27 Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành vận tải ở Công ty vận tải thuỷ I - Pdf 20

LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động trong cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước,
các doanh nghiệp Nhà nước không còn được bao cấp toàn bộ như trước đây.
Tự bổ xung vốn kinh doanh, hạch toán kinh tế độc lập, lời ăn, lỗ chịu nên việc
tính toán tiết kiệm chi phí bỏ ra, hạ giá thành, đảm bảo có lãi là vấn đề có ý
nghĩa vô cùng quan trọng, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp .
Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vận tải có đặc thù riêng, sản xuất
mang tính thời vụ, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế -
xã hội. Bởi vậy doanh nghiệp cần sử dụng hợp lý, tiết kiệm chi phí bỏ ra, đảm
bảo trang trải, bù đắp những chi phí ban đầu vào quá trình kinh doanh, hạ giá
thành vận tải đem lai lợi nhuận. Giá thành vận tải cao hay thấp phản ánh kết
quả của việc quản lý, sử dụng vật tư, lao động, tiền lương.
Nhận thức đúng vai trò của công tác kế toán tập hợp chi phí và giá
thành, trong thời gian thực tập tại Công ty vận tải thuỷ I, tôi đã tìm hiểu và
hoàn thành đề tài “Tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành vận tải ở Công ty vận tải thuỷ I”.
Đối tượng phạm vi nghiên cứu:
Công ty vận tải thuỷ I thực hiện chức năng, nhiệm vụ vận tải và phục vụ
thoả mãn nhu cầu về cát sỏi xây dựng, cát san nền cho các công trình xây lắp,
bốc xếp các loại hàng hoá, trục vớt các phương tiện bị đắm, thanh thải các
chướng ngại vật trên sông.. song vì thời gian có hạn, tôi chỉ xin đi sâu nghiên
cứu công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành vận tải.
Bản chuyên đề tốt nghiệp bao gồm:
Phần I. Cơ sở lý luận chung về hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành
vận tải tại công ty vận tải thuỷ I.
Phần II. Thực trạng công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành vận
tải tại công ty vận tải thuỷ I.
Phần III. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản
xuất và tính giá thành vận tải ở Công ty vận tải thuỷ I.
PHẦN I

xuất vật chất khác vì vậy có thể nói rằng chi phí vận tải là biểu hiện bằng tiền
của những chi phí lao động vật hoá chi ra cho quá trình hoạt động dịch vụ vận
tải trong một thời kỳ nhất định. Ngoài ra còn bao gồm một phần nhỏ thu nhập
thuần tuý cho xã hội như BHXH, BHYT, KPCĐ.
Trong quá trình quản lý doanh nghiệp cũng cần phân biệt giữa chi phí và
chi tiêu chi phí và chi tiêu là hai khái niệm có quan hệ mật thiết với nhau. Chi
tiêu là cơ sở phát sinh của chi phí, không có chi tiêu thì không có chi phí.
Chi tiêu là sự giảm đi đơn thuần các loại vật tư, tài sản, tiền vốn của
doanh nghiệp, bất kể dùng nó vào mục đích gì.
Chi phí vận tải trong kỳ của doanh nghiệp, gồm toàn bộ giá trị tài sản
hao phí hoặc tiêu dùng hết cho quá trình hoạt động dịch vụ vận tải tính vào kỳ
hạch toán.
Chi phí và chi tiêu không chỉ khác nhau về lượng mà còn khác nhau về
thời gian. Có những khoản chi tiêu kỳ này nhưng chưa tính vào chi phí, có
những khoản tính vào chi phí trong kỳ nhưng thực tế chưa tiêu. Sở dĩ có sự
khác nhau như vậy là do đặc điểm, tính chất vận động và phương thức dịch
chuyển giá trị của từng loại tài sản vào quá trình hoạt động.
- Phân loại chi phí vận tải
Phân loại chi phí vận tải là việc sắp xếp chi phí vào từng loại, từng nhóm
khác nhau theo những đặc trưng quy định. Chi phí bao gồm rất nhiều loại khác
nhau, nhiều khoản khác nhau cả về nội dung, tính chất, công cụ, vai trò.
Để thuận lợi cho công tác quản lý và hạch toán cần thiết phải tiến hành
phân loại chi phí. Xuất phát từ mục đích, yêu cầu khác nhau của quản lý chi
phí cũng được phân loại theo những tiêu thức khác nhau.
Mỗi cách phân loại đều đáp ứng ít nhiều cho quản lý, hạch toán, kiểm
tra, kiểm soát các chi phí phát sinh ở những góc độ khác nhau. Phân loại chi
phí theo những tiêu thức khác nhau. Mỗi cách phân loại đều đáp ứng yêu cầu
của kế toán tập hợp chi phí, thúc đẩy doanh nghiệp không ngừng tiết kiệm chi
phí, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả kinh doanh vì thế các cách phân loại đều
tồn tại, bổ sung cho nhau trong quản lý chi phí và giá thành.

