Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
CHNG I: TNG QUAN V TN DNG NGN HNG V
K TON CHO VAY TRONG HOT NG CA NGN
HNG
1.1 Tớn dng Ngõn hng v vai trũ ca tớn dng trong nn kinh t quc
dõn.
1.1.1 Tớn dng Ngõn hng
Tớn dng ra i cựng vi s xut hin ca tin t. Khi mt ch th kinh t
cn mt lng hng hoỏ cho nhu cu tiờu dựng hoc sn xut trong khi cha cú
tin hoc s tin hin cú cha h cú th s dng thỡ hỡnh thc vay mn cú
th ỏp ng nhu cu. Cú hai cỏch vay mn: vay chớnh loi hng hoỏ cú nhu cu
hoc vay tin mua loi hng hoỏ ú. Quan h vay mn nh vy gi l quan
h tớn dng. Nh vy s ra i v phỏt trin ca tớn dng khụng nhng thoó món
nhu cu iu ho vn trong xó hi m cũn l ng lc thỳc y s tng trng
ca nn kinh t.
H thng Ngõn hng thng mi ra i vi chc nng l trung gian ti
chớnh ra i l mt tt yu khỏch quan, lm cu ni gia nhng ngi tha
vn v ngi thiu vn. Núi cỏch khỏc trong mi quan h ny Ngõn hng úng
vai trũ va l ngi i vay va l ngi cho vay.Nh vy tớn dng Ngõn hng l
giao dch ti sn gia Ngõn hng (TCTD) vi bờn i vay (l cỏc t chc kinh t,
cỏ nhõn trong nn kinh t) trong ú Ngõn hng (TCTD) chuyn giao ti sn cho
bờn i vay s dng trong mt thi gian nht nh theo tho thun, v bờn i vay
cú trỏch nhim hon tr vụ iu kin c vn gc v lói cho Ngõn hng (TCTD)
Nguyễn Thu Hằng Lớp 50122
1
Khãa luËn tèt nghiÖp Häc viÖn Ng©n hµng
khi đến hạn thanh toán. (Nguồn: Giáo trình kế toán Ngân hàng-NXB Thống
kê/2005).
1.1.2 Vai trò của tín dụng Ngân hàng
Sự phát triển nền kinh tế sản xuất và lưu thông hàng hoá kéo theo sự ra
đời và phát triển của tiền tệ và các tổ chức kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ. Ngân
vậy nhu cầu vốn để đáp ứng cho hoạt động này cũng nảy sinh thường xuyên liên
tục với mức độ cao. Tín dụng Ngân hàng khai thác tối đa các nguồn vốn trong và
ngoài nước, cung cấp vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện phát triển các
ngành kinh tế mũi nhọn, khu công nghiệp. Bên cạnh đó TDNH còn cung cấp vốn
ưu đãi cho các thành phần kinh tế kém phát triển tạo đà cho tất cả các thành phần
kinh tế cùng phát triển.
Việc phân phối lại tín dụng đã góp phần điều hoà vốn trong nền kinh tế, làm
cho nền kinh tế được hoạt động một cách trôi chảy. Có thể nói tín dụng là “cầu
nối” giữa tiết kiệm và đầu tư, là động lực để kích thích tiết kiệm đồng thời cũng
là phương tiện đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển kinh tế.
Thông qua tín dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các tầng lớp dân
cư trong xã hội được tập trung lai và sẽ được đầu tư trở lại nền kinh tế. Điều này
sẽ làm cho hoạt động đầu tư được mở rộng, góp phần nâng cao sản lượng trong
sản xuất kinh doanh, phát triển nền kinh tế. Ngoài ra tín dụng còn kích thích
cạnh tranh, và liên kết giữa các thành phần kinh tế. Từ đó thúc đẩy sự phát triển
của nền kinh tế.
