BÀI TẬP CHUYÊN ĐỀ
Học viên: Đào Văn Tuấn
Lớp: CH18J
Chuyên ngành: QTKD CN&XD Cơ Bản
MỘT SỐ VẤN ĐỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY TRONG CÔNG TY
CP ĐẠI PHÁT
Quản trị công ty tốt có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo nên sự hài hòa các mối
quan hệ giữa hội đồng quản trị, ban giám đốc, các cổ đông và các bên có quyền lợi
liên quan trong doanh nghiệp, từ đó tạo nên định hướng và sự kiểm soát quá trình phát
triển của doanh nghiệp. Quản trị công ty tốt sẽ thúc đẩy hoạt động và tăng cường khả
năng tiếp cận của doanh nghiệp với các nguồn vốn bên ngoài, góp phần tích cực vào
việc tăng cường giá trị doanh nghiệp, tăng cường đầu tư và phát triển bền vững cho
doanh nghiệp và nền kinh tế. Bài viết đi sâu phân tích thực trạng quản trị công ty
trong công ty CP Đại Phát trên nhiều khía cạnh: Cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý của
doanh nghiệp, tính minh bạch trong hoạt động, vấn đề bảo vệ quyền của cổ đông và
người lao động… từ đó đưa ra những nhận định tổng quát và các đề xuất nhằm tăng
cường năng lực quản trị công ty.
1. Nội dung của quản trị công ty
QTCT xác định quyền hạn và trách nhiệm giữa các nhóm lợi ích, các thành viên
khác nhau trong công ty, bao gồm các cổ đông, hội đồng quản trị, ban điều hành, ban
kiểm soát và những người liên quan khác của công ty như người lao động, nhà cung
cấp. Đồng thời, QTCT cũng lập ra các nguyên tắc và quy trình, thủ tục ra quyết định
trong công ty, qua đó ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực và chức vụ, giảm thiểu những
rủi ro liên quan đến hoặc có nguồn gốc từ những giao dịch với các bên có liên quan,
những xung đột lợi ích tiềm năng và từ việc không có tiêu chuẩn rõ ràng hoặc không
tuân thủ các quy định về công bố thông tin và không minh bạch. Nói tóm lại, các chủ
đề chính trong QTCT gồm có: Công khai và minh bạch thông tin; Xử lý mâu thuẫn
quyền lợi giữa người quản lý doanh nghiệp, hội đồng quản trị và cổ đông khác; Xử lý
Học viên: Đào Văn Tuấn – CH 18J Page 1
mâu thuẫn giữa cổ đông lớn và cổ đông thiểu số; Vai trò của quản trị viên độc lập,
các tổ chức kiểm toán độc lập; Chính sách đãi ngộ với các nhà quản lý; Thủ tục phá
ban kiểm soát ở nước ta có lẽ chỉ tồn tại dưới hình thức “người giám sát bị kiểm
duyệt”, chứ chưa phải là một thể chế giám sát nội bộ độc lập, chuyên môn và chuyên
nghiệp để cân bằng hoạt động của doanh nghiệp, phục vụ lợi ích tối đa của doanh
nghiệp.
- Về công khai và minh bạch thông tin trong QTCT
Kém công khai và không minh bạch đang là một trong số các vấn đề lớn của
QTCT . Chủ sở hữu, các cổ đông không nhận được một cách kịp thời, chính xác và
đầy đủ các thông tin cơ bản về doanh nghiệp. Các thông tin cơ bản đó bao gồm từ
tổng tài sản đến đánh giá chính xác về thực trạng tài chính hiện nay và thông tin về
lưu chuyển tiền tệ trong quá khứ cũng như các thông tin về dự báo trong tương lai.
Điều này làm cho các nhà đầu tư và cổ đông không thể đánh giá chính xác giá trị
doanh nghiệp trong hiện tại cũng như tương lai. Doanh nghiệp chưa có các chuẩn mực
công bố thông tin, do vậy khá tùy tiện khi thực hiện. Công tác kiểm toán nội bộ và
kiểm toán độc lập chưa được chú trọng. Chất lượng báo cáo tài chính và mức độ công
bố thông tin đối với các công ty niêm yết, đặc biệt là đối với các công ty cổ phần
không niêm yết và doanh nghiệp nhà nước chưa cao. Những cơ quan chịu trách nhiệm
thúc đẩy quản trị công ty tốt hoặc chưa có hoặc còn yếu kém. Cần phải có nhiều nỗ
lực để xây dựng một văn hóa kinh doanh góp phần nâng cao việc thực thi có trách
nhiệm, công bằng và minh bạch.
- Tình hình thực hiện các lĩnh vực quản trị chức năng trong các doanh
nghiệp
Doanh nghiệp không xác định rõ ràng sứ mệnh tồn tại, không có mục tiêu dài
hạn và không xác định được mô hình chiến lược phát triển . Hoạt động của doanh
nghiệp chủ yếu được xác lập thông qua các kế hoạch vận hành ngắn hạn, phần lớn là
kế hoạch tháng, thậm chí ngắn hơn. Có thể nói, tư duy ngắn hạn, thiếu phương hướng
hoạt động dài hạn đang là một đặc điểm lớn chi phối quá trình hoạt động của doanh
nghiệp.
Về quản trị tài chính và kế toán: Đặc điểm chung là các doanh nghiệp của Việt
Nam chưa thực sự vận hành hệ thống quản trị tài chính một cách khoa học và minh
Học viên: Đào Văn Tuấn – CH 18J Page 3
thành đạt của chính bản thân mình hơn là vì doanh nghiệp trong đó họ cũng chỉ là một
bộ phận.
Về quản trị thương hiệu và marketing:
Điểm hạn chế lớn của doanh nghiệp là chưa quan quan tâm đến công tác xây
dựng thương hiệu. Công tác marketing chủ yếu chỉ tiến hành các hoạt động quảng cáo,
một chiến lược marketing mang tính hệ thống còn vắng bóng trong doanh nghiệp.
Những vướng mắc, hạn chế nêu trên thể hiện công tác QTCT có nhiều khiếm
khuyết, làm ảnh hưởng đến hiệu quả công tác điều hành và hiệu quả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Vấn đề đáng chú ý là công ty không xác định được nguyên
nhân cơ bản của những hạn chế, do vậy mặc dù rất nổ lực khắc phục, nhưng chỉ dừng
ở mức độ sửa chữa các biểu hiện bên ngoài, triệu chứng của vấn đề, chưa chữa trị
được tận gốc những hạn chế, nên không mang lại hiệu quả như mong muốn, những
vướng mắc, bất cập tương tự vẫn tiếp tục phát sinh.
3. Kiến nghị
Để áp dụng khoa học quản trị vào thực tiễn, doanh nghiệp phải coi QTCT như
một yêu cầu tự thân, nội tại vì chính lợi ích của doanh nghiệp cũng như sự phát triển
bền vững và lâu dài của doanh nghiệp, phải xem việc nâng cao năng lực QTCT như
một trong những yếu tố quyết định cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Với những hạn chế như đã phân tích ở trên, tăng cường QTCT trong doanh nghiệp
trước hết cần hết sức chú trọng việc xây dựng hệ thống quản trị. Hệ thống đó phải bao
gồm: tổ chức bộ máy, chính sách, quy chế, quy trình nghiệp vụ, kiểm tra, kiểm soát;
quy định đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận, có sự phân công, phân nhiệm,
ủy quyền rõ ràng, xác định được trách nhiệm cá nhân gắn với chất lượng công việc và
quyền lợi của người thực hiện; các quy trình nghiệp vụ phải đủ chi tiết, cụ thể để
hướng dẫn thực hiện, xác định rõ trách nhiệm của từng cá nhân, từng bộ phận có liên
quan. Hệ thống các quy chế, quy trình quản trị của doanh nghiệp cần bao gồm: (1)
Công tác điều hành của Ban giám đốc: Quy chế hoạt động của Ban giám đốc; Văn bản
phân công nhiệm vụ cho các thành viên Ban giám đốc; Quy định về cơ cấu tổ chức và
chức năng nhiệm vụ của các bộ phận, phòng ban trong đơn vị; Nội quy hoạt động của
doanh nghiệp; Quy chế hoạt động, quy trình nghiệp vụ của các phòng, ban; Quy định