tượng tự nhiên:
Bồn tắm bốc hơi
Và đêm trăng sáng
Mùa xuân đến rồi! (lssa)
Mùa hạ về với mẫu đơn, diên vĩ, hoa kì,hoa sen với tiếng chim cu hát vang
giữa trưa hè oi ả. Nhiều bài thơ haiku miêu tả cảnh sắc mùa hè bằng tiếng
cu gáy:
Ôi chim cu
Bay lượn và ca hát
Bận rộn xiết bao (Bashô)
Hoặc tiếng ve ran:

Con quạ ô
Sáng mai trong tuyết
Đẹp không ngờ
Ở đây, "con quạ" và "tuyết" bình đẳng với nhau tạo nên một bức tranh "đẹp
không ngờ". Tuyết trắng đẹp nhờ có chú quạ đen làm vật tương phản và
ngược lại chú quạ được tôn thêm màu đen mượt mà, óng ả nhờ tuyết trắng
làm nền. Nhà thơ phát hiện ra cái quy luật tự nhiên của tạo hóa, sự phụ
thuộc và bình đẳng với nhau của vạn vật, đó chính là chân lí của cuộc sống.
Nhà thơ lssa mô tả hình ảnh con bướm và em bé trong vườn hoa:
Trong vườn cánh bướm
Đứa bé bò theo, bướm bay
Đứa bé bò theo, bướm bay
Hình ảnh đứa bé và con bướm song hành vận động vừa mang tính ngẫu
nhiên vừa mang tính tất nhiên. Ở đây, cánh bướm tượng trưng cho cái đẹp
của thế giới nhiều màu sắc mà con người vươn tới. Hai câu thơ lặp lại vừa
thể hiện sự thất vọng của đứa bé vừa nói lên sự vô thường của cuộc đời.
Từ một câu hỏi trong kinh của nhà Phật "Một đóa hoa rơi có thể trở lại trên
cành không?", Moritake viết nên một bài thơ haiku:
Hoa rụng cành
Nơi trở lại - khi tôi nhận ra
Thì ra đàn bướm (Moritake)
Là một nhà sư, Moritake thấu hiểu sâu sắc cái vô thường và bản ngã con
người của triết lý nhà Phật. Vì thế, câu cuối bài thơ haiku, tác giả hạ câu
"thì ra đàn bướm" tạo ra một sự bất ngờ làm nên một tầng nghĩa mới. Về
điều này chúng ta liên tưởng đến hai câu thơ của Mãn Giác Thiền sư
(Việt ): "Chớ thấy xuân tàn hoa rụng hết. Hôm qua sân trước nở nhành
mai".
III. Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ haiku
3.1. Thơ haiku có một cấu trúc nghệ thuật đặc sắc. Một bài thơ haiku rất
ngắn gồm 17 âm tiết và được xếp 3 dòng theo thứ tự 5-7-5: (theo âm tiếng

trong chính nó không hề có mảy may sai biệt nào". Và tiếng vang của nước
do con ếch của Bashô khuấy động lên vẫn còn vang mãi cho đến tận bây
giờ. [I.29]
Ở bài thơ "Con quạ", thi sĩ Bashô mô tả một cảnh đêm thu thật buồn, cô
liêu:
Con quạ về làm tổ
Trên một cành cây khô
Đêm thu
Trong bài thơ này ba sự vật: con quạ, cành cây khô và đêm thu có sự đối
lập với nhau. Nếu "con quạ", "cành cây khô" là cái hữu hạn thì đối lập với
nó là cái vô hạn (đêm thu). Sự tương phản của ba sự vật tạo nên một khung
cảnh thật ảm đạm cô tịch.
3.3. Giới thiệu đề tài để tạo ra sự liên tưởng đối với người đọc cũng là một
nghệ thuật của thơ haiku. Các bài thơ haiku thường chỉ là những nét chấm
phá, gợi mở để độc giả vận dụng trí tưởng tượng nhằm liên tưởng đến các
sự vật và hiện tượng khác. Vì thế, người ta cho rằng thơ haiku giống như
những bức tranh thủy mặc của người Nhật. Nó chứa đựng một khoảng
trống, một khoảng chân không nhưng tràn trề sự sinh động của cuộc sống.
Nhà thơ chỉ phác họa vài dòng về thiên nhiên:
Lá thủy tiên
Dưới làn tuyết mới
Nhè nhẹ trĩu mình (Bashô)
Vẽ lên một chiếc lá thủy tiên thôi mà ta cảm thấy được cả đời sống của cỏ
cây, sự phân định của các mùa Điều này có được là nhờ sự liên tưởng của
người đọc để lấp đầy chỗ trống mà nhà thơ bỏ ngỏ. Chính vì thế mà nhà
thơ Tagor (Ấn Độ) nhận xét, trong thơ haiku "Nhà thơ chỉ giới thiệu đề tài
rồi bước nhanh sang một bên" và "lý do khiến nhà thơ rút nhanh chóng thế
vì người đọc Nhật có quyền năng tinh thần về tưởng tượng rất lớn"
[I.56,57]
Cho đến ngày nay, thơ haiku Nhật Bản vẫn lôi cuốn người đọc nhiều nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status