NguyÔn Thu H»ng Líp 50122
3
Khãa luËn tèt nghiÖp Häc viÖn Ng©n hµng
Tín dụng Ngân hàng đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn của các doanh
nghiệp, tổ chức, cá nhân để họ có thể đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật
cũng như thực hiện các kế hoạch của mình. Làm cho quá trình phát triển kinh
doanh được trôi chảy, thúc đẩy lưu thông hàng hoá, tăng tốc độ luân chuyển vốn
trong nền kinh tế quốc dân, thúc đẩy quá trình tái sản xuất mở rộng.
Tín dụng Ngân hàng thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung vốn và phân phối
vốn cho nền kinh tế.
Bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có vốn. Và
nhu cầu vốn trong xã hội luôn diễn ra một cách thường xuyên, liên tục. Để giải
quyết nhu cầu về vốn một cách nhanh chóng và có hiệu quả thì tín dụng Ngân
hàng là công cụ tốt nhất và quan trọng nhất. Tín dụng Ngân hàng không chỉ đáp
một trong những hoạt động kinh doanh quan trọng nhất đó là công tác hạch toán
kinh tế, vì quá trình hạch toán kinh tế là quá trình quản lý và sử dụng vốn sao
cho có hiệu quả nhất. Để làm tốt công việc này thì hạch toán kinh tế phải giám
sát chặt chẽ quá trình sử dụng vốn để vốn được sử dụng đúng mục đích, đúng đối
tượng nhằm thu được lợi nhuận là lớn nhất. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp,
các tổ chức kinh tế ngày càng hoàn thiện hơn chế độ hạch toán của doanh nghệp
mình.Không những thế đối với Ngân hàng, hoạt động tín dụng là hoạt động
mang lại nguồn thu nhập lớn nhất cho Ngân hàng. Vì vậy hoạt động tín dụng
cần đựơc quản lý một cách có hiệu quả và công tác kế toán cho vay là điều
không thể thiếu.
Hoạt động tín dụng góp phần điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông và
kiểm soát lạm phát.
NguyÔn Thu H»ng Líp 50122
5
Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
Khi lng tin trong lu thụng tng lờn khi Ngõn hng cho vay ra v gim
i khi Ngõn hng thu hi n. Nh vy thụng qua hot ng cho vay tớn dng
Ngõn hng gúp phn iu tit khi lng tin t lu thụng trong nn kinh t.
Ngõn hng thng s dng lói sut cho vay v huy ng iu tit cung
cu tin t trong nn kinh t. Mi s bin ng ca lói sut cú th lm thay i
khi lng tin vay. Khi lói sut tng lng tin vay gim ngc li khi lói gim
thỡ lng tin vay s tng. Cỏc Ngõn hng cng s dng hn mc tớn dng cho
cỏc khỏch hng vay nhm khng ch lng tin vay. õy l mt trong nhng
bin phỏp khim soỏt lm phỏt. Bi vỡ khi Ngõn hng kim soỏt c khi lng
tin trong lu thụng tc thoó món c nhu cu tin ca nn kinh t t ú kim
soỏt c gớa c, ng thi kim soỏt c lm phỏt.
Tớn dng Ngõn hng to iu kin phỏt trin quan h kinh t quc t.
Trong iu kin hin nay khi m xu hng ton cu húa ang din ra mt
cỏch nhanh chúng, nn kinh t ca mi nc u gn lin v tr thnh mt b
phn ca nn kinh t th gii thỡ quan h thng mi quc t ngy cng c m
4. Cho vay hợp vốn.
5. Cho vay trả góp.
6. Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng.
7. Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
NguyÔn Thu H»ng Líp 50122
7
Khãa luËn tèt nghiÖp Häc viÖn Ng©n hµng
8. Cho vay theo hạn mức thấu chi.
b) Chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá.
Cho vay chiết khấu thực chất là nghiệp vụ tín dụng trong đó, Ngân hàng
Thương mại mua lại thương phiếu và các giấy tờ có giá theo giá trị hiện tại tại
thời điểm mua, và có được trái quyền đối với người phát hành ra thương phiếu
khi đến hạn.