 Phân loại chi phí vận tải theo nội dung chi phí
Theo tiêu chuẩn phân loại này, chi phí vận tải được chia thành các nội
dung sau đây:
1. Chi phí vật liệu trực tiếp
2. Chi phí nhân công trực tiếp
3. Chi phí sản xuất chung
4. Chi phí quản lý doanh nghiệp
Cách phân loại này có ý nghĩa và tác dụng quan trọng trong công tác tài
chính.
- Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất :
Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là một giới hạn nhất định về điểm
phát sinh hoặc đối tượng gánh chịu chi phí mà chi phí được tập hợp theo đó.
Những sản phẩm, lao vụ của doanh nghiệp được sản xuất, thực hiện ở các phân
xưởng, bộ phận khác nhau theo các quy trình sản xuất của doanh nghiệp. Do
đó chi phí sản xuất phát sinh ở các địa điểm khác nhau, cần được tập hợp theo
các yếu tố, khoản mục chi phí cho những phạm vi giới hạn nhất định để phục
vụ cho việc tính giá thành sản phẩm.
Xác định đúng đắn đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là điều kiện để
thực hiện tốt công tác chi phí sản xuất.
Việc xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất cần dựa trên các căn
cứ sau:
 Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (quy trình
sản xuất khép kín hay phân đoạn, sản xuất một hay nhiều loại sản
phẩm, có một hay nhiều phân xưởng…)
 Yêu cầu thông tin của công tác quản lý và trình độ qquản lý của
doanh nghiệp tuỳ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng doanh nghiệp
mà đối tượng hạch toán chi phí có thể là:
 Từng chi tiết, bộ phận sản phẩm, từng sản phẩm riêng biệt, nhóm sản
phẩm hay đơn hàng.
 Từng phân xưởng, bộ phận, giai đoạn công nghệ sản xuất.

Phương pháp này khá phức tạp nên thường được áp dụng ở các đơn vị
chuyên môn hoá sản xuất cao, sản xuất ít sản phẩm hoặc mang tính đơn chiếc,
có ít bộ phận cấu thành sản phẩm.
 Phương pháp hạch toán chi phí theo nhóm sản phẩm.
Theo phương pháp này, sản phẩm của doanh nghiệp sẽ được phân loại
thành từng nhóm theo một tiêu thức nào đó và chi phí sản xuất sẽ được tập hợp
riêng cho từng nhóm.
Khi áp dụng phương pháp này thì giá thành sản phẩm được xác định theo
phương pháp liên hợp, nghĩa là sử dụng đồng thời một số phương pháp như
phương pháp hệ số, phương pháp tỷ lệ và thường được áp dụng rộng rãi trong
các doanh nghiệp sản xuất nhiều chủng loại sản phẩm có quy cách khác nhau.
 Phương pháp hạch toán chi phí theo phân xưởng.
Theo phương pháp này, các chi phí phát sinh sẽ được tập hợp theo từng
đơn vị sản xuất như phân xưởng, tổ, đội sản xuất. Trong mỗi đơn vị sản xuất
này, chi phí lại được phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí như sản phẩm, chi
tiết sản phẩm…
Phương pháp này thường được áp dụng tại các doanh nghiệp có chia
thành nhiều bộ phận sản xuất riêng lẻ.
 Phương pháp hạch toán chi phí theo giai đoạn công nghệ.
Theo phương pháp này, các chi phí phát sinh được tập hợp, phân loại theo
từng giai đoạn công nghệ. Chi phí sẽ được tập hợp theo từng loại bán
thành phẩm hay thành phẩm và giá thành se được xác đinhj theo phương
pháp tổng cộng chi phí của các giai đoạn.
Phương pháp này thường được áp dụng ở các doanh nghiệp có dây truyền
sản xuất phức tạp, sản xuất liên tục..
 Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo đơn đặt hàng.
Theo phương pháp này, chi phí sẽ được tập hợp riêng cho từng đơn đặt
hàng riêng biệt và giá thành sẽ là tổng chi phí phát sinh cho tưng đơn đặt hàng
đó. Đối với chi phí vật liệu và chi phí nhân công trực tiếp thì được tập hợp trực
tiếp theo từng đơn đặt hàng riêng, còn chi phí sản xuất chung thì sẽ được tập

đúng nội dung kinh tế, đúng đối tượng chịu chi phí. Tính đủ là hạch toán đầy
đủ chính xác các khoản chi phí phát ssinh trong kỳ).
- Phản ánh đầy đủ, kịp thời các chi phí phát sinh trong kỳ lên hệ thống sổ
chi tiết và sổ tổng hợp để đáp ứng nhu cầu thông tin kế toán cho quản trị doanh
nghiệp.
 Tổ chức chứng từ – cơ sở ban đầu hạch toán chi phí sản xuất.
Cơ sở số liệu của hạch toán kế toán là các chứng từ kế toán. Hạch toán chi
phí sản xuất xem xét hệ thống chứng từ gốc và chứng từ ghi sổ để phản ánh
các chi phí phát sinh lên sổ kế toán. Chứng từ có thể gồm : Phiếu chi tiền mặt,
bản thanh toán lương, phiếu xuất kho…
Muốn tổ chức hạch toán chi phí sản xuất một cách nhanh trong, chính xác
thì cần phải tổ chức chứng từ hạch toán chi phí ban đầu (bao gồm lập và luân
chuyển chứng từ) một cách đầy đủ, hợp lý đối với các chi phí trực tiếp, và xác
định việc lập, luân chuyển các chứng từ kế toán đến đúng khoản mục cần thiết
đối với các khoán chi phí chung. Từ đó đáp ứng yêu cầu của việc hạch toán chi
phí sản xuất về đối tượng và thời gian.
- Phương pháp tập hợp chi phí vận tải
Tập hợp chi phí vận tải là phương pháp hay hệ thống các phương pháp
dùng để tập hợp chi phí vận tải phát sinh trong phạm vi, giới hạn của đối tượng
chi phí đã được lựa chọn. Nội dung chủ yếu của phương pháp tập hợp chi phí
vận tải là căn cứ vào đối tượng tập hợp chi phí đã xác định để mở các sổ hoặc
các sổ chi tiết phản ánh chi phí vận tải phát sinh đã được phân loại, tổng hợp
theo từng đối tượng cụ thể.
 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất trực tiếp
Chi phí trực tiếp là những khoản chi phí có liên quan trực tiếp đến đối
tượng tập hợp chi phí và có thể hạch toán trực tiếp cho từng đối tượng. Vì vậy
hàng ngày khi các khoản chi phí phát sinh có liên quan trực tiếp đến đối tượng
nào, kế toán phải căn cứ vào chứng minh cụ thể từng khoản chi phí để hạch
toán trực tiếp cho đối tượng đó trên các tài khoản kế toán chi tiết.
- Phương pháp tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung.

Trong nền kinh tế thị trường, sự hoạt động đa dạng của các loại hình vận
tải thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đã dẫn đến sự cạnh tranh để chiếm
ưu thế trên thương trường của mỗi doanh nghiệp. Điều đó đòi hỏi doanh
nghiệp muốn tồn tại và phát triển cần phải phấn đấu hạ giá thành và tăng chất
lượng dịch vụ vận tải nhằm mục đích thu lợi nhuận tối đa.Phân tích và đánh
giá là cách tốt nhất để biết nguyên nhân và nhân tố làm cho chi phí biến động,
ảnh hưởng tới giá thành.
- Phân loại giá thành vận tải
 Giá thành kế hoạch
Trước khi thực hiện một hoạt động kinh doanh nào đó nhà doanh nghiệp
phải tự tính xem họ được hưởng bao nhiêu lợi nhuận bằng cách dự tính khoản
thu nhập và khoản chi phí, so sánh gữa thu nhập và khoản chi phí để biết kết
quả.
Giá thành kế hoạch là giá thành được tính toán tước khi tiến hành hoạt
đống sản suất kinh doanh trên cơ sở các chỉ tiêu kế hoạch hay dự toán chi phí
về sản lượng.
Trong điều kiện kinh doanh theo cơ chế thị trường,vấn đề kế hoạch giá
thành là một trong những mục tiêu quan trọng của hệ thống chỉ tiêu kế hoạch
tác nghiệp, giúp cho doanh ghiệp có biện pháp cụ thể để phấn đấu hạ giá thành
sản phẩm.
 Giá thành định mức
Trong quản lý chi phí và giá thành sản phẩm nói chung, chi phí và giá
thành dịch vụ vận tải nói riêng, các nhà doanh nghiệp đều phải quan tâm đến
vấn đề định mức chi phí và định mức kinh tế kỹ thuật khác được Nhà nước
hoặc ngành chủ quản quy định sẽ là cơ sở để quản lý đúng đắn chi phí và giá
thành.Vì vậy giá thành định mức là thước đo chuẩn xác để xác định kết quả
việc tiết kiệm hay lãng phí.
 Giá thành thực tế của dịch vụ hoàn thành
Sau khi hoà thành dịch vụ vận tải, bộ phận tính toán tất cả những chi phí
doanh nghiệp đã bỏ ra để hoàn thành khối lượng dịch vụ vận tải trong kỳ trên

doanh, đặc điểm tổ chức sản xuất, tính chất nghành nghề mà xác định kỳ tính
giá thành để cung cấp số liệu về giá thành vận tải một cách kịp thời phục vụ
cho công tác quản lý doanh nghiệp.
Đơn vị tính giá thành phải là đơn vị được thừa nhận phổ biến trong nền kinh tế
quốc dân, phù hợp với tính chất nghành nghề kinh doanh. đơn vị tính giá thực
thành tế phải thống nhất với đơn vị tính đã ghi trong kế hoạch của doanh
nghiệp. Trong các doanh nghiệp vận tải, đơn vị tính giá thành thường là : đồng/
tấn- km; đồng/hành khách- km.
Kỳ tính giá thành: là thời kỳ mà bộ phận kế toán giá thành cần phải tổ
chức tiến hành công việc tính giá thành cho các đối tượng tính giá thành. Việc
xác định kỳ tính giá thành cần thiết để tổ chức công tác tính giá thành được
khoa học, hợp lý kịp thời và chính xác. đối với doanh nghiệp vận tải,kỳ tính
giá thành là định kỳ hàng tháng vào cuối tháng, phù hợp với kỳ báo cáo hoặc
kết thúc với kỳ vận chuyển.
Xác định đối tượng chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành chính
xác, phù hợp sẽ giúp cho doanh nghiệp tổ chức tốt hệ thống sổ sách, sử dụng
phương pháp kế toán đúng và đạt hiệu qua cao nhằm xác định tỷ trọng và xu
hướng thay đổi từng yếu tố chi phí, kiểm tra giá trị vận tải chính xác và xác
định được nhiệm vụ cụ thể của kế toán trong việc phấn dấu hạ giá thành vận tải
của doanh nghiệp.
- Phương pháp tính giá thành dịch vụ vận tải.
Phương pháp tính giá thành là phương pháp sử dụng số liệu chi phí sản
xuất, dịch vụ đã tập hợp được trong kỳ để tính toán giá thành và giá thành đơn
vị, theo từng khoản mục chi phí quy định cho các đối tượng giá thành. Doanh
nghiệp căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất, quy trình công nghê j, đặc điểm
sản phẩm, yêu cầu quản lý sản suất và quản lý giá thành. Trong kinh doanh vận
tải thường áp dụng phương pháp tính giá thành sau:
 Phương pháp tính giá thành giản đơn
Trên cơ sở số liệu về chi phí vận tải đã tập hợp được trong kỳ để tinhd
giá thành theo công thức:

hợp đồng đặt hàng hoặc hàng loạt hợp đồng đó. Khi có khách hàng hợp đồng
đặt hàng, kế toán phải trên cơ sở hợp đồng để mở bảng tính giá thành cho hợp
đồng đặt hàng đó. Cuối thánh hoặc kết thúc hợp đồng kinh tế tính toán, tập
hợp chi phí và tính giá thành căn cứ vào số liệu chi phí đã tập hợp được.
3. MỐI QUAN HỆ GIỮA CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH VẬN TẢI
Giữa chi phí và giá thành vận tải có quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong
quá trình hoàn thành dịch vụ vận tải, chi phí về mặt hao phí, còn giá thành biểu
hiện về mặt kết quả của việc hoàn thành lao vụ dịch vụ vận tải. Như vậy, đối
với ngành kinh doanh vận tải tổng giá thành dịch vụ vận tải chính bằng tổng
chi phí sản xuất phát sinh phục vụ cho việc di chuyển khối lượng hàng hoá,
hành khách.
Giá thành Chi phí thực tế phát sinh
Dịch vụ = hoàn thành di chuyển khối
Vận tải lượng hành hoá, hành khách
Với công thức này thì giá thành dịch vụ vận tải sẽ bằng về lượng với chi
phí vận tải.
4. NHIỆM VỤ CỦA KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH VẬN
TẢI.
Kế toán trong doanh nghiệp vận tải cần tổ chức một cách khoa học, hợp
lý nhằm hực hiện tốt các nghiệp vụ sau.
Xác định đúng chính xác đối tượng tập hợp chi phí, đối tượng giá thành
vận tải. Vận dụng đúng các phương pháp tiên tiến để hạch toán chi phí và tính
giá thành phù hợp với hoạt động kinh doanh vận tải và trình độ quản lý của
doanh nghiệp.
Tính toán, ghi chép, phản ánh đầy đủ, chính xác đúng đối tượng các
khoản chi phí vận tải, kiểm tra việc sử dụng có hiệu quả về lao động, vật tư,
tiền vốn.
Tính toán và phân cấp kịp thời chính xác nội dung giá thành vận tải,
kiểm tra kế hoạch giá thành vận tải, lập báo cao chi phí và giá thành vận tải.
5. TRÌNH TỰ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT

Có TK 152: giá thực tế nguyên vật liệu xuất kho (KKTX)
- Trường hợp nguyên vật liệu mua và đưa vào các phân xưởng để sản
khô xuất sản phẩm (Không qua kho), nếu doanh nghiệp áp ụng phương pháp
KKTX thì kế toán ghi:
Nợ TK 621(chi tiết theo từng loại đối tượng)
Nợ TK 133: Thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
Có TK 111, 112, 331… Giá hạch toán.
- Khi có nguyên vật liệu không sử dụng, phải nhập lại kho, kế toán ghi:
Nợ TK 152
Có TK 621
chú ý: Trường hợp xuất dùng trong kỳ nhưng không dùng đến để lại kỳ sau
dùng thì kế toán ghi để giá trị nguyên vật liệu không sử dụng.
Giá trị nguyên vật liệu không sử dụng để lại kỳ sau
Nợ TK 621
Có TK
152
Sang kỳ sau sử dụng nguyên vật liệu này , kế toán ghi:
Giá trị nguyên vật liệu không sử dụng của kỳ trước
Nợ TK 621
Có TK 152
Khi kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp để tính giá thành sản phẩm kế
toán ghi :
Nợ TK 154: KKTX
Nợ TK 631: KKĐK
Có TK 621 (chi tiết theo đối tượng)
Sơ đồ hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo phương pháp
KKTX
TK 133
TK 151,152
TK 151, 152

