Thông tin Khoa học
ðại học An Giang
Số 29,
06/2007
2
SỰ ðA DẠNG VÀ PHONG PHÚ CỦA CÔN TRÙNG
THIÊN ðỊCH TRÊN VƯỜN CAM QUÝT TẠI MỘT SỐ
ðỊA BÀN THUỘC THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Ths. Nguyễn Thị Thái Sơn
1
NGND.PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Cúc
2
TÓM TẮT
ðề tài ñược tiến hành trên ba ñịa bàn (phường Trà Nóc, phường Long Tuyền thuộc quận Bình Thủy và xã Mỹ
Khánh thuộc huyện Phong ðiền), trên mỗi ñịa bàn ñiều tra 10 hộ trồng cây có múi, sau ñó, chọn ra 12 vườn (ñộc
canh, xen canh, sử dụng thuốc nhiều, sử dụng thuốc ít, mỗi nhóm gồm 3 vườn) ñể ñiều tra ñịnh kỳ (mỗi tháng một
lần từ tháng 8 năm 2004 ñến tháng 9 năm 2005) về côn trùng thiên ñịch. Kết quả ñiều tra nông dân ghi nhận ña số
nông dân có kinh nghiệm trồng cây có múi, tuy nhiên hầu hết ñều không hiểu rõ về thiên ñịch cũng như về dịch hại.
Có ñến 79,3% nông dân sử dụng thuốc hóa học ñể phòng trị côn trùng gây hại. ðã phát hiện ñược 157 loài côn
trùng thuộc 14 bộ với 89 họ, trong ñó 77 loài có ích, 41 loài dịch hại và 39 loài chưa rõ vai trò trong hệ sinh thái.
Kết quả khảo sát cũng ghi nhận chỉ số ña dạng (H=1,91) và chỉ ñồng ñều (E
H
=0.62) cao hơn rõ nét trong những
vườn xen canh sử dụng thuốc ít so với các vườn ñộc canh sử dụng thuốc nhiều. Tuy nhiên không có sự khác biệt về
chỉ số ña dạng Shannon (H) và chỉ số ñồng ñều giữa hai mùa mưa, nắng.
ABSTRACT
phương pháp quan trọng ñầu tiên, ñược ứng dụng tại nhiều nơi, là bảo vệ và tăng cường hoạt ñộng của
các loài thiên ñịch ñã có sẵn trong tự nhiên và nuôi nhân, lây thả trên ñồng ruộng. ðể có thể sử dụng ñược
các phương pháp này, việc nghiên cứu, khảo sát về thành phần, mức ñộ phong phú của các loài thiên ñịch
sẵn có ở ñịa phương là một việc cần phải thực hiện ñầu tiên. Tại Việt Nam, các công trình khảo sát, ñiều
tra về thiên ñịch cũng ñã ñược tiến hành bởi nhiều tác giả, tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu này ñều tập
trung ở miền Bắc. ðối với ñồng bằng sông Cửu Long nói chung và Cần Thơ nói riêng, hầu như chưa có
một nghiên cứu nào về các nội dung nêu trên. Từ ñó ñề tài ñược thực hiện nhằm làm cơ sở cho việc sử
dụng, bảo tồn các loài thiên ñịch và làm tiền ñề cho việc xây dựng qui trình IPM ñể phòng trừ các loại
1
Giảng viên BM. Khoa học - Cây trồng, K. NN - TNTN. Email:
2
Giảng viên BM. BVTV, K. NN - SHUD, trường ðH Cần Thơ
Thông tin Khoa học
ðại học An Giang
Số 29,
06/2007
3
dịch hại trên cam quýt tại Cần Thơ nói riêng và cho nhiều ñịa bàn khác của ñồng bằng sông Cửu Long nói
chung.
2. PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
Thành phần côn trùng trên các vườn Cam quýt ñược thực hiện tại 3 ñịa bàn: phường Trà Nóc, phường
Long Tuyền (quận Bình Thuỷ) và xã Mỹ Khánh (huyện Phong ðiền) trong thời gian từ tháng 08 năm
2004 ñến tháng 09 năm 2005. Các vườn ñiều tra có tuổi trên bốn năm (diện tích trên 3000m
2
). Bằng biện
pháp ñiều tra nông dân (30 hộ) và ñiều tra trực tiếp ngoài ñồng với các biện pháp quan sát bằng mắt, thu
cam quít nói riêng. Về trình ñộ văn hóa của nông dân, qua ñiều tra chúng tôi nhận thấy có 66,8% nông
dân biết ñọc, viết (cấp I), cấp II chiếm 26,6%, cấp III chiếm 6,6%., hầu hết nông dân ñiều tra ñã có một số
kinh nghiệm trồng cam quít.
