TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
======
NGUYỄN THỊ THẮM
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI CÔN TRÙNG THIÊN
ĐỊCH TRÊN CÂY NGÔ LAI VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH
HỌC, SINH THÁI HỌC CỦA LOÀI BỌ RÙA ĐỎ NHẬT BẢN
Propylea japonica (Thunberg) TẠI PHÚC THỌ, HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh thái học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN QUANG CƢỜNG
HÀ NỘI, 2017
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trƣớc hết tôi xin bày tỏ lòng
biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Quang Cƣờng, đã tận tình hƣớng dẫn và đƣa
ra những ý kiến quý báu trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài này.
Đồng thời qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS.
Trƣơng Xuân Lam –Trƣởng phòng Côn trùng học thực nghiệm (Viện Sinh
thái và Tài nguyên sinh vật) cùng Ban chủ nhiệm Khoa và các thầy, cô giáo
Khoa Sinh – KTNN, Trƣờng Đại học Sƣ Phạm Hà Nội 2 đã tận tình giúp đỡ,
động viên và tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn
thành khóa luận tốt nghiệp của mình.
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, thầy cô
1.1. Các kết quả nghiên cứu ở ngoài nƣớc ........................................................ 4
1.1.1. Tình hình nghiên cứu thành phần loài côn trùng thiên địch
trên ngô lai trên thế giới ............................................................................. 4
1.1.2. Những nghiên cứu về bọ rùa bắt mồi trên thế giới........................... 7
1.1.3. Những nghiên cứu về nhân nuôi bọ rùa bắt mồi trên thế giới ....... 15
1.2. Các kết quả nghiên cứu ở trong nƣớc ....................................................... 19
1.2.1. Tình hình nghiên cứu các loài côn trùng thiên địch trên ngô lai
ở Việt Nam ................................................................................................ 19
1.2.2. Các nghiên cứu về bọ rùa bắt mồi ở Việt Nam............................... 21
1.2.3. Những nghiên cứu về nhân nuôi bọ rùa bắt mồi ở Việt Nam ......... 31
CHƢƠNG 2. THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ................................................................................................................ 33
2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ............................................................. 33
2.1.1. Địa điểm nghiên cứu ....................................................................... 33
2.1.2. Thời gian nghiên cứu ...................................................................... 33
2.2. Đối tƣợng và vật liệu nghiên cứu ............................................................. 33
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu ..................................................................... 33
2.2.2. Vật liệu nghiên cứu ......................................................................... 33
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu .......................................................................... 33
2.3.1. Phương pháp điều tra thu thập mẫu côn trùng thiên địch ngoài tự
nhiên .......................................................................................................... 33
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu các đặc điểm sinh học của bọ rùa đỏ
nhật bản Propylea japonica ...................................................................... 35
2.4. Các chỉ tiêu theo dõi.................................................................................. 40
2.5. Phƣơng pháp xử lí số liệu ......................................................................... 40
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ....................................................... 42
3.1. Thành phần loài côn trùng thiên địch trên cây ngô lai tại Phúc Thọ,
Hà Nội ............................................................................................................... 42
BRĐNB
: Bọ rùa đỏ nhật bản
BVTV
: Bảo vệ thực vật
cs
: Cộng sự
CT
: Công thức
ctv
: Cộng tác viên
ĐC
: Đối chứng
et al
: Và những ngƣời khác
IPM
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Thành phần loài côn trùng thiên địch trên cây ngô lai tại Phúc
Thọ, Hà Nội .................................................................................. 42
Bảng 3.2: Kích thƣớc các tuổi của ấu trùng bọ rùa đỏ nhật bản Propylea
japonica......................................................................................... 49
Bảng 3.3: Kích thƣớc trứng và nhộng bọ rùa đỏ nhật bản P. japonica .......... 50
Bảng 3.4. Kích thƣớc trƣởng thành bọ rùa đỏ nhật bản Propylea japonica ... 50
Bảng 3.5. Thời gian phát dục của các giai đoạn phát triển loài bọ rùa đỏ
nhật bản Propylea japonica (Nhiệt độ 280C. ẩm độ 70±5%) ....... 52
Bảng 3.6. Khả năng đẻ trứng của bọ rùa đỏ nhật bản P. japonica trong
điều kiện phòng thí nghiệm (Nhiệt độ 280C, ẩm độ 70±5%) ....... 53
Bảng 3.7: Tỷ lệ nở của trứng bọ rùa đỏ nhật bản Propylea japonica do
trƣởng thành ở thế hệ P và thế hệ F1 đẻ ra trong 3 ngày và 7
ngày đầu ........................................................................................ 55
Bảng 3.8. Tỷ lệ sống sót của ấu trùng, nhộng và tỷ lệ nhộng vũ hóa
trƣởng thành bọ rùa đỏ nhật bản Propylea japonica .................... 57
Bảng 3.9. Khả năng ăn mồi của bọ rùa đỏ nhật bản Propylea japonica......... 61
Bảng 3.10. Khả năng ăn mồi của trƣởng thành bọ rùa đỏ nhật bản P.
