Nghiên cứu thành phần loài bọ rùa bắt mồi và ảnh hưởng của một yếu tố sinh thái đến đặc điểm sinh học của một loài phổ biến trên rau họ Hoa thập tự ở Mê Linh - Hà Nội - Pdf 41

Header Page 1 of 161.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN

LƯƠNG THÙY LINH

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI BỌ RÙA BẮT MỒI
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT YẾU TỐ SINH THÁI
ĐẾN ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA MỘT LOÀI PHỔ BIẾN
TRÊN RAU HỌ HOA THẬP TỰ Ở MÊ LINH - HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh thái học

HÀ NỘI - 2016

Footer Page 1 of 161.


Header Page 2 of 161.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN

LƯƠNG THÙY LINH

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI BỌ RÙA BẮT MỒI
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT YẾU TỐ SINH THÁI
ĐẾN ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA MỘT LOÀI PHỔ BIẾN
TRÊN RAU HỌ HOA THẬP TỰ Ở MÊ LINH - HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Tôi xin cam đoan rằng: số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận
là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng: mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận
này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều đã được
chỉ rõ nguồn gốc.

Tác giả khóa luận

LƯƠNG THÙY LINH

Footer Page 4 of 161.


Header Page 5 of 161.
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
MỞ ĐẦU

1

1. 1. Lý do chọn đề tài

1

2. 2. Mục đích nghiên cứu


2.1.1. Thời gian nghiên cứu

17

2.1.2. Địa điểm nghiên cứu

17

2.2. Đối tượng nghiên cứu

17

2.3. Phương pháp nghiên cứu

17

2.3.1. Phương pháp nghiên cứu ngoài đồng ruộng

17

2.3.2. Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

18

2.4. Xác định sự ảnh hưởng của một yếu tố sinh thái đến đặc điểm 18
sinh học của một số loài phổ biến trên rau Hoa thập tự ở Mê Linh - Hà
Nội.
2.5. Xử lí số liệu và phương pháp tính toán

19

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

40

TÀI LIỆU THAM KHẢO

41

PHỤ LỤC

Footer Page 6 of 161.


Header Page 7 of 161.
DANH MỤC CÁC BẢNG

STT

Diễn giải

Trang

Bảng 3.1

Thành phần loài bọ rùa bắt mồi trên rau họ Hoa thập tự

21

ở Mê Linh - Hà Nội.
Bảng 3.2

Khả năng đẻ trứng và tỉ lệ nở của bọ rùa 6 vằn trong

33

điều kiện nhiệt độ 280C, độ ẩm 75 - 80%.
Bảng 3.7

Khả năng ăn của các tuổi ấu trùng của bọ rùa chữ nhân

34

Coccinella transversalis
Bảng 3.8

Khả năng ăn của bọ rùa chữ nhân trưởng thành sau 3

35

ngày đầu vũ khí hóa.
Bảng 3.9

Khả năng đẻ trứng của bọ rùa chữ nhân Coccinella

35

transversalis ( to : 27 - 29oC, ẩm độ: 80 - 85oC )
Bảng 3.10

Tỷ lệ nở của trứng bọ rùa chữ nhân Coccinella



Mối quan hệ giữa mật độ của các loài bọ rùa bắt mồi với

26

rệp hại trên` rau bắp cải tại điểm nghiên cứu.

Footer Page 8 of 161.