Kết quả ñiều tra trên cho thấy: Mặc dù nông dân có nhiều kinh nghiệm trong canh tác Cam Quít
nhưng do trình ñộ học vấn còn thấp (66,8% nông dân là cấp I) nên ñiều này có thể ñã hạn chế mức ñộ tiếp
thu những tiến bộ kỹ thuật mới mà chủ yếu họ chỉ canh tác theo phương pháp cổ ñiển từ xưa tới nay của
từng vùng cụ thể và vì vậy năng suất cũng như phẩm chất trái thường không cao.
Tỷ lệ nông dân sử dụng thuốc ñể phòng trị sâu hại rất cao 79,3%. Số lần phun thuốc từ 7-10 lần/năm
(bao gồm cả thuốc trừ sâu và thuốc trừ bệnh). Mặc dù các vườn nuôi kiến vàng nông dân cũng sử dụng
thuốc, nhưng số lần phun thuốc thấp từ 1-2 lần/năm.
3.2 ðiều tra trực tiếp ngoài ñồng
Trong quá trình ñiều tra nông dân, chọn lại bốn nhóm vườn tiêu biểu ñể tiến hành ñiều tra ñịnh kỳ.
3.2.1 Ghi nhận chung về thành phần côn trùng
Kết quả khảo sát về thành phần côn trùng gây hại và thiên ñịch trên 12 vườn tại 3 ñịa bàn thuộc
phường Trà Nóc, phường Long Tuyền (quận Bình Thuỷ) và xã Mỹ Khánh (huyện Phong ðiền) ghi nhận
14 bộ thuộc lớp côn trùng (insecta) hiện diện với 89 họ, bao gồm các bộ như bộ Cánh màng
(Hymenoptera), bộ Hai cánh (Diptera), bộ Cánh vẩy (Lepidoptera), bộ Cánh ñều (Homoptera), bộ Cánh
cứng (Coleoptera), bộ Cánh thẳng (Orthoptera), bộ Cánh nửa cứng (Hemiptera), bộ Cánh bằng (Isoptera),
bộ Cánh lưới (Neuroptera), bộ ðuôi bật (Collembola), bộ Chuồn chuồn (Odonata), Psocoptera,
Ephemeroptera và bộ Cánh tơ (Thysanoptera), trong ñó có 5 bộ chiếm ña số là bộ Cánh màng
(Hymenoptera), bộ Hai cánh (Diptera), bộ Cánh vẩy (Lepidoptera), bộ Cánh cứng (Coleoptera) và bộ
Cánh ñều (Homoptera).
Thông tin Khoa học
ðại học An Giang
Số 29,
06/2007
4
Kết quả khảo sát về thành phần côn trùng có ích hiện diện trên vườn khảo sát cho thấy, bộ
Hymenoptera phổ biến nhất, với 43 loài ñã ñược phát hiện chiếm 55,8% tổng số loài có ích ñã phát hiện
ñược. Bộ Coleoptera hiện diện phổ biến là nhóm bọ rùa với tám loài, bao gồm Coccinella transversalis,
Harmonia octomaculata, Micraspis discolor, Menochilus sexmaculatus, Anisolemnia dilatata, Rodolia
sp., Cryptogonus sp., Pseudaspidimerus sp. Và ba loài họ Staphylinidae, hai loài họ Carabidae. Bộ
Diptera có tám loài thuộc họ Syrphidae, ba loài thuộc họ Asilidae và một loài thuộc họ Tachinidae và
Pipunculidae.
- Bộ Hymenoptera
ðây là bộ côn trùng có thành phần loài côn trùng có ích nhiều nhất trong vườn cam quýt. Chúng tôi ñã
phát hiện ñược 43 loài thuộc 18 họ, trong ñó nhóm có số loài cao nhất thuộc các họ ong cự
Ichneumonidae và Formicidae (năm loài), kế ñến là ong thuộc họ Scelionidae và Evaniidae (bốn loài), ba
loài thuộc họ ong kén nhỏ Braconidae, họ Eurytomidae, hai loài thuộc họ Chalcididae, Eulophidae,
Figitidae, Gasteruptiidae, Pteromalidae và Platygasteridae và nhóm có số loài thấp nhất thuộc các họ
Cynipidae, Encyrtidae, Scollidae, Pompilidae, Bettylidae, Tiphiidae (một loài). Trong các loài kiến có hai
loài chưa ñịnh danh, ba loài còn lại là: kiến vàng
(Oceophylla smaragdina)
,
kiến hôi
(Dolichoderus
thoracicus)
,
kiến ñen (Tetraponera sp.). Các loài thuộc bộ Hymenoptera thu thập ñược hầu hết từ vợt,
bẫy malaise và bẫy màu vàng. Trong những họ này, các họ xuất hiện nhều nhất là Braconidae,
Eurytomidae, Ichneumonidae và Scelionidae.
