Khoá luận tốt nghiệp THTT CÔNG NGHệ Hà Nội
Lời nói đầu
Dù kinh doanh ở lỉnh vực nào, mặt hàng gì “ lợi nhuận” luôn là
mục tiêu mà các Doanh nghiệp theo đuổi. Tuy nhiên để đạt được mục
tiêu này, kế toán doanh nghiệp cần phải xác định rõ vai trò và nhiệm vụ
của mình trong việc tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm.
Tổ chức kế toán chi phí tính giá thành sản phẩm một cách khoa
học,hợp lý và đúng đắn có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý và chi
phí, giá thành sản phẩm.Việc tổ chức kiểm tra tính hợp lý của chi phí
phát sinh ở Doanh nghiệp ở từng bộ phận, từng đối tượng, góp phần tăng
cường quản lý tài sản, vật tư lao động, tiền vốn một cách tiết kiệm có
hiệu quả. Mặt khác tạo điều kiện phấn đấu tiết kiệm chi phí hạ giá thành
sản phẩm.Đó là một trong những điều kiện quan trọng tạo cho DN một
ưu thế trong cạnh tranh
Để tồn tại trong cơ chế thị trường mở cửa nhiều DN một đạt được
lợi nhuận cao, thu hút được nhiều kháchđến với DN thì tất cả các DN
phải hoàn thiện tát cả các mặt từ khâu tập hợp chi phí đến xác định giá
thành SP.Bởi vì giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu vừa mang tính khách
quan vừa mang tính chủ quan.
Trước tình hình thực tế đó, và vai trò nhiệm vụ quản lý, tập hợp chi
phí và tính giá thành sản phẩm. Em đã hiểu rõ được để đạt được một
đồng lợi nhuận thì Công ty phải tổ chức và hoàn thiện tất cả mặt tập hợp
chi phí và tính giá thành sản phẩm phù hợp với từng mặt hàng mà công ty
kinh doanh.Vì vậy trong quá trình thực tập tại Công ty khách sạn du lịch
Thắng Lợi em đã hiểu rõ tầm quan trọng của kế toán “tập hợp chi phí và
tính giá thành sản phẩm” và được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong
khoa hạch toán kế toán dặc biệt ;là sự chỉ dẫn của cô giáo Trần Thanh
Lê Hùng Cường _KT2A
1
Khoá luận tốt nghiệp THTT CÔNG NGHệ Hà Nội
Huyền trong TrườngTHTTCN Hà Nội cùng với sự giúp đỡ của cô,
vụ du lịch có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất và nâng cao
đời sống xã hội. ở nước ta trong những năm gần đây, kinh doanh du lịch
trở thành ngành kinh tế quan trọng, nó phát triển mạnh mẽ cả về số
lượnglẩn chất lượng.
Song so với các ngành dịch vụ khác,ngành du lịch có những đặc
điểm kinh tế kỷ thuật riêng.Đó là một ngành kinh doanh đặc biệt vừa
mang tính chất sản xuất kinh doanh vừa mang tính phục vụ văn hoá, xã
hội. Hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch rất đa dạng phong phú, nó bao
gồm các hoạt động: Kinh doanh hướng dẫn du lịch, kinh doanh vận
chuyển du lịch, kinh doanh buồng ngủ, kinh doanh hàng ăn uống, kinh
doanh các dịch vụ khác như ; tắm hơi, masage, giặt là, chụp ảnh, bán
hàng lưư niệm....
Sản phẩm dịch vụ du lịch thường không mang hình thái cụ thể, quá
trình sản xuất kinh doanh gắn liền với quá trình tiêu thụ. Khách hàng mua
sản phẩm du lịch trước khi họ nhìn thấy sản phẩm đó. Đặc điểm này làm
Lê Hùng Cường _KT2A
3
Khoá luận tốt nghiệp THTT CÔNG NGHệ Hà Nội
cho việc tổ chức quản lý và hạch toán chi phí sản xuất sản phẩm trong
ngành du lịch phải dựa vào các bản dự toán, các bản hơp đồng, các đơn
đặt hàng thoả thuận của 2 bên đó là nhà cung cấp và khách du lịch.
Hoạt dộng kinh doanh du lịch mang tính chất thời vụ và phụ thuộc
nhiều vào điều kiện thiên nhiên, môi trường, điều kiện văn hoá, kinh tế-
xã hội của từng vùng. Vì vậy quá trình tập hợp chi phí không ổn định phụ
thuộc vào từng điều kiện.