Header Page 9 of 161.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong đời sống hàng ngày của con người, rau xanh là một thực phẩm
không thể thiếu trong các bữa ăn hàng ngày của con người. Theo dự báo của
tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) thì nhu cầu tiêu
thụ rau của thế giới tăng bình quân 3,6%/ năm trong khi sản lượng rau quả chỉ
tăng 2,6%/năm. Ở Việt Nam, cùng với các chính sách của nhà nước về việc
dồn điền đổi thửa thì diện tích trồng rau tăng lên nhanh chóng cùng với nó là
sản lượng rau cũng tăng lên, nhưng chỉ đáp ứng được khoảng 70% nhu cầu
của người tiêu dùng.
Để đảm bảo năng suất và chất lượng của cây rau thì việc thực hiện các
biện pháp phòng trừ các loại sâu bệnh hại là việc rất cần thiết. Hiện nay, trong
sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam, biện pháp phòng trừ sâu hại đã và đang
được nông dân sử dụng rộng rãi là biện pháp hóa học là chủ yếu mà ở đây là
các loại thuốc bảo vệ thực vật. Thực tế cho thấy biện pháp này đem lại hiệu
quả rất cao, giải quyết một cách nhanh chóng trong việc hạn chế số lượng sâu
hại trên đồng ruộng, cách thức sử dụng đơn giản, thuận tiện, góp phần không
nhỏ vào việc bảo vệ và tăng năng suất cây trồng. Tuy nhiên việc lạm dụng
quá mức thuốc trừ sâu như hiện nay đã làm cho sản phẩm rau khi đưa ra tiêu

của một loài phổ biến trên rau họ Hoa thập tự.
3. Nội dung nghiên cứu
Xác định thành phần loài của nhóm bọ rùa bắt mồi trên cây rau họ Hoa
thập tự tại Mê Linh - Hà Nội. Xác định được loài bọ rùa bắt mồi có mặt
thường xuyên trên đồng ruộng và có ý nghĩa trong việc hạn chế sự gây hại của
rệp hại ngoài tự nhiên.
Xác định mối quan hệ giữa các loài bọ rùa bắt mồi và vật mồi của chúng
trên cây rau họ Hoa thập tự.
Nghiên cứu về tác động của một yếu tố sinh thái đến đặc điểm sinh học
của một loài phổ biến trên rau họ Hoa thập tự ở Mê Linh - Hà Nội.
Đề xuất khả năng sử dụng bọ rùa bắt mồi trong mô hình quản lý tổng
hợp sâu hại trên cây rau họ Hoa thập tự tại Mê Linh - Hà Nội.

2

Footer Page 10 of 161.


Header Page 11 of 161.
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
1.1.1. Những nghiên cứu về thành phần loài bọ rùa bắt mồi
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về phân loại bọ rùa
Coccinellidae ở các vùng địa lý khác nhau.
Ở Bắc Mỹ họ bọ rùa Coccinellidae được Latreille (1807) xác định gồm
4 phân họ, có hơn 450 loài (Latreille, 1807).
Ở Nam Phi họ Bọ rùa Coccinellidae được Latreille (1807) xác định
gồm 8 phân họ: Sticholotidinae, Scymniae, Hyperaspinae, Chilocorinae,
Coccinellinae, Coccidulinae, Noviinae, Epilachninae.
Ở Châu Âu, những nghiên cứu về Bọ rùa đã được tiến hành từ rất lâu.

loài kẻ thù tự nhiên tiêu diệt, trong đó có 2 loài bọ rùa Coccinella
septempuncata và Coccinella undercimpuncata là những loài tiêu diệt tích
cực rệp ngô (Heneidy et al., 1984). Banpot Napompeth (1990) cho biết ở Thái
Lan có 4 loài bọ rùa thuộc họ bọ rùa Coccinellidae là thiên địch của rệp hại
đậu tương.
Theo Kadamshoev (1984), thiên địch của rệp xám hại bắp cải
Brevicoryme brassicae (L.) ở Tajikistan (Liên xô cũ) gồm 20 loài, trong đó có
loài bọ rùa Coccinella septempuncata là một trong số các loài tiêu diệt rệp rất
tích cực. Matthews et al.(1994), nhận xét rằng các loài bọ rùa xuất hiện thường
xuyên và có vai trò hạn chế rệp hại bông. Elmali et al. (1996), thu được khá
nhiều thiên địch của rệp trên lúa mỳ ở Thổ Nhĩ Kỳ, riêng bọ rùa có số lượng
loài phong phú nhất với 14 loài. Chúng có vai trò hạn chế số lượng rệp.
1.1.2. Những nghiên cứu về đặc điểm sinh học của bọ rùa bắt mồi
Tổng hợp các kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học của các loài bọ
rùa bắt mồi cho thấy: Bọ rùa trưởng thành sau khi vũ hóa được một vài ngày
sẽ tiến hành giao phối và thời gian này thường kéo dài từ một đến tám giờ.
Hầu hết các loài đều thực hiện việc giao phối nhiều lần và việc giao phối lặp
đi lặp sẽ giúp tăng khả năng đẻ trứng của bọ rùa trưởng thành cái. Một trưởng
thành cái sẽ giao phối trung bình hơn 20 lần trong giai đoạn sinh sản
(Majerus, 1994). Thời gian đẻ trứng của trưởng thành cái là 20-50 ngày, trứng

4

Footer Page 12 of 161.


Header Page 13 of 161.
sắp nở sẽ chuyển sang màu xám (Majerus, 1994). Tỷ lệ nở của trứng phụ
thuộc vào điều kiện khí hậu nhưng thường 4 - 8 ngày sau khi trứng được đẻ
ra. Thời gian phát triển của giai đoạn ấu trùng thay đổi theo điều kiện thời tiết


Header Page 14 of 161.
mồi là rệp cỏ linh lăng Therioaphis trifolii Monell. trong mùa đông ở
Pakistan. Thời gian giao phối của bọ rùa sáu vằn M. sexmaculatus là 81,8 ±
5,4 phút, giai đoạn đẻ trứng và sau đẻ trứng là 27,4 ± 4,1 và 4,5 ± 0,3 ngày.
Kết quả nghiên cứu về khả năng sinh sản cho thấy, trưởng thành cái bọ rùa
sáu vằn M. sexmaculatus trung bình đẻ được 602 ± 75,3 trứng. Thời gian phát
dục pha trứng của loài bọ rùa sáu vằn M. sexmaculatus là 8,6 ± 1,2 ngày. Thời
gian phát triển của ấu trùng tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3 và tuổi 4 của loài bọ rùa sáu
vằn M. sexmaculatus là 7,3 ± 0,6; 4,3 ± 0,2; 3,8 ± 0,3 và 6,7 ± 1,1 ngày. Giai
đoạn nhộng của bọ rùa sáu vằn M. sexmaculatus là 3,6 ± 0,3 ngày. Giai đoạn
trưởng thành của M sexmaculatus, (đực và cái) trong nghiên cứu này là 34,9 ±
4,8 và 29,7 ± 1,2 ngày.
Nghiên cứu sức ăn của C. transversalis cho thấy, tổng số vật mồi mà ấu
trùng, trưởng thành đực và cái tiêu thụ trong giai đoạn sống của chúng đạt cao
nhất khi nuôi bằng A. gossypii (tương ứng là 665,30 ± 5,75; 4831,10 ± 123,54
và 5412,30 ± 94,51), thấp nhất là (434,80 ± 4,03; 802,80 ± 34,37 và
905,20 ± 52,48) khi nuôi bằng A. nerii. Khả năng ăn mồi mỗi ngày của bọ rùa
trưởng thành đực và cái cao nhất khi ăn rệp A. gossypii, trung bình là 59,20 ±
0,98; 62,98 ± 1,01; sau đó đến rệp A. craccivora 48,20 ± 0,89; 52,22 ± 0,18;
thấp nhất là A. nerii 20,30 ± 0,98; 21,20 ± 1,11 (Omkar G. M. et al, 2004).
Mari et al. (2004)[25] nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài bọ rùa bắt
mồi Coccinella undecimpunctata L. (Coccinellidae : Coleoptera) với con mồi
là rệp cỏ linh lăng Therioaphis trifolii Monell. trong mùa đông Pakistan. Thời
gian giao phối của C. undecimpunctata là 64,5 ± 6,1 phút. Giai đoạn đẻ trứng
và sau đẻ trứng của C. undecimpunctata là 19,9 ± 5,2 và 3,8 ± 0,4 ngày. Kết
quả nghiên cứu về khả năng sinh sản cho thấy, trung bình trưởng thành cái
loài C. undecimpunctata đẻ được 761 ± 85,2 trứng. Thời gian phát dục pha
trứng trung bình của loài C. undecimpunctata là 7,3 ± 1,0 ngày. Thời gian


