Một số kinh nghiệm trong quản lý, chỉ đạo việc tăng cường các giải pháp ... - Pdf 15

MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG QUẢN LÝ,
CHỈ ĐẠO VIỆC TĂNG CƯỜNG CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG
HỌC SINH LƯU BAN, BỎ HỌC Ở CẤP TIỂU HỌC VÀ THCS
I. CƠ SỞ CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay tình trạng học sinh bỏ học đã và đang làm cho cả nước quan tâm.
Đặc biệt trong xu thế hiện nay, Việt Nam đã công bố hoàn thành mục tiêu phổ cập
giáo dục tiểu học, đang trên đường hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục THCS
trên phạm vi cả nước, thì việc yêu cầu trẻ học hết cấp Tiểu học và cấp THCS là
một yêu cầu rất cần thiết và quan trọng để từng bước nâng cao mặt bằng dân trí của
xã hội theo định hướng và các đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước. Nhiệm
vụ và mục tiêu của giáo dục là phải thực hiện cho được quá trình dạy và học có
chất lượng để mọi trẻ em đều được học, được hiểu, “học được” là một vấn đề mà
các nhà quản lý, cán bộ chỉ đạo chuyên môn và giáo viên trực tiếp đứng lớp cần đặc
biệt chú trọng và quan tâm. Với tư cách là một phó Trưởng phòng chỉ đạo chuyên
môn, đây là một nội dung mà bản thân thật sự trăn trở và lấy làm nội dung suy nghĩ
cần phải tìm ra một số giải pháp hữu hiệu nhất để từng bước khắc phục tình trạng
trên. Theo tôi, học sinh bỏ học có nhiều lý do khác nhau:
- Do bố mẹ không quan tâm, đời sống gặp nhiều khó khăn, kinh tế không
phát triển.
- Cơ sở vật chất còn nghèo nàn, thiếu thốn.
- Chính quyền địa phương chưa đầu tư nhiều cho công tác giáo dục…
Qua theo dõi, chỉ đạo nhiều năm, bản thân quan tâm đến những nguyên nhân
chủ quan, tác động đến quá trình dạy và học ở các trường khác nhau để tìm ra giải
pháp khắc phục. Như lời khuyên của Socrat (469-399 VC Hy Lạp) là “Hãy tự hiểu
mình” và chỉ có tự hiểu mình thì mới tìm ra được giải pháp cụ thể.
II. VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH GIÁO DỤC VÀ THỰC TRẠNG
HỌC SINH LƯU BAN, BỎ HỌC CỦA HUYỆN
Huyện Cư Kuin được thành lập vào ngày 25 tháng 11 năm 2007 theo Nghị
định 137/2007/ NĐ-CP ngày 27 tháng 8 năm 2007 của Chính phủ về việc điều
chỉnh địa giới hành chính của huyện Krông Ana để thành lập huyện Cư Kuin, tỉnh
ĐắkLắk; Với diện tích tự nhiên 21.496,32 ha; có 109.770 nhân khẩu, trong đó đồng

khuyết điểm) tạo nên tâm lý sợ hãi, xấu hổ trước bạn bè.
- Việc phụ đạo, tổ chức học thêm của một số ít giáo viên.
- Tư duy của giáo viên và học sinh không gặp chung một điểm, tức là sự phối
hợp đồng bộ của giáo viên và học sinh còn nhiều cứng nhắc. Trong quá trình dạy
học giáo viên không nắm chắc từng đối tương học sinh, không biết trong đầu học
sinh có cái gì ? cần dạy cái gì ? và dạy như thế nào? Vấn đề này thể hiện rất rõ. Ví
dụ: học sinh đọc không trôi chảy mà giáo viên bắt học sinh đọc diễn cảm; học sinh
chưa thuộc bảng cửu chương mà học phép nhân, chia thì vô cùng khó đối với học
sinh và không mang lại hiệu quả gì cả, tạo tâm lý học sinh chán học và sợ học.
Với các lý do nêu trên, là một phó Trưởng phòng chỉ đạo chuyên môn, tôi
xin mạnh dạn được nêu một vài kinh nghiệm để chia sẻ cùng với các đồng nghiệp;
với mục đích cuối cùng là từng bước nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của
cấp học Tiểu học và THCS trên địa bàn toàn huyện.
III. MỘT SỐ KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH QUẢN LÝ, CHỈ ĐẠO
Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện được thành lập và đi và chính thức đi vào
hoạt động vào ngày 01/01/2008 theo Quyết định số 3499/QĐ-UBND ngày 25 tháng
12 năm 2007 của UBND tỉnh ĐắkLắk về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
của các phòng, ban chuyên môn thuộc UBND lâm thời huyện Cư Kuin; trong
những ngày đầu mới thành lập, huyện và Ngành còn gặp không ít khó khăn:
2
- Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên tuy đủ về số lượng nhưng trình độ
chuyên môn nghiệp vụ chưa đồng đều; một số giáo viên tuổi đời đã cao nên việc bố
trí, sắp xếp chuyên môn khó phù hợp, việc tiếp cận chương trình đổi mới giáo dục
phổ thông còn chậm, kém linh hoạt, râp khuôn, gượng ép, bỡ ngỡ….
- Học sinh dân tộc thiểu số chiếm số lượng khá đông; chất lượng học sinh
vùng sâu, vùng xa còn thấp, hay bỏ học, nhận thức của một bộ phận cha mẹ học
sinh còn hạn chế.
- Một số trường phòng học còn thiếu, cơ sở vật chất còn tạm bợ; chính quyền
địa phương chưa thật sự quan tâm làm ảnh hưởng lớn đến việc duy trì sĩ số và nâng
cao chất lượng.