kê tập hợp chi phí trực tiếp cho các đối tượng có liên quan, để ghi vào các tài
khoản và chi tiết cho đúng đối tượng.
Trong trường hợp sử dụng nguyên vật liệu có liên quan đến nhiều đối
tượng không thể ghi trực tiếp cho từng đối tượng được thì phải lựa chọn tiêu
thức hợp lý để tiến hành phân bổ chúng cho các đối tượng có liên quan theo
công thức thức:
C
C
i
= x T
i
T
i
Trong đó:
C
i
: Chi phí nguyên vật liệu phân bổ cho đối tượng i
C: Tổng chi phí nguyên vật lliệu trực tiếp đã tập hợp được
T
i
:
Tổng tiêu chuẩn dùng để phân bổ .
T
i
: tiêu chuẩn phân bổ có trong đối tượng i.
Chi phí nguyên vật liệu chính, nửa thành phẩm mua ngoài có thể chọn
theo tiêu thức phân bổ là: chi phí định mức, kế hoạch, trọng lượng sản phẩm
sản xuất.
Chi phí vật liệu phụ, nhiên liệu có thể chọn tiêu thức phân bổ là: chi phí
định mức, kế họach, chi phí nguyên vật liệu chính, trọng lượng sản phẩm sản

lao động trực tiếp, kế toán ghi:
Nợ TK622 ( Chi tiết cho đối tượng)
Có TK 334: tiền lương của lao động trực tiếp.
Có TK 338: Trích theo lương của lao động trực tiếp (phần doanh nghiệp
chịu).
Đối với những doanh nghiệp thực hiện trích tiền lương nghỉ phép của
lao động trực tiếp theo dự toán thì khi trích trước, kế toán ghi:
Nợ TK 622 (chi tiết theo đối tượng)
Có TK 335: tiền lương nghỉ của lao động trực tiếp trích trước.
Cuối kỳ khi kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp để tính giá thành sản
pẩm, kế toán ghi :
Nợ TK 154: KKTX
Nợ TK 631 : KKĐK
Có TK 622 Chi phí nhân công trực tiếp phát sinh trong kỳ.
 Phân bổ chi phí nhân công trực tiếp cho các đối tượng tính giá
thành.
Chi phí nhân công trực tiếp thường được tính cho các đối tượng chịu chi
phí có liên quan. Trường hợp chi phí nhân công trực tiếp liên quan đến nhiều
đối tượng mà không hạch toán trực tiếp được thì có thể tập hợp chung, sau đó
chọn tiêu thức thích hợp để phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí có liên
quan. Tiêu chuẩn phân bổ có thể là tiền công định mức, giờ công sản xuất…
Sơ đồ hạch toán chi phí nhân công trực tiếp
Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp (KKTX)
Lương phải trả cho công nhân xản xuất
TK 335
Trích trước tiền lương nghỉ phép
Cho công nhân nghỉ phép
Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp (KKĐX)
Trích BHXH, BHYT, KPCP theo tiền lương công
nhân sản xuất

bao gồm các tài khoản cấp 2 sau:
TK 627.1 chi phí nhân viên phân xưởng
TK 627.2 chi phí vật liệu dùng chung cho phân xưởng
TK 627.3: chi phí dụng cụ sản xuất
TK 627.4: chi phí khấu hao tài sản cố định dùng cho sản xuất.
TK627.7: chi phí của dịch vụ mua ngoài.
TK.627.8 chi phí khác bằng tiền.
Tuỳ theo yêu cầu quản lý của từng ngành, tưng doanh nghiệp có thể mở
thêm một số tài khoản cấp 2 khác để phản ánh một số nội dung chi phí hoặc
yếu tố chi phí thích hợp. Ngoài ra, tài khoản này còn phải chi tiết theo từng đối
tượng tập hợp chi phí sản xuất.
- Hạch toán một số nghiệp vụ chủ yếu.
- Tập hợp chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ, kế toán ghi:
Nợ TK 627 có TK 334, TK 338: Chi phí nhân viên quản lý
Nợ TK 627
Có TK334, TK338: Chi phí nhân viên quản lý
Có TK152 ( TK611): chi phí nguyên vật liệu
Có TK 153, TK 142 chi phí công cụ dụng cụ
Có TK 214: Chi phí khấu hao TSCĐ
Có TK 111, TK112, TK 331: Chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí
khác.
Cuối kỳ kết chuyển chi phí sản xuất chung, kế toán ghi:
Nợ TK 154: KKTX
Nợ TK 631: KKĐK
Có TK 627
- Phương pháp phân bổ chi phí sản xuất chung
Khi chi phí sản xuất chung liên quan đến nhiều đối tượng tính giá thành
thì kế toán phải phân bổ chi phí sản xuất chung cho các đối tượng theo các tiêu
thức thích hợp như.
 Phân bổ theo giờ công sản xuất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status