Sản phẩm du lịch rất đa dạng nhưng lại mang tính đơn chiếc. Mổi
hoạt động kinh doanh du lịch có tính chất khác nhau do đó nội
dung chi phí của từng hoạt động cụ thể cũng khác nhau. Sản phẩm
tiêu thụ theo giá dự toán hoắc thưo giá thoả thuận với khách hang
từ khi ký hợp đồng. Nếu quản lý chi phí tốt thì Công ty có thể
3, Vai trò của kế toán tập hợp chi phí và tính tính giá thành sản
phẩm đối với công tác quản lý kinh tế trong Công ty du lịch.
Giá thành và chất lượng sản phẩm luôn là hai đièu quyết định sự
tồn tại và phát triển của Công ty. Để thực hiện được mục tiêu phẩn đấu
tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, Công ty du lịch phải sử
dụng nhiều biện pháp đồng thời, đồng bộ.Trên góc độ quản lý cần phải
biết nguồn gốc, nội dung cấu thành của giá thành, để tìm ra những
nguyên nhân cơ bản tác động làm tăng hoặc giảm thành, có như thế
người quản ký mới đề ra được biện pháp cần thiết để hạn chế, loại trừ
những yếu tố tiêu cực và khai thác khả năng tiềm tàng, kích thích thúc
đẩy yếu tố tích cực. Mặt khác giá thành được là cơ sở để xác định hiệu
quả sản xuất kinh doanh nên Công ty du lịch cần phải tổ chức công tác kế
Lê Hùng Cường _KT2A
5
Khoá luận tốt nghiệp THTT CÔNG NGHệ Hà Nội
toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo đúng chế
độ nhà nước quy định, thực hiện đúng chuẩn mực kế toán quốc tế .
Thông qua số liệu hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm do bộ phận kế toán cung cấp, các nhà lãnh đạo, quản lý Công ty
biết được chi phí và giá thành thực tế của từng loại hình hoạt động kinh
doanh du lịch, để phân tích và đánh giá tình hình thực hiện các định mức,
dự toán chi phí, tình hình sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn tiết kiệm hay
lảng phí, tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm, từ đó đề ra các
biện pháp hửu hiệu kịp thời nhằm hạ thấp chi phí và giá thành sản phẩm
du lịch. Qua đó dưa ra các quyết dịnh phù hợp với yêu cầu quản trị Công
ty du lịch.
4, Nhiệm vụ của công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành
sản phẩm của các hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch.
Trong hoạt động kinh doanh dịch vụ, đặc biệt là lĩnh vực du lịch,
tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm là điều kiện cần thiết để sản
Sự phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá trình sản xuất
hàng hoá. Quá trình sản xuất hàng hoá là quá trình kết hợp của 3 yếu tố:
Tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Để tiến hành sản
xuất hàng hoá người sản xuất phải bỏ ra chi phí về thù lao lao động, về tư
liệu lao động và đối tượng lao động. Do đó sự hình thành nên các chi phí
sản xuất để tạo ra giá trị sản phẩm là tất yếu khách quan. Để biết được số
Lê Hùng Cường _KT2A
7
Khoá luận tốt nghiệp THTT CÔNG NGHệ Hà Nội
chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra trong từng thời kỳ hoạt động là bao
nhiêu nhằm tổng hợp tính toán các chỉ tiêu kinh tế phục vụ cho hu cầu
quản lý thì toàn bộ hao phí (lao động sống và lao động vật hoá, hao phí
khác) mà doanh nghiệp phải bỏ ra trong một thời kỳ để thực hiện quá
trình sản xuất tạo ra sản phẩm đều phải được biểu hiện bằng tiền.
Như vậy: chi phí sản xuất trong công ty du lịch là biểu hiện bằng
tiền của tòan bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá và các hao
phí cần thiết khác mà công ty phải chi ra để tiến hành các hoạt động sản
xuất trong một thời ky nhất định.
1.2, Phân loại chi phí sản xuất .
Trong công ty du lịch, chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại, mỗi
loại có tính chất, nội dung kinh tế và công dụng khác nhau. Do đó quản
lý đối với từng loại chi phí cũng khác nhau.Tuỳ theo yêu cầu quản lý, đối
tượng cung cấp thông tin, giác độ xem xét chi phí mà chi phí sản xuất có
thể được phân loại theo các cách sau:
• Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của
chi phí
Theo cách này, những chi phí có cùng nội dung, tính chất kinh tế
thì xếp vào một yếu tố khong phân biệt chi phí đó phát sinh ở đâu, lĩnh
vực nào. Toàn bộ chi phí sản xuất của doanh nghiệp được chia thành các
yếu tố:
Khoá luận tốt nghiệp THTT CÔNG NGHệ Hà Nội
Theo cách này, căn cứ vào mục đích công dụng của chi phí trong
sản xuất để chia ra các khoản mục chi phí khác nhau, môĩ khoản mục chi
phí chỉ bao gồm những chi phí có cùng mục đích, công dụng không phân
biệt chi phí đó có nội dung kinh tế như thế nào, toàn bộ chi phí sản xuất
trong công ty du lịch được chia thành các khoản mục:
- Khái niệm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là chi phí các loại vât
liệu chính, vật liệu phụ, vật liệu sử dụng luân chuyển cần thiết để tạo nên
sản phẩm.