Tổng tỷ lệ chết từ trứng đến trưởng thành trong điều kiện phòng thí nghiệm là
22,7% trong khi đó ở ngoài tự nhiên là 38.2%. Thời gian giao phối kéo dài
khoảng 67 phút, thời gian trước khi giao phối và thời gian trước đẻ trứng trung

7

Footer Page 15 of 161.


Header Page 16 of 161.
bình tương ứng là 3,8 và 1,8 ngày. Số lượng trứng đẻ ra trung bình của mỗi
trưởng thành cái là 181 quả. Trưởng thành có thể nhịn đói trong 4 ngày, thông
thường tuổi thọ khoảng 62-73 ngày. Bọ rùa C.arcuatus có bốn thế hệ mỗi năm.
1.1.3. Những nghiên cứu về sinh thái học của bọ rùa bắt mồi
* Những nghiên cứu về ảnh hưởng của vật mồi đến đặc điểm sinh học
của nhóm bọ rùa bắt mồi
Agarwala et al. (2001)[16] nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ con mồi
(Aphis craccivora Koch.) đến kích thước của trưởng thành loài bọ rùa sáu vằn
Menochilus sexmaculatus (Fabr.). Tỷ lệ giữa số lượng rệp tiêu thụ và số trứng đẻ
ra của bọ rùa cái cao nhất ở mật độ rệp thấp hơn, ví dụ 5 hoặc 10 rệp trưởng
thành. Lượng thức ăn cung cấp cho ấu trùng sẽ có ảnh hưởng đáng kể kích thước
của trưởng thành cái. Thử nghiệm khả năng ăn mồi cho thấy sau 24 giờ con cái
có kích thước nhỏ hơn tiêu thụ số lượng rệp ít hơn đáng kể và đẻ trứng ít hơn so
với con cái lớn hơn, nhưng hiệu suất chuyển đổi từ thức ăn với trứng vẫn giữ
nguyên, không phụ thuộc vào kích thước. Kết quả cho thấy loài bọ rùa này khai
thác con mồi hiệu quả ở mật độ thấp.
Solangi et al. (2007) [22] nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của
loài bọ rùa sáu vằn Menochilus sexmaculatus Fabr. trong phòng thí nghiệm
với ba loài rệp mồi. Kết quả cho thấy thời gian phát triển pha trứng của bọ
rùa sau vằn M. sexmaculatus là 7,5; 7,1 và 7,2 ngày khi nuôi bằng các loài

thành C. sexmaculata phụ thuộc vào thức ăn, các chỉ tiêu trên đạt cao nhất khi
được nuôi bằng A. craccivora và thấp nhất khi nuôi bằng A. nerii, thứ tự sắp
xếp như sau: A. craccivora > A. gossypii > R. maidis > M. persicae > U.
compositae > L. erysimi > A. nerii.
Shi Ze zhang et al. (2007) [20] đã tiến hành các nghiên cứu để xác định
loại vật mồi phù hợp cho sự phát triển của bọ rùa đỏ Nhật Bản Propylea
japonica (Coleoptera: Coccinellidae). Thử nghiệm nuôi loài bọ rùa P.
japonica với 3 loại vật mồi trong điều kiện phòng thí nghiệm bao gồm trứng
bọ phấn Bemisia tabaci (Gennadius), nhộng bọ phấn B. tabaci, và rệp đào
Myzus persicae (Sulzer). Ấu trùng phát triển nhanh nhất khi ăn rệp đào M.
persicae, và chậm nhất khi ăn trứng bọ phấn B. tabaci. Khi ăn rệp đào M.
persicae, tất cả ấu trùng bọ rùa đều phát triển hoàn thiện đến giai đoạn trưởng

9

Footer Page 17 of 161.


Header Page 18 of 161.
thành, có chỉ số tăng trưởng (tỷ lệ hóa nhộng/số ấu trùng trong ngày) là 13,16
tỷ lệ phát triển đạt 0,096. Tuổi thọ của trưởng thành khi không cho ăn là 4,7 ±
0,2 ngày. Ngược lại, khi ăn trứng bọ phấn B. tabaci, tất cả ấu trùng sống sót
đến ấu trùng tuổi hai, 56,7 % trong số đó sống sót đến ấu trùng tuổi ba, 13,3%
đến ấu trùng tuổi 4, chỉ có 6,7% ấu trùng sống sót đến giai đoạn nhộng và
nhộng phát triển vũ hóa ra trưởng thành dị dạng rồi chết sau một thời gian
ngắn. Khi ăn nhộng của bọ phấn B. tabaci, tất cả ấu trùng sống sót và phát
triển hoàn toàn đến giai đoạn trưởng thành, có chỉ số tăng trưởng là 10,71 và
tỷ lệ phát triển đạt 0,083. Bọ rùa trưởng thành có trọng lượng cơ thể lớn hơn
khi ấu trùng ăn rệp đào M. persicae so với trưởng thành vũ hóa từ ấu trùng ăn
nhộng B. tabaci. Trên những cơ sở này, thứ tự phù hợp của ba loài vật mồi

thuộc 5 phân họ (trong tổng số 6 phân họ bọ rùa) và 60 giống.Triển vọng sử
dụng bọ rùa trong đấu tranh sinh học bảo vệ cây trồng ở Việt Nam là rất lớn.
Hà Quang Hùng và Vũ Quang Côn (1990) [4] thống kê vùng ngoại
thành Hà Nội có 64 loài côn trùng bắt mồi. Trong đó bọ rùa trên lúa có 3 loài,
trên đậu tương có 16 loài, trên cải có tới 8 loài.
Nguyễn Thị Kim Oanh (1996) [13] đã nghiên cứu về kẻ thù tự nhiên
của rệp muội kết quả ghi nhận được 20 loài, trong đó có 11 loài bọ rùa bắt
mồi.
Năm 1999, Viện bảo vệ Thực Vật thống kê có 26 loài bọ rùa khi tiến
hành điều tra các loại côn trùng và bệnh hại trong hai năm 1997-1998, trên
các loại cây ở Việt Nam.
Theo Trần Đình Chiến (2002) [3], nghiên cứu về kẻ thù của sâu hại đậu
tương đã thống kê được trên ruộng đậu tương có 17 loài bọ rùa có ích và 1
loài bọ rùa gây hại.
Phạm Quỳnh Mai (2009) [10] đã điều tra thành phần loài bọ rùa bắt
mồi trên một số cây trồng tại Hà Nội và phụ cận. Trên cây trồng ngắn ngày
thu được 14 loài bọ rùa bắt mồi, thuộc 3 phân họ Chilocorinae, Coccinellinae,
Scymninae. Các loài bọ rùa thuộc phân họ Coccinellinae là những loài chiếm
ưu thế trên cánh đồng trồng lúa và rau màu. Phân họ Coccinellinae có số

11

Footer Page 19 of 161.


Header Page 20 of 161.
lượng loài nhiều nhất, với 10 loài, chiếm tỉ lệ 71,43% tổng số loài thu được,
phân họ Scymninae có 3 loài, chiếm 21,43%, phân họ Chilocorinae có 1 loài
duy nhất, chiếm tỉ lệ 7,14%. Trên các cây ăn quả thu được 38 loài thuộc 5
phân họ Coccidulinae, Chilocorinae, Sticholotidinae, Coccinellinae và

trung bình 75,6 %, còn trưởng thành đạt 81,1 ± 0,99 con/ngày ở điều kiện
nhiệt độ trung bình ở 20,1°C, ẩm độ trung bình 93,1%.
Phạm Văn Lầm (2000) [9]. Trong điều kiện phòng thí nghiệm (nhiệt độ
22 - 26oC, ẩm độ 68 - 78%), nuôi bằng rệp muội cam, thấy thời gian phát dục
của ấu trùng tuổi 1, 2, 3 và 4 tương ứng là 2,0; 1,9; 1,1 và 1,3 ngày, vòng đời
của bọ rùa 6 vệt đen kéo dài 20,3 - 20,5ngày; Nuôi bằngrệp đậu tương, vòng
đời của nó thay đổi từ 19,6 - 20,8 ngày (ở nhiệt độ 25 - 26oC) đến 30,1 - 32,0
ngày (ở nhiệt độ 22 - 24oC). Khi nuôi bằng rệp đậu tương, một bọ rùa trưởng
thành cái đẻ trung bình 114,2 trứng. Tuổi thọ của bọ rùa trưởng thành loài M.
sexmaculatus kéo dài trung bình là 19,2 ngày. Trong cả thời gian phát dục,
một bọ rùa non có thể tiêu thụ hết 129,9 ấu trùng tuổi 2 - 3 của rệp muội cam
hoặc125,0 ấu trùng tuổi 2 - 3 của rầy chổng cánh. Bọ rùa trưởng thành trung
bình trong 1 ngày ăn hết 49,9 ấu trùng rệp muội cam hoặc 4,6 ấu trùng rầy
chổng cánh, hoặc 19,6 sâu non tuổi 1của sâu tơ.
Trần Đình Chiến (2002 [3], cho biết vòng đời của loài bọ rùa bọ rùa 6
vằn Menochilus sexmaculatus trung bình 25,31 ± 2,61 ngày ở 25,9 - 29,0°C
và ẩm độ 81,7 - 90,3%. Trưởng thành cái đẻ trung bình 219,4 quả trứng, ăn
87,6 con rệp đậu tương trên ngày. Chúng có khả năng ăn nhiều loại rệp khác
nhau (rệp đậu tương, rệp ngô, rệp cải) nhưng thích ăn nhất là rệp đậu tương.
Sức ăn của ấu trùng tăng dần từ tuổi 1 đến tuổi 4, tuổi 4 có khả năng ăn cao
nhất, trung bình một ngày đêm ăn hết 59,1 con rệp.
Bọ rùa đen nhỏ Stethorus sp. có vòng đời trung bình từ 14,8 ngày khi
nuôi ở nhiệt độ 30,7°C đến 17,7 ngày ở nhiệt 27,1°C. Một cá thể trưởng
thành cái đẻ trung bình 21,9 - 28,6 trứng. Tuổi thọ của trưởng thành trung
bình là 22,8 - 24,2 ngày. Một cá thể bọ rùa đen nhỏ trong cả đời nó có thể tiêu
diệt khoảng 972,5 trứng nhện đỏ cam. Vòng đời của bọ rùa 17 chấm
Harmonia sedecimnotata dài hơn vòng đời của bọ rùa đen nhỏ Stethorus sp.
và trung bình là 19,1 - 23,2 ngày khi ở nhiệt độ thay đổi từ 30,3°C xuống

13

năng ăn trứng sâu tơ Plutella xylostella của 3 loài bọ rùa trong 24 giờ là

14

Footer Page 22 of 161.


Header Page 23 of 161.
khác nhau, M. discolor có thể ăn 15,3 ± 1,2 trứng sâu tơ và 14,0 ± 0,9 sâu
tơ tuổi 1, trong khi đó loài M. sexmaculatus ăn 7,0 ± 0,6 trứng và 19,6 ±
2,1 sâu tơ tuổi 1. Loài L. biplagiaita ăn 7,0 ± 0,6 trứng và 21,0 ± 1,8 sâu tơ
tuổi 1 (Phạm Văn Lầm và ctv, 2000) [9].
Phạm Văn Lầm (2000) [9] đã nghiên cứu và so sánh khả năng ăn mồi
của bọ rùa 6 chấm M. sexmaculatus và bọ rùa đỏ M. discolor với thức ăn là
thiếu trùng tuổi 2 - 3 của rệp muội Toxoptera aurantii và rầy chổng cánh D.
citri. Trong 24 giờ, một cá thể trưởng thành M. discolor có thể tiêu diệt
trung bình 19,1 thiếu trùng rầy chổng cánh hoặc 38,8 thiếu trùng rệp muội T.
aurantii. Sức ăn tương ứng đối với trưởng thành M. sexmaculatus là 44,6 và
49,9 con/ngày. Cả đời một bọ rùa non của loài M. sexmaculatus tiêu diệt
trung bình 129,9 ấu trùng rệp muội T. aurantii hoặc 125,0 ấu trùng rầy
chổng cánh D. citri.
Ở Việt Nam cũng đã có khá nhiều dẫn liệu về phổ thức ăn, sức ăn mồi
và ảnh hưởng của thức ăn đến nhóm bọ rùa bắt mồi. Nuôi C. transversalis với
thức ăn là rệp xám (B. brassicae) và rệp đậu màu đen (A. craccivora) kết quả
cho thấy thức ăn có ảnh hưởng rõ rệt đến thời gian phát dục và khả năng đẻ
trứng của loài bọ rùa này. Với thức ăn là B. brassicae vòng đời của C.
transversalis là 21 - 34 ngày, trung bình một cặp trưởng thành đẻ được 278
quả trứng (ở nhiệt độ 27 - 29C, 80 - 85%, tương ứng với thức ăn là A.
craccivora thì vòng đời là 14 - 22 ngày, 918 quả trứng/cặp (Nguyễn Thành
Mạnh, Mai Phú Quý, 2008).


Header Page 25 of 161.
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 9 năm 2015 đến tháng 3 năm 2016.
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu
Điều tra thành phần loài bọ rùa được thực hiện ở các vùng trồng rau họ
Hoa thập tự tại Mê Linh - Hà Nội.
Các nghiên cứu về sự ảnh hưởng của một yếu tố sinh thái đến một số
đặc điểm sinh học cơ bản của bọ rùa bắt mồi được thực hiện tại phòng thí
nghiệm của Phòng Côn trùng học Thực nghiệm, Viện Sinh thái và Tài nguyên
sinh vật và tại địa điểm nghiên cứu.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Bọ rùa bắt mồi trên rau họ Hoa thập tự ở huyện Mê Linh - Hà Nội.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp điều tra ngoài đồng ruộng
Điều tra sẽ được tiến hành trên rau họ Hoa thập tự ở một số địa điểm
trồng rau trong huyện Mê Linh - Hà Nội : như xã Tiền Phong, xã Mê Linh, xã
Thạch Đà.
Điều tra thành phần loài bọ rùa bắt mồi trên rau họ hoa thập tự với các
chỉ tiêu theo dõi bao gồm : thành phần loài, loài chiếm ưu thế, loài phổ biến,
thời gian xuất hiện…
Điều tra thu thập bọ rùa bắt mồi và thiên địch của chúng:
Đây là công việc khởi đầu có ý nghĩa quan trọng. Tại mỗi điểm điều tra tiến
hành điều tra sơ bộ để xác định và chọn lựa các điểm điều tra có tính chất đại
diện cho vùng. Tiến hành thu mẫu theo cùng một phương pháp trong tất cả
các điểm điều tra. Tiến hành thu thập rệp hại tập trung trên lá, trên thân rau

17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status