japonica trong 3 ngày đầu sau khi vũ hóa (Nhiệt độ 280C, ẩm
độ 70±5%) ..................................................................................... 62
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1. Nhân nuôi rệp đậu màu đen Aphis craccivora (Koch) trên cây
đậu đen ............................................................................................ 35
Hình 3.1. Chu trình sống của bọ rùa đỏ nhật bản Propylea japonica............. 46
Hình 3.2. Nhịp điệu đẻ trứng của bọ rùa đỏ nhật bản Propylea japonica
trong 15 ngày đầu tiên..................................................................... 54
chất dinh dƣỡng trở nên gầy yếu, bắp bé, chất lƣợng hạt xấu kém. Theo các
1
tính toán của Tổ chức nông lƣơng thế giới (FAO), sự gia tăng năng suất cây
trồng nông nghiệp trên toàn thế giới chậm hơn khoảng 1,5 lần so với sự gia
tăng tổn thất do dịch hại gây ra (dẫn theo, Phạm Văn Lầm, 1995) [20].
Việc phòng trừ sâu hại trên cây ngô bằng thuốc hóa học có hiệu quả tức
thời, làm giảm mật độ và sự gây hại của sâu hại trên đồng ruộng. Tuy nhiên,
thực tế cho thấy việc lạm dụng quá mức thuốc trừ sâu đã gây ra hậu quả
nghiêm trọng cho sức khỏe con ngƣời và môi trƣờng xung quanh. Do đó, xu
hƣớng chính trong công tác bảo vệ thực vật (BVTV) là sử dụng biện pháp
quản lý tổng hợp dịch hại cây trồng (IPM) biện pháp sinh học là then chốt,
trong đó có những hƣớng đƣợc ƣu tiên, quan tâm và ứng dụng rộng rãi nhằm
bảo vệ, duy trì các loài thiên địch. Bọ rùa là một trong những loài kẻ thù tự
nhiên của rệp hại ngô đã đƣợc biết đến từ lâu không chỉ ở Việt Nam mà cả
trên thế giới.
Bọ rùa là một loài côn trùng thiên địch quan trọng trên đồng ruộng, hầu
hết là các loài đa thực có phổ thức ăn rộng, có thể ăn rệp, sâu non của một số
côn trùng bộ cánh vảy, trứng bọ rùa khác. Cho đến nay Việt Nam có một số
nghiên cứu về bọ rùa. Một trong số đó phải kể đến các công trình nghiên cứu
của Hoàng Đức Nhuận. Ngoài ra còn có một số nghiên cứu khác của tác giả
Mai Phú Qúy, Nguyễn Viết Tùng, Trần Đình Chiến… Hiện chƣa có nghiên
cứu nào về côn trùng thiên địch trên cây ngô lai tại huyện Phúc Thọ, Hà Nội.
Xuất phát từ lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu
thành phần côn trùng thiên địch trên cây ngô lai và một số đặc điểm sinh
học, sinh thái của loài bọ rùa đỏ nhật bản (Propylea japonica) tại Phúc
Thọ, Hà Nội”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu kĩ thuật nhân nuôi bọ rùa đỏ nhật bản và thử nghiệm sử
dụng bọ rùa đỏ nhật bản phòng trừ rệp hại trong điều kiện phòng thí nghiệm.