- Khoản mục chi phí nhân công trực tiếp: Tiền lương cơ bản các
khoản phụ cấp lươg, lương phụ của công nhân trực tiếp sản xuất: và các
khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, CPCĐ).
- Khoản mục chi phí trực tiếp chung: Bao gồm những chi phí trự tiếp
khác, chi phí cho bộ máy quản lý:Tổ, đội, xí nghiệp. Ngoài 2 khoản mục
trên
+ Theo mối quan hệ với sản lượng sản xuất, khoản mục chi phí sản
xuất chung bao gồm chi phí xản xuất chung cố định và chi phí sản xuất
chung biến đổi.
- Chi phí sản xuất chung cố định là nhưng chi phí sản xuất gián tiếp,
thường không thay đổi theo số lượng sản phẩm sản xuất, như chi phí kết
hợp theo phương pháp bình quân, chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị,
nhà xưởng..vv và chi phí hành chính ở các phân xưởng sản xuất.
- Chi phí sản xuất chung biến đổi là những chi phí sản xuất gián tiếp
thường thay đổi trực tiếp hoặc gần như trực tiếp theo số lượng sản phẩm
Lê Hùng Cường _KT2A
10
Khoá luận tốt nghiệp THTT CÔNG NGHệ Hà Nội
sản xuất như chi phí nguyên liệu vật liẹu giántiếp, chi phí nhân công gián
tiếp.
+ Theo nội dung kinh tế, khoản mục chi phí sản xuất chung bao gồm
Phân loại chiphí sản xuất theo cách này có tác dụng tốt với việc xác
định phương pháp kế toán tập hợp và phân bổ chi phí cho các đối tượng
chịu chi phí một cách đung đắn, hợp lý.
* Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung cấu thành chi phí.
Theo cách phân loại này chi phí sản suất chia thành 2 loại:
- Chi phí đơn nhất: Là chi phí do một yếu tố chi phí duy nhất cấu
thành như chi phí nguyên vật liệu chính dùng trong sản xuất, tiền lương
công nhân sản xuất, chi phíkhấu hao tài sản cố định.
- Chi phí tổng hợp: Là những chi phí bao gồm nhiều yếu tố khác
nhưng có cùng một công dụng, chi phí sản xuất chung.
Cách phân loại này giúp cho việc nhận thức từng loại chi phí trong
việc hình thành sản phẩm, để tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí
thích hợp với từng loại.
1.3, ý nghĩa của công tác quản lý chi phí sản xuất trong qúa trình hoạt
động sản xuấtd kinh doanh ở công ty du lịch.
Lê Hùng Cường _KT2A
12
Khoá luận tốt nghiệp THTT CÔNG NGHệ Hà Nội
- Nhằm góp phần tích cực đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi
phí sản xuất, làm căn cứ để lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố lập
kế hoạch dự trữ vật tư, kế hoạch tiền mặt, kế hoạch sử dụng lao động...kỳ
kế hoạch.
- Xác định phương pháp kế toán tập hợp và phân bổ chi phí cho
các đối tượng chịu chi phí một cách đùng đắn hợp lý nhằm tiết kiệm chi
phí và hạ giá thành sản phẩm nghưng chất lượng vẩn không thay đổi.
2, Giá thành sản phẩm phân loại giá thành sản phẩm
2.1, Giá thành sản phẩm
Để cung cấp một dịch vụ du lịch cho kháchhàng thì Công ty du
lịch phải bỏ vào quá trình cung cấp một lượng chi phí nhất định. Những
chi phí ma Công ty chi ra trong trình cung cấp đó sẻ tham gia cấu thành
thành: theo cách phân loại này, giá thành sản phẩm chia làm 3
loại.