Về phía Ngân hàng Thương mại, cho vay chiết khấu thương phiếu là nghiệp
vụ tín dụng ngắn hạn, trong đó khách hàng chuyển nhượng phiếu chưa đến hạn
thanh toán cho Ngân hàng để nhận một số tiền bằng mệnh giá của thương phiếu
trừ đi số tiền chiết khấu và hoa hồng phí (nếu có). Chiết khấu thương phiếu vừa
là nghiệp vụ sinh lời, vừa duy trì năng lực thanh toán của Ngân hàng Thương
mại khi các Ngân hàng mang thương phiếu đến tái chiết khấu tại Ngân hàng Nhà
nước.
Xét trên góc độ quyền lợi và trách nhiệm của các bên tham gia, có hai loại
chiết khấu:
1. Chiết khấu miễn truy đòi.
2. Chiết khấu truy đòi.
c) Cho thuê tài chính.
Cho thuê tài chính là hình thức cho thuê tài sản trong đó phần lợi ích và rủi
ro của tài sản thuê được chuyển giao sang bên đi thuê. Vậy đây thực chất là tín
dụng trung và dài hạn, trong đó Ngân hàng theo đơn đặt hàng của khách hàng sẽ
mua tài sản về cho thuê và cuối hợp đồng khách hàng có thể mua lại tài sản theo
giá thoả thuận trong hợp đồng thuê.
Kế toán là một công cụ quan trọng để quản lý kinh tế tài chính ở mỗi đơn
vị, tổ chức kinh tế cũng như ở phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Kế toán Ngân hàng là việc thu thập, ghi chép, xử lý, phân tích các nghiệp
vụ kinh tế tài chính về hoạt động tiền tệ, tín dụng và các dịch vụ Ngân hàng dưới
hình thức chủ yếu là giá trị để phản ánh, kiểm tra toàn bộ hoạt động kinh doanh
của đơn vị Ngân hàng, đồng thời cung cấp thông tin cần thiết phục vụ cho công
tác quản lý hoạt động tiền tệ Ngân hàng ở tầm vĩ mô và vi mô, cung cấp thông
tin cho các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.
Ngân hàng là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh tiền tệ do đó hầu hết
các nghiệp vụ kế toán Ngân hàng đều liên quan đến các ngành kinh tế khác. Vì
vậy kế toán Ngân hàng không chỉ phản ánh tổng hợp hoạt động cảu bản thân
Ngân hàng mà nó còn phản ánh được đại bộ phận hoạt động kinh tế, tài chính
của nền kinh tế. Những số liệu do kế toán Ngân hàng cung cấp là những chỉ tiêu
kinh tế quan trọng giúp cho việc chỉ đạo, điều hành hoạt động kinh doanh Ngân
hàng, là căn cứ cho việc hoạt dộng thực thi chính sách tiền tệ quốc gia.
b) Khái niệm về kế toán cho vay
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó Ngân hàng giao cho khách
hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả
thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Đây được coi là nghiệp vụ chủ
yếu chiếm tỷ trọng tài sản có sinh lời lớn nhất trong tổng tài sản có của Ngân
hàng, đồng thời cũng đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho Ngân hàng. Theo
NguyÔn Thu H»ng Líp 50122
10
Khãa luËn tèt nghiÖp Häc viÖn Ng©n hµng
thống kê ở Việt Nam giá trị tài sản từ hoạt động tín dụng chiếm 70%-80% tổng
tài sản có, thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm 80%- 90% tổng thu của Ngân
hàng.
Kế toán nghiệp vụ tín dụng là công việc ghi chép, phản ánh tổng hợp một
cách đầy đủ, chính xác, kịp thời các khoản tín dụng trong tất cả các khâu từ giải
ngân, thu nợ, thu lãi và theo dõi dư nợ toàn bộ cấp tín dụng của Ngân hàng, trên
có biện pháp xử lý kịp thời.
- Thông qua số liệu của kế toán cho vay để phát huy vai trò tham mưu của
kế toán trong nghiệp vụ tín dụng.
e) Tài khoản sử dụng trong kế toán cho vay
Tài khoản kế toán là phương pháp kế toán dùng để phân loại và hệ thống
hóa các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh theo nội dung kinh tế.
Các tài khoản được sử dụng trong cho vay được căn cứ vào cơ chế nghiệp
vụ tín dụng mà bố trí sắp xếp một các thích hợp, đáp ứng yêu cầu quản lý của
nghiệp vụ tín dụng.
- Tài khoản nội bảng
Các tài khoản phản ánh nghiệp vụ cho vay
NguyÔn Thu H»ng Líp 50122
12
Khãa luËn tèt nghiÖp Häc viÖn Ng©n hµng
Tài khoản này được bố trí ở 2 loại “hoạt động tín dụng” trong hệ thống tài
khoản tổ chức tín dụng do Thống đốc ban hành
Để phản ánh từng loại khách hàng vay vốn, từng kỳ hạn vay( ngắn, trung
và dài hạn), từng loại tiền cho vay( bằng đồng Việt Nam hay ngoại tệ hoặc vàng)
và phản ánh được yêu cầu phân loại nợ, trong 2 loại được bố trí thành các tài
khoản tổng hợp cấp I, II và cấp III.
TK cấp I: TK 20: Cho vay các tổ chức tín dụng khác.
TK21: Cho vay các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước.
TK 22: Chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá đối với các tổ
chức kinh tế, cá nhân trong nước.
TK 23: Cho thuê tài chính.
TK 24: Bảo lãnh.
….
TK cấp II được mã hoá theo thời gian và loại tiền tệ. Ví dụ với TK 21.
TK 211: Cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam.
TK 212: Cho vay trung hạn bằng đồng Việt Nam.
Bên có ghi: Số tiền lãi khách hàng đã trả
NguyÔn Thu H»ng Líp 50122
14
Khãa luËn tèt nghiÖp Häc viÖn Ng©n hµng
Số dư nợ: Phản ánh số lãi mà Ngân hàng chưa được thanh toán
Hạch toán chi tiết: Mở tài khoản chi tiết theo từng tổ chức, cá nhân vay
vốn.
Tài khoản 702: Thu lãi cho vay Tài khoản này dùng để hạch toán số tiền
thu lãi từ các khoản cho vay khách hàng.
Kết cấu của tài khoản thu lãi cho vay
Bên có ghi: Số tiền thu lãi cho vay
Bên nợ ghi: Kết chuyển số dư Có và TK “Lợi nhuận năm nay” khi
thựchiện quyết toán năm
Số dư có: Phản ánh số thu nhập về lãi cho vay của Ngân hàng
Tài khoản 209: Dự phòng phả thu khó đòi
- Tài khoản này dùng để phản ánh việc lập và xử lý các khoản dự phòng
về các khoản cho vay của Ngân hàng. Khoản dự phòng phải thu khó đòi được
trích từ chi phí của kỳ kế toán.
Kết cấu của tài khoản phải thu khó đòi
Bên có ghi: Số dự phòng phải thu khó đòi tính vào chi phí
Bên nợ ghi:- Các khoản nợ phải thu khó đòi không thu được phải xử
lý xoá nợ.
- Kết chuyển số chênh lệch về dự phòng phải thu khó đòi
đã lập không sử dụng còn lại đến cuối niên độ kế toán.
Số dư có:Phản ánh dự phòng phải thu khó đòi còn lại cuối kỳ
Hạch toán chi tiết: Mở một tài khoản chi tiết
NguyÔn Thu H»ng Líp 50122
15
Khãa luËn tèt nghiÖp Häc viÖn Ng©n hµng
Tài khoản ngoại bảng
Ngoài ra còn TK 97: Nợ khó đòi đã xử lý
TK996: Chứng từ có giá của khách hàng đưa cầm cố.
d) Chứng từ sử dụng
Chứng từ dùng trong kế toán cho vay là những loại giấy tờ, vật mang tin
đảm bảo vầ mặt pháp lý cho các khoản vay của Ngân hàng. Mọi sự tranh chấp về
các khoản cho vay hay trả nợ giữa Ngân hàng và người vay đều phải giải quyết
trên cơ sở các chứng từ cho vay hợp lệ, hợp pháp.
Chứng từ kế toán cho vay bao gồm nhiều loại để phục vụ cho công việc
hạch toán và theo dõi thu hồi nợ:
Chứng từ gốc:
Là chứng từ có giá trị pháp lý trong quan hệ tín dụng xác định quyền và
nghĩa vụ của hai bên đi vay và cho vay. Chứng từ gốc bao gồm
- Giấy đề nghị vay vốn.
- Hợp đồng tín dụng.
- Giấy nhận nợ.
- …
NguyÔn Thu H»ng Líp 50122
17
Khãa luËn tèt nghiÖp Häc viÖn Ng©n hµng
Chứng từ ghi sổ:
Là chứng từ làm thủ tục kế toán, là căn cứ được lập trên cơ sở chứng từ
gốc. Chứng từ ghi sổ bao gồm
- Giấy lĩnh tiền mặt (nếu giải ngân bằng tiền mặt )
- Các chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt như UNT, UNC...
( nếu giải ngân bằng chuyển khoản)
- ….
g) Các phương thức cho vay
Phương thức cho vay là cách tính toán cho vay, thu nợ dựa vào tính chất,
đặc điểm và cách xác định đối tượng cho vay. Việc áp dụng phương thức cho
vay nào phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh, nhu cầu về vốn của đối tượng xin
tới Ngân hàng xem xét quyết định cho vay. Gây tốn kém thời gian, công sức và
gay ra khó khăn cho người vay làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của
khách hàng, thậm chí mất cơ hội kinh doanh nếu không có vốn kịp thời.
Mặt khác việc xác định thời hạn vay mang tính chủ quan. Nếu đối tượng
có vòng quay vốn nhanh thì doanh nghiệp có thể sử dụng vốn sai mục đích, gây
ảnh hưởng đến việc thu hồi nợ và ảnh hưởng đến nguồn vốn của Ngân hàng.
2. Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng
Cho vay theo hạn mức tín dụng là phương thức cho vay bằng chách Ngân
hàng xác định cho khách hàng của mình một hạn mức tín dụng trong một khoảng
thời gian nhất định để làm ăn cứ cho việc phát tiền vay.
Phương thức này áp dụng đối với những doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh ổn định sản xuất nhiều mặt hàng, nhu cầu vay trả phát sinh thường xuyên,
có vòng quay vốn tín dụng, vòng quay vốn lưu động nhanh, có tín nhiệm đối với
NguyÔn Thu H»ng Líp 50122
19
Khãa luËn tèt nghiÖp Häc viÖn Ng©n hµng
Ngân hàng trong quan hệ tín dụng. giữa Ngân hàng và khách hàng xác định và
thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong thời hạn nhất định hoặc theo chu
kỳ sản xuất kinh doanh.
Ưu điểm
Đây là phương thức cho vay năng động, linh hoạt đáp ứng được kịp thời
chu cầu của người vay bởi thủ tục vay vốn dơn giản, thuận tiện. Khách hàng chỉ
cần làm thủ tục vay vốn lần đầu còn mỗi lần sau khách hàng không phải làm đơn
xin vay cũng như hợp đồng tín dụng mà chỉ cần gửi đến Ngân hàng các chứng từ
kế toán thích hơp, phù hợp với mục đích sử dụng tiền vay trong hợp đồng tín
dụng. Do đó khách hàng hoàn toàn có thế chủ động trong việc vay và trả nợ.
Ngân hàng cũng có thể kiểm soát được các khoản thu nhập của khách
hàng, từ đó nắm bắt được tình hình sản xuất kinh doanh, đặc biệt là khả năng tài
chính của khách hàng. Từ đó Ngân hàng có những quyết định đúng sắn kịp thời
trong quan hệ tín dụng với khách hàng
trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả cho nhiều kỳ trong thời hạn cho vay.
Phương thức này chủ yếu đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia
đình. Đối tượng cho vay là những người có thu nhập đều đặn, ổn định. Khách
hàng có thể trả nợ trước hạn nhưng Ngân hàng không tính lãi số tiền mà khách
hàng phải trả.
NguyÔn Thu H»ng Líp 50122
21
Khãa luËn tèt nghiÖp Häc viÖn Ng©n hµng
6. Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng
Căn cứ vào nhu cầu vay của khách hàng Ngân hàng sẽ thoả thuận cho
khách hàng sử dụng một hạn mức tín dụng trong phạm vị thời gian hiệu lực của
hợp đồng. Nừu khách hàng không sử dụng hoặc không sử dụng hết hạn mức tín
dụng dự phòng thì khách hàng phải trả phí cam kết. Khi khách hàng vay chính
thức phần vốn vay sẽ tính theo mức lãi suất hiện hành.
7. Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
Ngân hàng sẽ xác định một hạn mức tín dụng để người chủ thẻ có thể sử
dụng để thanh toán, mua sắm, rut tiền tại máy rút tiền tự động. Khách hàng
không phải ký quỹ đối với loại thẻ này.
8. Cho vay theo hạn mức thấu chi
Là phương thức cho vay mà Ngân hàng thoả thuận bằng văn bản chấp
thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách
hàng phù hợp với quy định của Chính Phủ và Ngân hàng Nhà nước về hoạt động
thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
9. Cho vay theo phương thức khác
Theo nhu cầu của khách hàng và theo thực tế phát sinh tại Ngân hàng sẽ
xem xét cho vay theo các phương thức khác phù hợp với đặc điểm trong từng
thời kỳ và không trái với quy định của pháp luật.
f) Quy trình kế toán cho vay
Trong phạm vi nghiên cứu của khoá luận chỉ giới thiệu 2 phương thức cho
vay phổ biến.
sự chênh lệch thì phải tìm nguyên nhân để điều chỉnh sao cho tổng dư nợ trên
hợp đồng tín dụng phải bằng tổng dư nợ của các tài khoản cho vay tương ứng.
+ Giai đoạn thu nợ
Cơ sở để kế toán thu hồi các khoản cho vay từng lần là kỳ hạn nợ ghi trên
hợp đồng tín dụng, việc xác định kỳ hạn nợ là của cán bộ tín dụng ngưng việc
theo dõi kỳ hạn nợ để thu nợ là của nhân viên kế toán.
Theo quy chế tín dụng, đến hạn nợ người vay phải chủ động nộp bằng tiền
mặt hay trích tài khoản tiền gửi để trả nợ Ngân hàng. Nếu người vay không chủ
động trả nợ trong khi tài khoản tiền gửi của người vay đủ để trả nợ thì kế toán
chủ động lập phiếu chuyển trích tài khoản tiền gửi của người vay để thu nợ.
Nợ: TK tiền mặt (Nếu thu bằng tiền mặt )
Nợ: TK tiền gửi của người vay (Nếu thu bằng chuyển khoản )
Có: TK cho vay chi tiết theo khách hàng
Nếu kết thúc kỳ hạn nợ mà khách hàngkhông trả được nợ và cũng không
được Ngân hàng xem xét cho gia hạn nợ. Kế toán phải chuyển sang nợ không đủ
tiêu chuẩn tùy theo mức độ đánh giá rủi ro của khoản nợ và áp dụng lãi suất nợ
quá hạn.
Nợ: TK cho vay chi tiết theo khách hàng (nợ không đủ tiêu chuẩn )
Có: TK cho vay chi tiết theo khách hàng (nợ đủ tiêu chuẩn )
Đối với những khoản vay có bảo đảm bằng tài sản kế toán hạch toán ngoại
bảng.
Xuất: TK Tài sản cầm cố, thế chấp của khách hàng
+ Kế toán thu lãi vay
Theo chế độ tín dụng và chế độ kế toán, hiện nay đối với phương thức cho
vay từng lần, Ngân hàng áp dụng 2 cách thu lãi
NguyÔn Thu H»ng Líp 50122
24
Khãa luËn tèt nghiÖp Häc viÖn Ng©n hµng
- Thu lãi định kỳ hàng tháng
- Thu lãi sau (thu lãi một lần cùng gốc khi đáo hạn)