Quá trình hình thành và phát triển của ASEAN
Quá trình hình thành và phát triển của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
Những thành tựu của ASEAN sau 40 năm hình thành và phát triển. Quan hệ Việt
Nam - ASEAN.
ASEAN được thành lập ngày 8-8-1967 sau khi Bộ trưởng Bộ ngoại giao các nước
Indonesia, Malaysia, Philipines, Singapore và Thái lan ký bản tuyên bố ASEAN (còn gọi là
Tuyên bố Bangkok). Hiện nay tổ chức này có 10 hội viên bao gồm 5 nước hội viên
nguyên thuỷ và 5 hội viên gia nhập sau này là Brunei Darussalam (8-1-1984), Việt Nam
(28-7-1995), Lào và Myanma (23-7-1997), Campuchia (30-4-1999). Trong thập kỷ 90,
ASEAN nổi lên như là một tổ chức tiểu khu vực hoạt động năng nổ và hữu hiệu, tuy nhiên
cuộc khủng hoảng kinh tế – tài chính từ giữa năm 1997 đang đặt ra một số thách thức lớn
đối với ASEAN.
Khu vực ASEAN có 500 triệu dân, diện tích rộng 4,5 triệu km2, tổng GDP là 737 tỉ USD
và tổng kim ngạch ngoại thương là 720 tỉ USD (2001).
Kể từ trước khi chính thức gia nhập với tư cách thành viên đầy đủ năm 1995 tại Hội nghị
ngoại trưởng các nước ASEAN tại Brunei, Việt Nam đã được mời tham dự các cuộc họp
hàng năm của ngoại trưởng các nước ASEAN tại Singapore (1993) và Thái Lan (1994)
cũng như một số cuộc họp khác của ASEAN. Từ đầu năm 1994, Việt Nam được mời
tham gia vào một số dự án hợp tác chuyên ngành của ASEAN trên 5 lĩnh vực đã được
hai bên thoả thuận: khoa học kỹ thuật, văn hoá thông tin, môi trường, y tế và du lịch. Hiện
nay Việt Nam đã tham gia hầu hết mọi lĩnh vực hoạt động của ASEAN với tư cách thành
viên đầy đủ. Việt Nam tham gia Khu Mậu Dịch Tự Do ASEAN từ năm 1996.
Năm 2007 diễn ra lễ kỷ niệm 40 năm thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á –
ASEAN. Đây là mốc quan trọng, đánh dấu bước chuyển mình của ASEAN theo hướng
xây dựng Cộng đồng ASEAN dựa trên ba trụ cột: Cộng đồng An ninh (ASC), Cộng đồng
Kinh tế (AEC) và Cộng đồng Văn hoá Xã hội (ASCC). Đây cũng là thời điểm để nhìn lại
chặng đường phát triển ban đầu của Hiệp hội cho đến nay.
“ASEAN - Trái tim của châu Á năng động” là chủ đề chính thức của lễ kỷ niệm 40 năm
thành lập ASEAN. Nó đã thâu tóm một cách ngắn gọn súc tích bản chất tiên phong của
chủ nghĩa khu vực trong ASEAN và vai trò chủ chốt của ASEAN trong sự phát triển ngày
càng rộng hơn của Châu Á, không chỉ trong 40 năm qua mà có thể là cho cả 40 năm tiếp
ASEAN tạo cơ hội tìm hiểu văn hoá lẫn nhau giữa thanh niên ASEAN để giúp họ phát
triển sự nhận thức đầy đủ và sâu sắc về sự đa dạng văn hoá cũng như hiểu biết rõ hơn
về cộng đồng ASEAN. Một thí dụ minh hoạ khác là trong lĩnh vực giáo dục. Các sinh viên
và giảng viên của các trường đại học ASEAN đang tăng cường giao lưu, trao đổi kinh
nghiệm thông qua các chương trình như các khoá nghiên cứu ASEAN, trao đổi nghiên
cứu và biệt phái viện sỹ. Các Bộ trưởng giáo dục ASEAN cũng đang hợp tác về đào tạo
giáo viên và phát triển chương trình giảng dạy, đặc biệt là chia sẻ kinh nghiệm về phát
triển cộng đồng đa sắc tộc, đa văn hoá.
Để củng cố và tăng cường việc xây dựng cộng đồng ASEAN, tháng 12 năm 2005, các
nhà Lãnh đạo ASEAN quyết định thiết lập Hiến chương ASEAN. Công việc dự thảo đã
đạt được khoảng 70% về phạm vi và mức độ dự kiến. Mục tiêu là để các nhà Lãnh đạo
ASEAN ban hành một bản dự thảo vào Hội nghị thượng đỉnh ASEAN tại Singapore vào
tháng 11 năm 2007.
Thách thức:
Mặc dù đã đạt nhiều thành tựu nhưng ASEAN vẫn phải đối mặt với một loạt thách thức
trong quá trình hướng tới mục tiêu hội nhập – thành lập Cộng đồng ASEAN vào năm
2015.
Đối với mỗi một trụ cột trong Cộng đồng ASEAN, Cộng đồng an ninh, Cộng đồng kinh tế,
Cộng đồng văn hoá - xã hội, bước đầu tiên là phác thảo một lộ trình toàn diện với mục
tiêu và thời hạn rõ ràng. Ví dụ, đối với Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), một kế hoạch
chi tiết được xây dựng như là kế hoạch tổng thể cho tiến trình hợp tác kinh tế và hội nhập
của ASEAN trong 8 năm tới. Với kế hoạch này, các nhà lãnh đạo ASEAN kỳ vọng AEC sẽ
hội tụ những biện pháp nhằm thúc đẩy hơn nữa tự do hóa thương mại, cải thiện hạ tầng
kinh doanh, giảm chi phí giao dịch thương mại, tăng tính hấp dẫn cho môi trường đầu tư
của ASEAN, củng cố hệ thống giải quyết tranh chấp nội bộ khối. Nếu AEC trở thành hiện
thực, sẽ tồn tại một khu vực kinh tế ASEAN cạnh tranh, thịnh vượng và ổn định, ở đó có
sự dịch chuyển tự do hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, dịch chuyển tự do hơn cho các dòng
vốn, phát triển kinh tế công bằng và giảm đói nghèo cũng như bất bình đẳng kinh tế - xã
hội.
Điều kiện cốt yếu là phải thiết lập được một kế hoạch toàn diện và nhất quán cho mỗi trụ
Về hợp tác kinh tế, Việt Nam đã cơ bản hoàn thành cắt giảm thuế quan theo Hiệp định
CEPT/AFTA; đạt mục tiêu AFTA đã định sau mười năm (sớm hơn dự kiến 5 năm), góp
phần tăng cường liên kết kinh tế nội khối, đưa ASEAN trở thành một cơ sở sản xuất khu
vực có khả năng cạnh tranh và hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư khu vực và quốc tế,
mở rộng hợp tác ASEAN trên nhiều lĩnh vực.
Ðối với thực hiện Sáng kiến ASEAN về thu hẹp khoảng cách phát triển (IAI), tại AMM - 34
tổ chức ở Hà Nội năm 2001, Việt Nam đã cùng ASEAN đưa ra Tuyên bố Hà Nội về thu
hẹp khoảng cách phát triển; trong thời gian làm Chủ tịch Nhóm đặc trách IAI, Chương
trình thực hiện IAI đã thu nhiều kết quả (hiện IAI có 134 dự án và hơn 90% số dự án đó
đã có nguồn tài trợ với tổng số cam kết đạt được là 48 triệu USD tại các lĩnh vực như
phát triển cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, công nghệ thông tin, du lịch, xóa giảm đói
nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống ).
Tháng 6-2007, Việt Nam đăng cai tổ chức Diễn đàn Sáng kiến IAI lần thứ hai nhằm đề ra
chiến lược hợp tác thực hiện Sáng kiến IAI giai đoạn 2008 - 2015. Việt Nam đã đưa ra
sáng kiến quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội qua Chương trình hợp tác phát triển
Tiểu vùng Mê Công, các vùng nghèo dọc Hành lang Ðông-Tây (WEC)
Việt Nam cũng đã tham gia tích cực các hoạt động hợp tác chuyên ngành rất đa dạng và
phong phú bao gồm nhiều lĩnh vực, qua đó thu những kết quả thiết thực hỗ trợ việc thực
hiện các chương trình, mục tiêu quốc gia. Việt Nam đóng góp tích cực thúc đẩy hợp tác
giữa ASEAN với các đối tác, nâng cao vai trò và vị thế của ASEAN ở khu vực và quốc tế.
Việc nước ta tham gia hợp tác ASEAN phù hợp lợi ích cơ bản của đất nước, đã tạo thêm
điều kiện thuận lợi để nước ta tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác với các quốc gia
thành viên, góp phần thúc đẩy xu thế hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực, duy trì môi
trường quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hỗ trợ quá trình cải
cách và công cuộc đổi mới, nâng cao vai trò và vị thế quốc tế của nước ta.
Kết luận
ASEAN đã trải qua một chặng đường dài bốn thập kỷ. Bên cạnh những thành tựu đã đạt
được, ASEAN sẽ phải đối mặt với rất nhiều thách thức để thúc đẩy sự hợp tác nội khối và
ngoại khối trong những chặng đường tiếp theo. Điều này đòi hỏi công dân và các nhà
lãnh đạo ASEAN phải toàn tâm toàn ý vì mục tiêu phát triển chung của ASEAN với tinh