- Giá thành kế hoạch: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở
định mức chi phí sản xuất hiện hành và chỉ tính cho một đơn vị sản
phẩm. Việc tính giá thành định mức được thực hiện trước khi tiến hành
sản xuất, kinh doanh sản phẩm. Giá thành định mức là công cụ quản lý
định mức của DN, là thước đo chính xác để đánh giá kết quả sử dụng tài
sản, vật tư, lao động giúp cho việc đánh giá đúng đắn các giả pháp kinh
Lê Hùng Cường _KT2A
14
Khoá luận tốt nghiệp THTT CÔNG NGHệ Hà Nội
tế, kỷ thuật mà DN thực hiện trong quá trình sản xuất nhằm nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Giá thành thực tế: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở số
hiệu chi phí sản xuất thực tế phát sinh tập hợp được trong kỳ và sản
lượng sản phẩm thực tế đã sảnr xuất trong kỳ. Giá thành thực tế được tính
toán sau khi kết thúc được quá trình sản xuất sản phẩm, giá thành thực tế
là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của DN.
* Phân loại chi phí theo phạm vi tính toán: Theo cách phân loại
này giá thành sản phẩm chia làm 2 loại.
- Giá thành sản xuất ( còn gọi là giá thành công xưởng): Bao gồm
chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí
sản xuất chung tính cho sản phẩm hoàn thành. Giá thàh sản xuất được sử
dụng để ghi sổ kế toán thành phẩm dã nhập kho hoặc giao cho khách
hàng và là căn cứ để DN tính giá vốn hàng bán, tính lợi nhuận gộp của
hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ.
- Giá thành toàn bộ: Bao gồm giá thành sản xuất và chi phí bán
hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho sản phẩm đã bán. Giá thành
toàn bộ của sản phẩm là căn cứ để xác định kết quả hoạt động sản xuất
4, Nội dung tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất.
4.1, Nguyên tắc hạch toán sản xuất và tính sản phẩm.
Cũng giống như các DN sản xuất khác, đối với các Công ty du lịch
việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm du lịch
cũng phải tuân theo chế độ tài chính và chế độ hiện hành.
4.2, Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất .
Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi giới hạn để
tập hợp các chi phí sản xuất phát sinh nhằm đáp ứnh yêu cầu kiểm tra,
giám sát chi phí và yêu cầ tính giá thành sản phẩm. Như vậy thực chất
Lê Hùng Cường _KT2A
16
Khoá luận tốt nghiệp THTT CÔNG NGHệ Hà Nội
của việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là việc xác định nơi
các chi phí đã phát sinh và nơi gánh chịu chi phí.
Tuỳ theo cơ cấu tổ chức sản xuất, trình độ quản lý sản xuất kinh
doanh và yêu cầu hạch toán kinh doan, quy trình công nghệ sản xuất chế
tạo sản phẩm của DN là đơn giản hay phức tạp mà đối tượng kế toán tập
hợp chi phí sản xuất có thể là; từng sản phẩm, từng đơn đặt hàng, toàn bộ
quy trình công nghệ hay từng công nghệ, từng xi nghiệp....
Đối với Công ty du lịch đối tượng tập hợp chi phí là từng hoạt
động kinh doanh ( hướng dẫn viên du lịch, vận chuyển du lịch, kinh
doanh buồng ngủ...) hoặc là từng sản phẩm dịch vụ của mổi hoạt dộng
kinh doanh đó.
+ Nếu Doanh nghiệp tiến hành nhiều hoạt động kinh doanh thì đối
tượng tập hợp chi phí là từng hoạt động kinh doanh (hướng dẫn viên du
lịch, vận chuyển du lịch, kinh doanh buồng ngủ...)
+ Nếu Doanh nghiệp tiến hành hạch toán kinh tế nội bộ thì đối tượng
tập hợp chi phí là từng đơn vị phụ thuộc (từng địa điểm, bộ phận kinh
doanh)
Chi phí kinh doanh du lịch được tập hợp cho từng đối tượng theo
ΣTi
i= 1
Trong đó: H là hệ số phân bổ
C là tổng chi phí dã tập hợp được cần phân bổ
Lê Hùng Cường _KT2A
18
Khoá luận tốt nghiệp THTT CÔNG NGHệ Hà Nội
T
i
là tiêu chuẩn phân bổ của đối tượng i
Chí phí phân bổ cho từng đối tượng tập hợp chi phí có liên quan ( C
i
)
được tính theo công thức:
C
i
= T
i
x H
Tiêu thức phân bổ thường sữ dụng là: chi phí sản xuất, chi phí kế
hoạch, chi phí định mức, chi phí nguyên vật liệu chính, khối lượng sản
phẩm sản xuât...
Lê Hùng Cường _KT2A
19
Khoá luận tốt nghiệp THTT CÔNG NGHệ Hà Nội
4.4, Hệ thống chứng từ và tài khoản sử dụng.