3
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Các kết quả nghiên cứu ở ngoài nƣớc
1.1.1. Tình hình nghiên cứu thành phần loài côn trùng thiên địch trên ngô
lai trên thế giới
Thành phần côn trùng thiên địch của sâu hại ngô rất phong phú bao
gồm các loài côn trùng bắt mồi và các loài kí sinh. Việc xác định thành phần
côn trùng thiên địch, biến động số lƣợng, đánh giá vai trò của chúng là cơ sở
khoa học trong việc sử dụng chúng để phòng trừ dịch hại. Ở các vùng sinh
thái khác nhau, số lƣợng các loài thiên địch đã phát hiện đƣợc cũng khác
nhau. Trong số các loài thiên đich của sâu hại, cùng với các loài côn trùng ký
sinh thì các loài côn trùng bắt mồi có vai trò quan trọng, trong đó phải kể đến
các loài thuộc nhóm bọ rùa ăn rệp. Từ năm 1888 sự thành công của việc sử
dụng bọ rùa R.cardinalis trừ rệp sáp I.purchasi đã đánh dấu mốc quan trọng
trong phòng chống dịch hại nhờ sử dụng thiên dịch. Theo Lane (2000) [55] đã
ghi nhận 7 loài bắt mồi quan trọng trên ngô gồm Chrysoperla carnea, C.
rufilabris, Chrysopa spp., ruồi ăn rệp Aphidoletes aphidimyza và bọ rùa bắt
mồi Hippodamia convergens, Harmonia axyridis. Các loài côn trùng bắt mồi
này là những tác nhân quan trọng và hiệu quả trong phòng trừ rệp hại. Để
phòng trừ rệp Aphis gossypii, rệp Macrosiphum euphorbiaend và rệp
Aulacorthum solani thì biện pháp phòng trừ sinh học đƣợc ƣu tiên và sử dụng
với việc thả một số loài côn trùng bắt mồi nhƣ ruồi ăn rệp Aphidoletes
aphidimyza và bọ rùa Hippodamia convergens, Hamonia axyridis. Để phòng
chống bọ trĩ hại ngô thì có thể sử dụng loài bọ xít nhỏ thuộc họ Anthocoridae
kết luận: Trong số các loài bắt mồi thì nhóm Phytoseiid đƣợc xem nhƣ một
tác nhân sinh học điều hòa sâu hại ngô có hiệu quả nhất và ƣu thế nhất (Hill
and Waller, 1988; Srivastava & Butani, 1987) [49], [63].
5
Susan (1999) đã xác định loài ruồi bắt mồi trên sâu đục thân ngô
Ostrinia nubilalis và Lydella thompsoni. Trong số đó có 6 loài đã tồn tại đƣợc
ở Mỹ. Tuy nhiên chỉ có 3 loài Eriborus terebran, Macrocentrus gradii,
Lydella thompsoni là có khả năng phân bố rộng và có hiệu quả trong phòng
trừ sinh học. Loài Lydella thompsoni đã trở thành loài bắt mồi quan trọng nhất
trừ sâu đục thân ngô ở nhiều vùng nƣớc Mỹ tỷ lệ sâu đục thân ngô bắt mồi lên
đến 75%.
De Bach (1964) [42] đã nhận xét thành phần thiên địch của sâu đục
thân ngô bao gồm các loài ký sinh và các loài bắt mồi. Nhóm bắt mồi phổ
biến là Orius insidious (Say) (Hemiptera: Anthocoridae), Chysoperl spp.
(Neuroptera: Chrysopidae), các loài bọ rùa (Coleoptera: Coccinellidae).
Các loài côn trùng bắt mồi trên cây ngô đã tiêu diệt đƣợc khoảng 1020% trứng và sâu non của sâu đục thân ngô. Đã tìm thấy 24 loài bắt mồi trên
sâu đục thân ngô. Có 6 loài đã đƣợc nghiên cứu thành công. Trong 6 loài này
có loài ruồi bắt mồi sâu đục thân ngô Lydella thompsoni Herting (Diptera:
Tachinidae) là quan trọng hơn. Nó tiêu diệt trên 30% sâu đục thân ngô ở
nhiều vùng. Nhƣng sự bắt mồi của loài này không ổn định chúng có thể biến
mất ở nhiều vùng. Một số loài bắt mồi khác là Eriborus terebrans
Gravenhorst, Simpiesis viridula và Macrocentris grandii Goidanich (Vidya et
al., 1983) [65].
Thành phần loài côn trùng bắt mồi của các loài sâu hại trên ngô đã
đƣợc nhiều tác giả nghiên cứu, cụ thể là 41 loài côn trùng bắt mồi sâu hại ngô
đã đƣợc ghi nhận, trong đó có nhiều loài có khả năng sử dụng cho hiệu quả
phòng trừ cao nhƣ: Bọ xít bắt mồi Oriorus sp. và bọ mắt vàng Chysoperla sp.
là sự nghiên cứu về phân loại, sự phát triển, sức sinh sản, sự tử vong, nghiên
cứu về sinh thái học, vận dụng bọ rùa vào đấu tranh sinh học bảo vệ cây…
(Hodek, 1973, [53]).
Ở Nam Phi xác định họ bọ rùa Coccinellidae có 8 phân họ.
7
Châu Âu nghiên cứu họ bọ rùa Coccinellidae (Coleoptera, Insecta) đã
đƣợc tiến hành từ rất lâu. Bọ rùa lôi cuốn sự chú ý của các nhà sinh học trong
việc nghiên cứu phân loại khu hệ (Korschefsky, 1933 [57]). Là một họ phổ
biến khắp thế giới, số lƣợng loài càng nhiều. Năm 1949 Grasse đã xác định
đƣợc 2500 loài bọ rùa.
Năm 1955, Crowson xác định đƣợc 3500 loài và đến nay trên thế giới
đã xác định đƣợc 4500-5000 loài bọ rùa (Hodek 1973 [53]; Kuznetsov 2000).
Châu Á phần lớn các quốc gia có nên nông nghiệp phát triển mạnh vì
vậy các nghiên cứu về côn trùng nông nghiệp đặc biệt côn trùng có ích đƣợc
quan tâm nhiều. Bọ rùa là một trong số các nhóm côn trùng có ích đƣợc nhiều
nhà khoa học quan tâm có nhiều ứng dụng trong sử dụng phòng trừ sâu hại.
Các quốc gia có nhiều nghiên cứu và ứng dụng bọ rùa Châu Á gồm Ấn
Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Philipin, Malaysia, Nhật Bản công trình nghiên
cứu về bọ rùa Đông Dƣơng là Gorham (1891) (dẫn theo Hoàng Đức Nhuận,
1982 [32]).
Khu hệ bọ rùa Trung Quốc tƣơng đối gần gũi với khu hệ bọ rùa Việt
Nam. Về phân loại bọ rùa có nhiều nhà khoa học Trung Quốc đã nghiên cứu.
Một trong số đó có thể kể đến đến Pang Xiong Fei (1975), (1982); Pang Hong
(1993) [50] [51].
1.1.2.2. Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học của bọ rùa bắt mồi
Tổng hợp các kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học của các loài bọ
rùa bắt mồi cho thấy, bọ rùa trƣởng thành sau khi vũ hóa đƣợc một vài ngày
2,5 ngày. Trong quá trình phát triển, ở nhiệt độ 20, 25 và 300C ấu trùng bọ rùa
cái tiêu thụ 258,2±11,3; 226,0±8.7 và 224,8 ± 6,6 thiếu trùng rệp đậu màu đen
A. craccivora tuổi 3 và 4, tƣơng ứng; ấu trùng đực tiêu thụ 203,0±14,0;
188,3±6,7 và 187,3±12,5 rệp (Semyanov,1999). Tỷ lệ chết của bọ rùa trƣởng
thành khi ăn dung dịch đƣờng 10% ở 120C là 50% (Ivo Hodek, 2012).
9
Jih Zu Yu và cs. (2005) đã nghiên cứu thiết lập bảng sống và sự bắt
mồi của loài bọ rùa hai mảng đỏ L.biplagiata (Coleoptera: Coccinellidae) khi
cho ăn rệp A.gossypii (Homoptera: Aphididae) trong phòng thí nghiệm ở
250C. Giai đoạn ấu trùng bọ rùa hai mảng đỏ tiêu thụ 1,548±118 rệp. Khả
năng ăn mồi của trƣởng thành bọ rùa ở giai đoạn sau (Khoảng 60-119 ngày từ
khi sinh ra) là 1,319±1,259 rệp. Trung bình trong cả cuộc sống của mình, mỗi
cá thể trƣởng thành tiêu thụ hơn 3,022 rệp. Tỷ lệ chuyển đổi từ số lƣợng con
mồi mà bọ rùa trƣởng thành tiêu thụ vơi số cá thể của thế hệ sau là 10,4.
Những nghiên cứu về đặc điểm của bọ rùa sáu vằn đen .M.sexmaculatus
(Fabr.) (Coleoptera: Coccinellidae) với vật mồi là rệp cỏ linh lăng Theriaphis
trifolii (Monell) đã đƣợc thực hiện trong mùa đông ở Pakisttan. Thời gian
giao phối của bọ rùa sáu vằn đen là 81,8±5,4 phút, giai đoạn đẻ trứng và sau
đẻ trúng là 27,4±4,1 và 4,5±0,3 ngày. Kết quả nghiên cứu về khả năng sinh
sản cho thấy, trƣởng thành cái bọ rùa sáu vằn trung bình đẻ đƣợc 602±75,3
trứng. Thời gian phát dục của trứng ở loài bọ rùa sáu vằn là 8,6 1,2 ngày.
Thời gian đẻ phát triển của ấu trùng tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3 và tuổi 4 của loài bọ
rùa sáu vằn là 7,3±0,6; 4,3±0,2; 3,8±0,3 và 6,7±1,1 ngày. Giai đoạn nhộng
của bọ rùa sáu vằn là 3,6±0,3 ngày. Giai đoạn trƣởng thành của M.
sexmaculatus, (đực và cái) trong nghiên cứu này là 34,9±4,8 và 29,7±1,2 ngày
(Mari, 2004).
Kết quả nghiên cứu của San Rong Zhu và cs. (2006) cho thấy rằng tỷ lệ
Nghiên cứu về sức ăn của loài bọ rùa chữ nhân C.transversalis cho thấy,
tổng số vật mồi mà ấu trùng trƣởng thành đực và cái tiêu thụ trong giai đoạn
sống của chúng đạt cao nhất khi nuôi bằng rệp A.gossypii (tƣơng ứng là
665,30±5,75; 4831,10±123,54 và 5412,30±94,51), thấp nhất là (434,80±4,03;
802,80±34,37 và 905,20±52,48) khi nuôi bằng rệp A.nerii. Khả năng ăn mồi mỗi
ngày của bọ rùa trƣởng thành đực và cái cao nhất khi ăn rệp A.gossypii, trung
bình là 59,20±0,98; 62,98±1,01; sau đó đến rệp A.craccivora 48,20±0,89;
11
52,22±0,18; thấp nhất là rệp A.nerii 20,30±0,98; 21,20±1,11 (Omkar et al.,
2005) [61].
Nghiên cứu về đặc điểm sinh học của bọ rùa đỏ Micraspis discolor
(Fabr.) từ tháng một đến tháng tƣ năm 2007 tại điều kiện nhiệt độ phòng thí
nghiệm 21,020C± 4,50C và ẩm độ 66,05±0,95%. Trung bình giai đoạn trƣớc
đẻ trứng của bọ rùa M. discolor là 5,1±0,48 ngày và thời gian đẻ trứng là
40,10±0,46 ngày. Trung bình mỗi trƣởng thành cái đẻ 235,50±7,96 trứng và
tỷ lệ nở (%) đạt 83,93±2,11. Thời gian phát triển trung bình của trứng là
3,1±0,22 ngày và tổng thời gian phát triển từ trứng đến trƣởng thành là
10,76±1,35 ngày. Giai đoạn tiền nhộng và nhộng tƣơng ứng là 1,50±0,20 và
2,60±0,21 ngày. Tuổi thọ trung bình của trƣởng thành đực và cái tƣơng ứng là
40,20±1,0 và 47,50±0,82 (Chowdhury et al., 2008) (theo Nguyễn Thị Thanh,
2012).
Agarwala B.K., Bardhanroy P. Yasuda H., và Takizawa T. (2003) [41]
đã tiến hành nghiên cứu về ảnh hƣởng của sự cạnh tranh cùng loài và cạnh
tranh khác loài đến khả năng ăn mồi và khả năng đẻ trứng của một số loài bọ
rùa bắt mồi Menochilus sexmaculatus (Fabricius), Coccinella transversalis
(Fabricius) trong phòng thí nghiệm.
1.1.2.3. Những nghiên cứu về một số đặc điểm sinh thái học của bọ rùa bắt mồi
đào M.persicae, và chậm nhất khi ăn trứng bọ phấn B.tabaci. Khi ăn rệp đào,
tất cả ấu trùng bọ rùa đều phát triển hoàn thiện đến giai đoạn trƣởng thành, có
chỉ số tăng trƣởng (tỷ lệ hóa nhộng/số ấu trùng trong ngày) là 13,16 tỷ lệ phát
triển đạt 0,096. Tuổi thọ của trƣởng thành khi không cho ăn là 4,7 0,2 ngày.
Ngƣợc lại, khi ăn trứng bọ phấn, tất cả ấu trùng sống sót đến ấu trùng tuổi hai,
56,7% trong số đó sống sót đến ấu trùng tuổi ba, 13,3% đến ấu trùng tuổi bốn,
chỉ có 6,7% ấu trùng sống sót đến giai đoạn nhộng và nhộng phát triển vũ hóa
ra trƣởng thành dị dạng rồi chết sau một thời gian ngắn. Khi ăn nhộng của bọ
phấn, tất cả ấu trùng sống sót và phát triển hoàn toàn đến giai đoạn trƣởng
13
thành, có chỉ số tăng trƣởng là 10,71 và tỷ lệ phát triển đạt 0,083. Bọ rùa
trƣởng thành có trọng lƣợng cơ thể lớn hơn khi ấu trùng ăn M.persicae so với
trƣởng thành vũ hóa từ ấu trùng ăn nhộng B.tabaci. Trên những cơ sở này, thứ
tự phù hợp của ba loài vật mồi cho sự phát triển của bọ rùa đỏ nhật bản
P.japonica là M.persicae > nhộng B.tabaci> trứng B.tabaci. Đây là ghi nhận
đầu tiên về P.japonica có thể hoàn thành mọi giai đoạn phát triển của nó khi
ăn hoàn toàn nhộng bọ phấn (Shi Ze zhang et al., 2007).
Shi Ze Zhang và cs. (2012) khi nghiên cứu sự ảnh hƣởng của năm loài
rệp đến sự phát triển và sinh sản của bọ rùa đỏ nhật bản P.japonica
(Coleoptera: Coccinellidae) thấy rằng bọ rùa đỏ nhật bản P.japonica là một
trong những tác nhân kiểm soát sinh học có triển vọng nhất miền bắc Trung
Quốc. Mục tiêu của nghiên cứu này là để xác định sự phát triển của trứng, sự
sống của ấu trùng, sức sinh sản và tuổi thọ của trƣởng thành bọ rùa
P.japonica khi nuôi bằng năm loài rệp khác nhau Aphis gossypii (Glover),
Myzus persicae (Sulzer), Aphis craccivora (Koch), Acyrthosiphon pisum
(Harris) và Chaitophorus populeti (Panzer) và mối tƣơng quan giữa mật độ
của chúng với con mồi. Kết quả của nghiên cứu cho thấy giai đoạn trƣớc
bắt mồi là những loài ăn mồi phổ biến nhất và có tác động mạnh mẽ đối với rệp.
Việc xác định con mồi phù hợp đƣợc dựa trên những kết quả về tỷ lệ phát triển ở
các giai đoạn khác nhau, khả năng sinh sản và sự sống sót của bọ rùa (Hodek &
Honek, 1996) [54].