Hình 1. Tỷ lệ các bộ (Order) côn trùng có ích phát hiện tại ba ñịa bàn khảo sát,
Cần Thơ, 2005
(08/2004-09/2005)
Nghiệm thức H E
H
Chuyên canh- thuốc ít 1,38ab 0,46
Chuyên canh- thuốc nhiều 1,31b 0,46
Xen canh- thuốc ít 1,72a 0,55
Xen canh- thuốc nhiều 1,45ab 0,48
CV% 13,10 14,60
F * ns
Trong cùng một cột những số có chữ theo sau giống nhau không khác biệt ở mức ý nghĩa 5% theo DMRT
Kết quả khảo sát về chỉ số ña dạng Shannon (H) và chỉ số ñồng ñều (E
H
) giữa các kiểu vườn chuyên
canh, xen canh phun thuốc và phun thuốc ít tại Cần Thơ ñược ghi nhận: kiểu vườn xen canh phun thuốc ít
có chỉ số ña dạng (H=1,72) cao nhất và khác biệt ở mức ý nghĩa 5% với vườn chuyên canh có sử dụng
thuốc nhiều, tuy nhiên chỉ số ñồng ñều (E
H
) giữa bốn kiểu vườn quan sát không khác biệt qua phân tích
thống kê. Theo Lương Minh Châu (1997) trên cùng một loại cây trồng thì biện pháp canh tác khác nhau
cũng ảnh hưởng ñến mật số côn trùng ăn mồi hiện diện. Nhìn chung, số lượng của các nhóm ăn mồi
chiếm ưu thế ở bốn kiểu vườn canh tác, có thể do có nhiều thức ăn làm mồi cho các nhóm này và do ñặc
tính của cây trồng xen cũng thích hợp ñể nhóm này gia tăng số lượng. Khảo sát trên ruộng lúa Lương
Minh Châu (1997) ñã ghi nhận có sự quan hệ chặt chẽ giữa hệ sinh thái và hệ thiên ñịch vì có một sự di
chuyển qua lại của các loài từ vườn cây, bờ cỏ xuống ruộng lúa và ngược lại. Việc này cho thấy sự ña
dạng thành phần loài có thể còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, ngoài yếu tố xen canh và phun thuốc,
như: ñiều kiện ngoại cảnh, sự di cư, thành phần nông dược và các loại nông dược ñã ñược sử dụng. Ngoài
ra còn tùy thuộc vào từng nông hộ canh tác, có những nông hộ chăm sóc vườn một cách tích cực, các tác
ñộng nầy có thể tác ñộng ñến các ñiều kiện cư trú và sự hình thành các loại côn trùng trong các vườn cam
quýt.
phong phú nhưng nhìn chung mật số các loài gây hại ñều rất thấp và xuất hiện rải rác. Trong các loài gây
hại, sâu vẽ bùa Phyllocnistis citrella hiện diện tương ñối phổ biến nhất, ñây cũng là loại bị ký sinh cao
nhất trong các loài sâu ăn lá gây hại trên các vườn cây có múi (Citrus) ñiều tra.
Có sự khác biệt rất rõ nét về chỉ số ña dạng (H) và ñồng ñều (E
H
) về các loài côn trùng thiên ñịch giữa
vườn xen canh phun thuốc ít và vườn chuyên canh phun thuốc nhiều.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Borror Donald J., M. Delong Dwight, and A. Triplehorn Charles. 1976. An introduction to the study of
insects. Fourth Edition.
Naumann, I. D., P. B. Carne, J. F. Lawrence, E. S. Nielsen, J. P. Spradbery, R. W. Taylor, M. J. Whitten,
and M. J. LittleJohn. 1991. The Insects of Australia. Second edition, Volume I, II.
Nguyễn Minh Châu. 1998. ðánh giá tiềm năng cây ăn quả vùng ðBSCL, triển vọng tiêu thụ nội ñịa và
xuất khẩu. Hội thảo Thương Mại hoá trái cây nhiệt ñới Miền Nam Việt Nam, từ 13-13/6/1998, Tiền
Giang.
Nguyễn Thị Thu Cúc. 2002. Dịch hại trên Cam, Quýt, Chanh, Bưởi (Rutaceae) & IPM. Nhà xuất bản
Nông Nghiệp. Trường ðại học Cần Thơ.
Rosenzweig, M. L. 1995. Species Diversity in Space anh Time, Cambridge University Press, New York.
Smith, D. 1997. Citrus pest and their natural enemies.