3
- Chỉ đạo các trường dựa trên kết quả kiểm tra định kỳ, tiến hành rà soát toàn
bộ số học sinh, cần quan tâm đối với hai môn Toán và Tiếng Việt. Căn cứ vào
chuẩn kiến thức kỹ năng của từng khối lớp được ban hành kèm theo Quyết định số
16/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 5/5/2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban
hành chương trình giáo dục phổ thông để rà soát. Nếu kết quả kiểm tra định kỳ
chưa chính xác thì Trưởng ban tổ chức thành lập tổ khảo sát lại để đảm bảo chất
lượng thực chất.
- Dựa vào kết quả khảo sát, các trường lập danh sách học sinh hai diện:
+ Loại chưa biết đọc, chưa biết viết Tiếng Việt (đối với học sinh TH).
+ Học không hiểu, kiến thức bị hổng của các lớp dưới, ngại học… (đối với
học sinh THCS).
+ Loại có nguy cơ bỏ học do học yếu hoặc nguyên nhân khác (đối với học
sinh TH và THCS)
- Từng học kỳ, từng năm Phòng tổng hợp danh sách học sinh thuộc các diện
trên của tất cả các trường để theo dõi và kịp thời chỉ đạo việc mở các lớp học đặc
biệt cho đối tượng học sinh “Ngồi nhầm lớp”. Đối tượng này phần lớn là học sinh
dân tộc thiểu số; do vậy cần vận dụng linh hoạt các văn bản chỉ đạo chuyên môn về
vùng, miền của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Phòng chỉ đạo các trường tùy vào đối
tượng học sinh để xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp, có thể cắt giảm bớt một số
môn học khác để tập trung dạy tăng cường hai môn Toán và tiếng Việt (vì hai môn
học này là môn học công cụ có tính chất chủ công để lĩnh hội các môn học khác).
Cũng có thể chia nhỏ số lượng học sinh trong một lớp để dễ kèm cặp. Nội dung
giảng dạy chủ yếu tập trung vào các kiến thức cơ bản của lớp đang học kết hợp ôn
tập kiến thức bị hổng của lớp trước nhằm bổ trợ kiến thức cho học sinh với quan
điểm “ yếu đâu bồi đó”.
- Chỉ đạo các trường tăng cường công tác phụ đạo vào các buổi ngoài giờ
chính khóa bằng nhiều hình thức như: ghép đôi bạn học tập; tổ chức các lớp học
thân thiện, môi trường học tập thân thiện theo tài liệu hướng dẫn của Dự án Giáo
dục Tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn (đối với học sinh Tiểu học), kết

bỏ học và khắc phục tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp cấp Tiểu học, THCS bước
đầu đã đạt được một số kết quả theo bảng thống kê từng năm học cụ thể như sau:
(tính cả số liệu của Phòng Giáo dục Krông Ana).
1. Cấp Tiểu học:
TT Năm học
Tổng số HS
bỏ học
Tỷ lệ
Tổng số HS lưu
ban
Tỷ lệ
Tổng số HS
ngồi nhầm lớp
Tỷ lệ
1 2005-2006 383 2,1 612 3,7 486 2,5
2 2006-2007 335 1,8 411 2,83 287 2,02
3 2007-2008 204 1,7 398 3,2 0 0
4 Kỳ I 08-09 60 0,5
2. Cấp THCS:
TT Năm học
Tổng số HS
bỏ học
Tỷ lệ
Tổng số HS lưu
ban
Tỷ lệ
Tổng số HS
ngồi nhầm lớp
Tỷ lệ
1 2005-2006 611 5,9 550 5,7 221 2,7

các giải pháp chống học sinh lưu ban, bỏ học cấp Tiểu học và cấp THCS của
Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Cư Kuin. Với sự nỗ lực phấn đấu không
ngừng của các cấp quản lý và giáo viên, Ngành đã cơ bản thực hiện có hiệu quả
việc chống học sinh lưu ban, bỏ học và khắc phục tình trạng học sinh ngồi
nhầm lớp. Chắc chắn sẽ còn nhiều vấn đề cần tiếp tục tháo gỡ, khắc phục vì việc
nâng cao chất lượng giáo dục không phải là ngày một, ngày hai mà là cả một
quá trình phấn đấu lâu dài , kiên trì và bền bỉ với sự phối hợp của các cấp, các
ngành. Rất mong được nghe ý kiến đóng góp xây dựng và chỉ đạo của các cấp,
của các đồng nghiệp để bản thân có cơ sở tiếp tục chỉ đạo tốt hơn trong thời gian
tới./.
NGƯỜI VIẾT
Trần Văn Hải
6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status