Đề án Kế toán tài chính
LỜI NÓI ĐẦU
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tài sản cố định
là cơ sở vật chất kỹ thuật chiếm tỉ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của doanh
nghịêp. Nó phản ánh năng lực sản xuất, trình độ sản xuất cũng như khả năng
phát triển của doanh nghiệp. Do vậy tài sản cố định có ý nghĩa và vai trò vô
cùng quan trọng đối với bất kì một cơ sở sản xuất kinh doanh nào. Chính vì
điều này mà một trong những nguyên tắc để kinh doanh hiệu quả là sử dụng
hợp lý và tối ưu tài sản cố định. Nhưng để có thể quản lý được tài sản cố định
thì nhất thiết phải có được những thông tin về tài sản cố định trong đó có
những thông tin do kế toán cung cấp. Do vậy kế toán tài sản cố định nói
chung và kế toán sửa chữa tài sản cố định nói riêng trong các doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh cũng đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động quản lý
của doanh nghiệp.
Do nhận thấy được tầm quan trọng của kế toán tài sản cố định đối với
hoạt động quản lý của doanh nghiệp nên em đã chọn đề tài: “Hạch toán sửa
chữa tài sản cố định theo chế độ kế toán hiện hành”. Trong bài viết này chắc
chắn không tránh khỏi những thiếu sót vì vậy em rất mong nhận được các ý
kiến đóng góp của các thày cô giáo để giúp em hoàn thiện đề án này. Em xin
chân thành cảm ơn!
TrầnThị Minh Phương Kế toán 46B
1
Đề án Kế toán tài chính
B. NỘI DUNG
I. SỬA CHỮA TÀI SẢN CỐ ĐỊNH(TSCĐ) TRONG DOANH NGHIỆP
1. Sự cần thiết phải tiến hành sửa chữa tài sản cố định trong doanh nghiệp
- Vai trò của TSCĐ trong doanh nghiệp:
Để tiến hành một hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp đều
nhất thiết phải có đày đủ ba yếu tố: lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao
động. Trong đó đối tượng lao động được hiểu là tất cả những gì mà lao động
Xét theo hình thái biểu hiện TSCĐ được phân thành hai loại: TSCĐ
hữu hình và TSCĐ vô hình. TSCĐ hữu hình là những tài sản có hình thái vật
chất cụ thể và có đày đủ các tiêu chuẩn để ghi nhận là TSCĐ, bao gồm: nhà
cửa, vật kiến trúc, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn,
thiết bị dụng cụ quản lý, vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản
phẩm… Còn TSCĐ vô hình là những tài sản có đủ tiêu chuẩn ghi nhân TSCĐ
nhưng không có hình thái vật chất cụ thể như: quyền sử dụng đất, quyền phát
hành, bản quyền, bằng sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa, phần mềm máy vi tính,
giấy phép hoặc giấy phép nhượng quyền…
Như vậy có thể thấy TSCĐ chính là cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh
nghiệp. Nó phản ánh trình độ kỹ thuật và năng lực sản xuất của doanh nghiệp.
Mặt khác từ tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ cho thấy TSCĐ đều là những tài sản
có giá trị đầu tư lớn do đó nó chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng tài sản của
doanh nghiệp. Tỉ trọng này còn phụ thuộc vào đặc điểm của từng lĩnh vực và
hoạt động kinh doanh. Đối với các doanh nghịêp thương mại tổng TSCĐ
chiếm khoảng trên 30% tổng tài sản nhưng đối với doanh nghiệp công nghiệp
TrầnThị Minh Phương Kế toán 46B
3
Đề án Kế toán tài chính
tỉ trọng này là khoảng 70%. Chính vì TSCĐ chiếm tỉ trọng rất lớn trong tổng
vốn đầu tư và phản ánh cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp cho nên nó
giữ một vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp.
Tuy nhiên TSCĐ đóng vai trò quan trọng như vậy trong doanh nghiệp
không chỉ bởi có giá trị lớn chiếm tỉ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư của
doanh nghiệp mà còn vì nó tham gia vào tất cả các khâu, các quá trình hoạt
động của doanh nghiệp từ hoạt động cung ứng, sản xuất, tiêu thụ đến quản lý.
Như vậy có thể thấy được vai trò quan trọng của TSCĐ đối với sự tồn
tại của một doanh nghiệp. Đó là vì TSCĐ chính là một trong những tư liệu lao
động chủ yếu của doanh nghiệp, phản ánh cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh
nghiệp, chiếm giá trị đầu tư rất lớn so với tổng nguồn vốn và tham gia vào tất
và phải đầu tư mua mới tài sản khác. Vì như vậy sẽ làm tăng khấu hao được
tính vào chi phí sản xuất kinh doanh do đồng thời tính khấu hao của tài sản
mua mới những vẫn phải tính cả khấu hao của TSCĐ hỏng nhưng chưa hết
thời hạn khấu hao. Điều này làm chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ tăng và
dẫn đến lợi nhuận của doanh nghiệp bị giảm, hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp là giảm xuống.
Xuất phát từ vai trò quan trọng của TSCĐ trong doanh nghiệp và đặc
điểm hoạt động của nó cho thấy việc sửa chữa TSCĐ trong doanh nghiệp là
rất cần thiết. Nó không chỉ nhằm bảo dưỡng, duy trì hoạt động bình thường
cho tài sản mà còn giúp kéo dài tuổi thọ, nâng cao năng suất, chất lượng cho
sản phâm làm tăng lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp.
2. Phân loại sửa chữa TSCĐ trong doanh nghiệp
Trong quá trình sử dụng, TSCĐ cần được bảo dưỡng thường xuyên
hoặc sửa chữa khi chúng bị hư hỏng nhằm duy trì năng lực hoạt động bình
thường của TSCĐ. Tuỳ theo mức độ sửa chữa người ta chia nghiệp vụ sửa
TrầnThị Minh Phương Kế toán 46B
5
Đề án Kế toán tài chính
chữa TSCĐ của doanh nghiệp thành sửa chữa thường xuyên, sữa chữa lớn và
sửa chữa nâng cấp TSCĐ.
- Sửa chữa thường xuyên TSCĐ: Là công việc sửa chữa nhỏ có tính
chất bảo dưỡng hoặc thay thế những bộ phận, chi tiết nhỏ của TSCĐ. Việc sửa
chữa này nhằm giữ cho TSCĐ có trạng thái tốt, bình thường đảm bảo an toàn
lao động trong quá trình sản xuất kinh doanh. Thí dụ, để duy trì trạng thái tốt
cho toà nhà văn phòng, nhà xưởng cần phải định kỳ quét sơn, sửa chữa mái
nhà. Máy móc, thiết bị công nghệ cần phải thường xuyên lau chùi, bơm dầu,
điều chỉnh và nếu có bộ phận hay chi tiết nào bị hư hỏng thì phải được thay thế.
Đặc điểm của loại hình sửa chữa này là thời gian tiến hành sửa chữa
ngắn, chi phí sửa chữa chiếm một tỉ trọng nhỏ không đáng kể so với tổng chi
phí kinh doanh trong kỳ. Vì vậy chi phí sửa chữa thường xuyên được tập hợp
ánh làm tăng nguyên giá của TSCĐ được sửa chữa nâng cấp.
II. HẠCH TOÁN SỬA CHỮA TSCĐ THEO CHẾ ĐỘ HIỆN HÀNH
1. Hạch toán sửa chữa thường xuyên TSCĐ
- Chứng từ sử dụng: Do nghiệp vụ sửa chữa thường xuyên là nghiệp
vụ sửa chữa nhỏ nên thường do doanh nghiệp tự làm. Do đó chứng từ sử dụng
trong nghiệp vụ này thường bao gồm:
+ Các hoá đơn bán hàng do người bán cấp: ví dụ như hoá đơn
mua dầu nhớt,…
+ Phiếu xuất kho phụ tùng, vật liệu thay thế cho sửa chữa thường
xuyên của doanh nghiệp
- Tài khoản sử dụng: Do chi phí sửa chữa thường xuyên được tập hợp
trực tiếp vào chi phí kinh doanh trong kỳ hạch toán mà nghiệp vụ sửa chữa
diễn ra nên các tài khoản được sử dung để hạch toán chi phí sửa chữa này là:
TrầnThị Minh Phương Kế toán 46B
7
Đề án Kế toán tài chính
+Các tài khoản tập hợp chi phí tuỳ thuộc phạm vi sử dụng của TSCĐ
được sửa chữa: TK 627, TK641, TK642
+ Các tài khoản phản ánh yếu tố chi phí: TK 111, 112, 152, 214, 331,
334…
- Phương pháp hạch toán: Tập hợp chi phí sửa chữa thường xuyên
theo từng đối tượng sử dụng, kế toán ghi:
Nợ TK 627: chi phí sửa chữa thường xuyên TSCĐ o bộ phận sản xuất
Nợ TK 641: Chi phí sửa chữa thường xuyên TSCĐ ỏ bộ phận bán hàng
Nợ TK 642: Chi phí sửa chữa thường xuyên TSCĐ dùng cho quản lý
doanh nghiệp
Nợ TK 133: Thuế giá trị gia tăng phương pháp khấu trừ( nếu có)
Có TK 111, 112: Chi phí sửa chữa bằng tiền
Có TK 152: Vật liệu, phụ tùng xuất dùng cho sửa chữa
Có TK 214: Hao mòn TSCĐ dùng cho sửa chữa
+ Các tài khoản chi phí: TK 627, 641, 642
+ Các tài khoản phản ánh yếu tố chi phí: TK 111, 112, 152, 334, 331, 338
- Phương pháp kế toán:
* Truờng hợp sửa chữa lớn theo kế hoạch: Trong trường hợp này doanh
nghiệp sẽ lập dự toán chi phí sửa chữa và kế toán sẽ phân bổ vào chi phí sản
xuất kinh doanh bằng cách trích trước. Theo đó kế toán sẽ hạch toán như sau:
- Khi tiến hành trích trước chi phí sửa chữa TSCĐ tính vào kinh doanh
theo dự toán, kế toán ghi:
Nợ TK 627: Trích trước chi phí sửa chữa TSCĐ ở bộ phận sản xuất
Nợ TK 641: Trích trước chi phí sửa chữa TSCĐ ở bộ phận bán hàng
Nợ TK 642: Trích trước chi phí sửa chữa TSCĐ ở bộ phận QLDN
Có TK 335: Số chi phí trích trước được tính vào chi phí kinh
doanh trong kỳ
TrầnThị Minh Phương Kế toán 46B
9