Một số loài bọ rùa bắt mồi đã đƣợc nhân nuôi cho mục đích phòng trừ
sinh học, trong đó phải kể đến các nghiên cứu của Singh và Marwaha (2005) đã
sử dụng thức ăn tự nhiên và thức ăn nhân tạo để nhân nuôi 2 loài bọ rùa bắt mồi
C. septempunctata và M. sexmaculatus. Kết quả cho thấy thức ăn nhân tạo gồm:
Goat liver powder (GLP) + Corn aphid powder (CAP) + mật ong + đƣờng +
multivitamins + vitamin E đã làm tăng tuổi thọ của C. septempunctata từ 115 118,33 ngày, tuổi thọ của M. sexmaculatus tăng lên từ 90 ngày lên 95 ngày. Nhƣ
vậy loại thức ăn tổng hợp này có thể sử dụng để nhân nuôi cá thể của cả 2 loài
bọ rùa C. septempunctata và M. sexmaculatus, tuy nhiên rệp ngô là thức ăn tốt
15
hơn để nuôi sinh sản 2 loài bọ rùa này. Semyanov (2007) đã cung cấp những
thông tin rút ra từ thực tiễn và đƣa ra những kinh nghiệm cho việc nhân nuôi bọ
rùa trong điều kiện phòng thí nghiệm: (1) Điều kiện nuôi bọ rùa phải thuận lợi;
(2) Thức ăn nuôi bọ rùa là rệp hoặc trứng của loài Stitotroga cereallella; (3) Có
phƣơng pháp lƣu giữ để sử dụng chúng khi cần thiết.
Từ thực tiễn Semyanov (2006) đã đƣa ra những kinh nghiệm cho việc
nhân nuôi bọ rùa trong điều kiện phòng thí nghiệm: (1) Điều kiện nuôi bọ rùa
phải thuận lợi; (2) Thức ăn nuôi bọ rùa là rệp hoặc trứng của loài Stitotroga
cereallella; (3) Có phƣơng pháp lƣu giữ để sử dụng chúng khi cần thiết.
Nghiên cứu nhân nuôi trong phòng thí nghiệm loài bọ rùa C.
septempunctata để quan sát tỷ lệ giới tính và tuổi thọ của nó với thức ăn tự
nhiên và nhân tạo cho thấy giữa số lƣợng thức ăn tiêu thụ và số trứng đƣợc tạo
ra có mối tƣơng quan chặt, khả năng sinh sản của C. septempunctata bị ảnh
hƣởng bởi các loại thức ăn. Bọ rùa C. septempunctata thể hiện ăn nhiều rệp R.
thành đƣợc nuôi trong lồng với con mồi là rệp đậu, thực phẩm bổ sung, và giá
thể để đẻ trứng. Ấu trùng tuổi 1 và tuổi 2. Sau khi nở, ấu trùng đƣợc đặt vào
một hộp nuôi mới, trong đó đáy hộp đƣợc lót bằng 2-3 khăn giấy để làm giá
thể bám cho ấu trùng khi lột xác. Thực phẩm bổ sung gồm: phấn hoa, bột xay
thô, trứng bƣớm và trứng tôm biển tƣơng tự nhƣ đối với trƣởng thành. Hai
ngày sau, ấu trùng tuổi 1 đã lột xác thành ấu trùng tuổi hai và sẽ đƣợc chuyển
sang lồng mới với điều kiện nuôi tƣơng tự, tuy nhiên số lƣợng rệp đậu cung
cấp tăng lên, từ 75 - 100 rệp mỗi lồng. Ấu trùng tuổi 3 và tuổi 4 đƣợc nuôi
riêng trong hộp có dung tích 29,6ml. Mỗi hộp nuôi đƣợc cung cấp khoảng 25
rệp đậu hoặc rệp đậu tƣơng Aphis glycines (Mats.). Ấu trùng đƣợc chuyển
sang các hộp nuôi mới sau mỗi hai ngày. Tiền nhông và nhộng đƣợc chuyển
sang một hộp mới trong suốt thời gian hóa nhộng. Trƣởng thành vẫn đƣợc giữ
nguyên từ 24 - 48 giờ trong lồng cho đến khi vân cánh xuất hiện rõ ràng. Sau
đó trƣởng thành mới đƣợc thu và gộp lại với các trƣởng thành khác. Kết quả
đã nhân nuôi thành công liên tục hơn 15 thế hệ của 2 loài bọ rùa bắt mồi C.
17