• Hệ thống chứng từ:
Trong Công ty du lịch đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là từng
sản phẩm, từng đơn đặt hàng. Kế oán trưởng tổ chức việc lập chứng từ
hạch toán ban đàu cho từng đối tượng tập hợp chi phí. Đối với vật tư thì
địa điểm phát sinh chi phí. Phản ánh trên TK154 gồm những chi phí
sau:chi phí nhân công trực tiếp, chi phí nguyên vật liệu,cchi phí sản
xuất chung.
4.5, Trình tự kế toán tập hợp chi phí sản xuất
Kế toán chi tiết tập hợp chi phí sản xuất: Kế toán chi phí sản
xuất phải mở bảng kê tập hợp chi phí sản xuất theo bộ phận sản xuất,
theo từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất. Căn cứ vào các chứng từ
gốc co liên quan đến chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ hoặc Bảng
phân bổ (bảng ke chứng từ) để tập hợp chi phí phát sinh trong kỳ. Cuối
kỳ, kế toán kết chuyển các khoản mục chi phí sản xuất đã tập hợp được
trong kỳ theo tưnnngf đối tượng tập hợp chi phí sản xuất để tính giá
thành sản phẩm, dịch vụ dã hoàn thành theo nguyên tắc sau:
- Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra cao hơn công suất
bình thường thì chi phí sản xuât đã tập hợp được trong kỳ được kếtd
chuyển toàn bộ để tính giá thành sản xuất thực tế sản phẩm.
- Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra thấp hơn công
suất bình thường thì chi phí sản xuất đã tập hợp trong kỳ được phân bổ
vào chi phío sản xuất cho mỗi đơn vị sản phẩm theo mức công suất
binh thường.phần chi phí đã tập hợp còn lại không được tính vào trị
giá hàng tồn kho, được ghi nhận là chi phí sản xuất kinh doanh trong
kỳ.
Lê Hùng Cường _KT2A
21
Khoá luận tốt nghiệp THTT CÔNG NGHệ Hà Nội
4.5.1, Kế toán tập hợp và chi phí NL,VL trực tiếp.
Chi phí NL,VL trực tiếp là chi phí NL,VL chính, vật liệu phụ sử
dụng trực tiếp để sản xuất chế taoj sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ.
- Phương pháp tập hợp và phân bổ:
Chi phí NL,VL trực tiếp thường liên quan trực tiếp đến đối tượng
tập hợp chi phí sản xuất, kế toán căn cứ vào các chứng từ xuất kho vật
vào bên nợ TK154- CP SXKD dở dang
Tk621 không có số dư cuối kỳ và phản ánh chi tiết cho từng đối tượng
tập hợp chi phí.
Phương phát kế toán các hoạt động kinh tế chủ yếu
(1) Căn cứ vào các phiếu xuất kho nguyên liệu vật liệu, phiếu báo vật
liệu còn lai cuối kỳ trước để lai sử dụng cho kỳ này hoặc kết quả kiểm kê
NL,VLcòn lai cuối dể xác định giá trị thực tế NL,VL sử dụng trưc tiếp
cho sản xuất sản phẩm
Nợ TK 621 (chi tiết cho từng đối tượng tập hợp chi phí
Có TK 152
( 2) Trường hợp mua NL, VLsử dụng ngay cho sản xuất:
Nợ TK621 (chi tiết cho từng đối tượng tập hợp chi phí)
Nợ TK133 (thuế GTGT được khấu trừ (nếu có)
Có TK111,112,113
(3) a. Trường hợp NL,VL còn lại cuối kỳ không sử dụng hết, nhưng
để lại ở bộ phân sản xuất. Cuối kỳ, kế toán ghi giảm NL,VL trực tiếp kỳ
này bằng bút đỏ:
Nợ TK621 (chi tiết cho từng đối tượng tập hợp chi phí ) (xxx)
Có TK 152 (xxx)
Đầu kỳ kế toán sau, kế toán ghi tăng chi phí NL,VL trực tiếp:
Lê Hùng Cường _KT2A
23
Khoá luận tốt nghiệp THTT CÔNG NGHệ Hà Nội
Nợ TK621 (chi tiết cho từng đối tượng tập hợp chi phí)
Có TK152
(4) Cuối kỳ, trị giá NL,VL sử dụng không hết nhập lại kho(nếu có)
Nợ TK152
Có Tk621 (chi tiết cho từng đối tượng)
(5) Cuối kỳ, kế toán kết chuyển hoặc phân bổ chi phí NL,VL trực
tiếp tính vào chi phí sản xuất sản phẩm hoặc chi phí sản xuất kinh doanh: