Đề cương thi vấn đáp Xã hội hóa trong GD - Pdf 15

NỘI DUNG ÔN THI VẤN ĐÁP
PHÂN HÓA XÃ HỘI VÀ BÌNH ĐẲNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC
1. Phân tích khái niệm phân hóa xã hội. Phân hóa xã hội và phân tầng xã hội ?
2. Phân hóa xã hội trong giáo dục là gì?
3. Bình đẳng xã hội là gì? Bình đẳng xã hội trong giáo dục là gì?
4. Công bằng xã hội là gì? Cần hiểu công bằng xã hội trong giáo dục như thế nào?
5. Phân tích mối quan hệ giữa công bằng xã hội và bình đẳng xã hội trong giáo dục?
6. Căn cứ vào “tỉ lệ đi học đúng tuổi” tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông,
cao đẳng, đại học của Việt Nam trong thời gian vừa qua, hay phân tích thực trạng
phân hóa xã hội và bất bình đẳng xã hội trong giáo dục?
7. Phân biệt tỉ lệ bỏ học của học sinh với tỉ lệ không đến trường đúng độ tuổi. Phân
tích tầm quan trọng của việc phải làm rõ hai khái niệm này?
8. Phân tích nguyên nhân, yếu tố ảnh hưởng đến sự phân hóa xã hội, bình đẳng xã
hội trong giáo dục ở Việt Nam hiện nay?
9. Chức năng sàng lọc của giáo dục giáo dục là gì? Liên hệ với vấn đề bất bình đẳng
giáo dục? Liên hệ với phân ban, phân luồng trong giáo dục
10. Thiết chế xã hội là gì? Phân tích một số loại thiết chế xã hội (giáo dục, kinh tế,
pháp luật, văn hóa) và mối quan hệ của nó với vấn đề bất bình đẳng xã hội trong
giáo dục? Đối với từng thiết chế hãy chỉ ra những yếu tố thúc đẩy và yếu tố kìm
hãm bình đẳng xã hội trong giáo dục.
11. Bất bình đẳng xã hội trong giáo dục gia đình và bất bình đẳng xã hội trong giáo
dục nhà trường. Liên hệ với thực tế.
12.Phân tích ảnh hưởng của gia đình (ví dụ sự đầu tư của gia đình cho giáo dục) đối
với sự bình đẳng xã hội trong giáo dục?
13.Xã hội hóa giáo dục phổ thông có ảnh hưởng gì đến vấn đề bất bình đẳng xã hội
trong giáo dục?
14. Phân tích các tác động, hệ quả hay chức năng của phân hóa xã hội và bình đẳng
xã hội trong giáo dục đối với sự phát triển nhanh, bền vững?
15.Cần phải làm gì với hiện tượng “thừa thày, thiếu thợ”?
16. Phân hóa xã hội và bình đẳng xã hội trong giáo dục nghề nghiệp.
17. Từ góc độ lý thuyết xã hội bằng cấp và xã hội phi trường quy hãy phân tích vấn

• Tỷ lệ bỏ học của học sinh là tỷ số giữa : số lượng học sinh được đi học nhưng vì lý
do nào đó không đi học nữa trên tổng số học sinh đang đi học
• Tỷ lệ học sinh không đến trường đúng độ tuổi là tỷ số giữa: số học sinh đúng độ
tuổi không được đến trường trên tổng số học sinh đúng độ tuổi được đến trường
1.2. Phải làm rõ hai khái niệm nhằm:
- Tìm ra các nguyên nhân gây ra tỷ lệ bỏ học của học sinh và Tỷ lệ học sinh không
đến trường đúng độ tuổi .
+Bất bình đẳng giới trong giáo dục: Với định kiến của cha mẹ cho rằng các
em nữ không cần phải học nhiều mà cần học nội trợ trong gia đình là đủ. Điều này
dẫn đến các em gái đúng độ tuổi đi học phải ở nhà không được đi học.Gắn liền với
nguyên nhân này là tình trạng đói nghèo của gia đình và trình độ học vấn thấp của
cha mẹ ( phổ biến ở các vùng dân tộc)
+Bất bình đẳng giữa thành thị và nông thôn
` +Bất bình đẳng giữa nhóm giàu và nhóm nghèo
+ Bất bình đẳng giữa các dân tộc.)
Từ đó tìm hiểu nguyên nhân nào là nguyên nhân chính gây nên các hiện tượng trên
- So sánh giũa hai tỷ lệ này ( tỷ lệ học sinh bỏ học bao giờ cũng nhỏ hơn tỷ lệ học
sinh không đến trường đúng độ tuổi. Vì học sinh bỏ học chỉ là số học sinh đã tham
gia đi học nhưng do một nguyên nhân: hoàn cảnh gia đình mà em phải bỏ học. Trong
khi đó học sinh không đi học đúng độ tuổi do nhiều nguyên nhân khách quan như đã
kể trên)
- Tìm ra các biện pháp khắc phục tình trạng học sinh bỏ học và học sinh không được
đến trường đúng độ tuổi
+Lồng ghép giới trong giáo dục nhằm nâng cao bình đẳng giới
+Đầu tư cơ sở vật chất, trường lớp tại các vùng nông thôn, vùng cao, vùng dân
tộc ít người.Đồng thời tuyên truyền, vận động để mọi gia đình đều cho con em đến
trường đúng độ tuổi
+Có chính sách hỗ trợ cho con em gia đình nghèo, con em dân tộc thiểu số có
điều kiện tham gia học tập
1.3.Số liệu về tỷ lệ học sinh không đi học đúng độ tuổi:

* Bất bình đẳng giữa nhóm giàu và nhóm nghèo
4
* Bất bình đẳng giữa các dân tộc
2.3.2 Nguyên nhân của bất bình đẳng xã hội trong giáo dục
- Điều kiện tự nhiên ( vị trí địa lý)và cơ sở hạ tầng
- Bất bình đẳng về kinh tế và nhận thức không đồng đều giữa các nhóm xã hội.
- Bất bình đẳng giữa các vùng miền, giữa các gia đình và môi trường sinh sống
- Sự phân bổ giữa các nguồn đầu tư cho giáo dục.
Câu 9. Chức năng sàng lọc của giáo dục là gì? Liên hệ với vấn đề bất bình đẳng
giáo dục? Liên hệ với phân ban, phân luồng trong giáo dục?
Trả lời
1.Chức năng sàng lọc của giáo dục
Chức năng đánh giá, phân loại trình độ học vấn của học sinh, từ đó tuyển chọn học sinh
vào những trường, những lớp khác nhau về năng lực học tập và trình độ phát triển của cá
nhân, được gọi là chức năng sàng lọc của giáo dục.
2.Liên hệ với vấn đề bất bình đẳng giáo dục
a. Quan điểm thứ nhất: Chức năng sàng lọc của giáo dục đảm bảo công bằng và
bình đẳng xã hội.
- Nhờ cơ chế tuyển sinh thông qua việc kiểm tra, thi các trường (phổ thông, cao
đẳng, đại học…) sẽ tuyển chọn và phân loại được trình độ học sinh, từ đó có thể xếp các
em vào các lớp có phương pháp dạy học phù hợp, giúp cho các em có thể phát huy hết
năng lực của bản thân.
- Cũng nhờ có cơ chế thi tuyển sinh mà các em học sinh năng lực cao, đạt điểm
cao hơn có thể đỗ vào các trường đại học danh tiếng, các em học sinh năng lực thấp, đạt
điểm thấp chỉ có thể đỗ và theo học ở các trường đại học bình thường.
Với cơ chế thi cử trên, nếu làm khách quan, chính xác, thì việc sắp xếp các em học
sinh vào các lớp học khác nhau trong một trường hoặc vào các trường khác nhau, không
phụ thuộc vào điều kiện kinh tế và địa vị xã hội của gia đình các em, từ đó đảm bảo công
bằng, bình đẳng xã hội trong giáo dục.
2.Quan điểm thứ 2: Giáo dục là công cụ sàng lọc của xã hội nên nó góp phần củng

nghiệp thực tế của từng người. Khi đó sự phân ban, phân luồng trong giáo dục sẽ giúp
cho các cá nhân lựa chọn được những môn học, ngành học phù hợp với năng lực – sở
trường của bản thân, từ đó phát huy hết được năng lực bản thân, đồng thời có nhiều cơ
hội thành công hơn trong nghề nghiệp sau này.
- Tuy nhiên với đặc điểm xã hội nước ta hiện nay với hệ thống giáo dục có tính
chất tinh hoa (người giỏi hơn mới được đi học theo cơ chế tuyển sinh đại học) và tuyển
chọn nhân lực chủ yếu dựa vào bằng cấp thì phân ban, phân luồng trong giáo dục còn
gây nên sự bất bình đẳng xã hội. Thực tế ở các trường THPT hiện nay cho thấy học sinh
học ban cơ bản có lợi thế hơn hẳn các ban còn lại vì thứ nhất chương trình học nhẹ hơn,
thứ hai học sinh có nhiều cơ hội hơn khi chọn ngành nghề để học, chọn trường đại học
để thi. Học sinh học ban khoa học tự nhiên phải học chương trình nặng nề hơn, tuy nhiên
6
cơ hội chọn ngành nghề, chọn trường thi không hơn gì đối với học sinh ban cơ bản. Học
sinh ban KHXH&NV có ít cơ hội chọn ngành nghề hơn, chọn trường đại học để thi hơn
hai ban còn lại, nên học sinh học ban này cũng thiệt thòi hơn. Các trường THPT hiện nay
hầu hết học sinh đăng ký học ban cơ bản; nếu các trường buộc phải có đủ các lớp học
cho đủ các ban thì ban KHXH&NV thường chỉ chọn được các học sinh kém nhất trong
tổng số các em học sinh dự tuyển vào trường và luôn là những lớp, những học sinh yếu
nhất trường trong quá trình học tập.
Câu 10: Thiết chế xã hội là gì? Phân tích một số loại thiết chế xã hội (giáo dục, kinh
tế, pháp luật, văn hóa) và mối quan hệ của nó với vấn đề bất bình đẳng xã hội trong
giáo dục? Đối với từng thiết chế hãy chỉ ra những yếu tố thúc đẩy và yếu tố kìm
hãm bình đẳng xã hội trong giáo dục.
- Khái niệm: Thiết chế XH là một hệ thống các cách thức, các quy tắc chính
thức và phi chính thức được con người tạo ra để điều chỉnh hành vi, hoạt
động của các cá nhân, các nhóm, các tổ chức nhằm đáp ứng những nhu cầu
nhất định của XH.
1. Các thiết chế xã hội cơ bản
1.1. Thiết chế giáo dục
- Khái niệm: Giáo dục là thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau những kiến thức và kinh

+ Kìm hãm:
- Người nghèo ko đủ chi cho các chi phí học tập
- Người thu nhập khá muốn con học trường công để đỡ tốm kém
- Người giàu muốn con đi du học.
- Các trường chỉ đầu tư đào tạo các ngành có lãi cao.
- Vốn đầu tư dàn trải, ko đạt đc mục tiêu
1.3. Thiết chế pháp luật:
+ Mối quan hệ giữa thiết chế pháp luật với thiết chế giáo dục:
- Nhà trường giáo dục học sinh pháp luật để học sinh sống và làm việc theo hiến
pháp, pháp luật.
- Toàn bộ hoạt động giáo dục cũng phải tuân theo hiến pháp luật.
+ Thúc đẩy:
- Nhờ hiểu biết pháp luật mà bất bình đẳng được hạn chế
- Các tiêu cực trong giáo dục bị lên án, xử lý và giảm dần
- Các luật đảm bảo quyền lợi cho người học, đảm bảo sự bình đẳng trong gd
- Luật phổ cập thúc đẩy phổ cập giáo dục tiểu học và THCS
+ Kìm hãm:
- Các quy định về SGK, các khoản đóng góp làm cho người nghèo khó đáp ứng.
- Chính sách tiền lương chưa phù hợp làm nảy sinh hàng loạt tiêu cực trong gd
1.4 Thiết chế văn hóa:
- KN: TCVH là chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố: cở sở CV, bộ máy nhân sự,
quy chế hoạt động, nguồn kinh phí…
+ Thúc đẩy:
- Học sinh tiếp thu tinh hoa văn hóa qua các thế hệ từ đó có cách ứng xủ phù hợp.
- Con người khi được giáo dục bằng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc sẽ trở thành những công dân tốt, con người có ích…
- Giải phóng phụ nữ  bình đẳng XH trong GD
- Thiết chế VH cơ sở làm cho đời sống khu dân cư tốt hơn, văn minh hơn
+ Kìm hãm:
- Bất bình đẳng giới trong gd

-Thiết chế giáo dục với cấu trúc quá trình và các khuôn mẫu tương tác, trọng tâm
nghiên cứu của xã hội về giáo dục và phụ thuộc trực tiếp vào các điều kiện lịch sử.
Thiết chế giáo dục Việt Nam bao gồm những bộ luật (luật giáo dục, chăm sóc và bảo
vệ trẻ em).
- Luật giáo dục và một số quy tắc thể hiện giá trị, chuẩn mực, truyền thống hiếu học
“tôn sư trọng đạo”.
- Thiết chế quy định tất cả các trẻ em đến 6 tuổi đều có quyền và cơ hội đến trường.
Phổ cập PT cơ sở, hướng tới phổ cập trung học cơ sở, trung học phổ thông và đại học.
-Thiết chế giáo dục này tạo ra sự bình đẳng xã hội. Mọi trẻ em đều có cơ hội đến
trường. Mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài.
-Về đạo đức, làm cho các cá nhân trở thành con người có nhận thức, có thái độ và
ứng xử phù hợp đối với xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển.
+ Sự kìm hãm giáo dục:
-Trong việc xây dựng luật giáo dục tạo ra sự bất cập tồn tại các quy định luật chưa
nhất quán, khó thực thi, lẫn lộn mục tiêu, hành lang pháp lý chưa đồng bộ. -Phổ cập
giáo dục có nguy cơ mất chuẩn vì nền kinh tế mỗi vùng khác nhau. Dẫn đến bất bình
9
đẳng giàu nghèo giữa các tỉnh, giữa các vùng. Trong các trường, cơ sở vật chất còn
thiếu thốn, thiếu giáo viên.
- Trong giáo dục còn mắc bệnh thành tích (học thêm giờ). Toàn bộ thiết chế đó tạo ra
sự mất bình đẳng trong xã hội về giáo dục, kìm hãm ngành giáo dục Việt nam trong
giai đoạn hiện nay.
2. Thiết chế pháp luật
*KN: Thiết chế giáo dục là cách tổ chức các hành vi, hoạt động nhằm đáp ứng nhu
cầu học tập của xã hội.
• Thiết chế pháp luật thúc đẩy sự bình đẳng trong giáo dục.
- Nhà trương là nơi dạy học sinh biết về pháp luật, giáo dục ý thức pháp luật và thực
hành pháp luật. Nhờ có thiết chế pháp luật mà các hiện tượng gây bất bình đẳng
trong giáo dục ở các trường được hạn chế. Đó là các hiện tượng tiêu cực, gian lận,
dối trá trong thi cử đang bị xã hội lên án mạnh mẽ và đang giảm dần.

giáo dục.
- Kìm hãm:
- Bất bình đẳng giới trong giáo dục.
- Bất bình đẳng giữa thành thị và nông thôn
- Bất bình đẳng giữa nhóm giàu và nhóm nghèo.
- Bất bình đẳng giưac các các dân tộc.
4. Thiết chế kinh tế
- Khái niệm: Kinh tế là TCXH liên quan tới sự quản lý sản xuất và phân phối sản
phẩm.là hệ thống những quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các chủ thể kinh tế, các
hành vi sản xuất kinh doanh và các quan hệ kinh tế. Thể chế kinh tế bao gồm các yếu
tố chủ yếu: các đạo luật, luật lệ, quy định, quy tắc, về kinh tế gắn với các chế tài xử
lý vi phạm; các tổ chức kinh tế; cơ chế vận hành nền kinh tế.
- Chức năng của thiết chế kinh tế thể hiện trong việc tổ chức sản xuất và kiểm soát,
điều hoà các mối quan hệ sau đây:
+ Quan hệ với tư liệu sản xuất
+ Quan hệ trong tổ chức, quản lý sản xuất
+ Quan hệ trong phân phối lợi ích
Sử dụng các biểu thống kê về số lượng người có mức thu nhập khác nhau đi học đúng
tuổi
Câu 11: Bất bình đẳng xã hội trong giáo dục gia đình và bất bình đẳng xã hội trong
giáo dục nhà trường ? Liên hệ thực tế
Trả lời:
1. Bất bình đẳng xã hội trong giáo dục gia đình.
Giáo dục gia đình phụ thuộc vào các yếu tố:
- Qui mô, đặc điểm, tính chất của gia đình ( Trang 280- XHH giáo dục)
- Mức sống của gia đình ( Trang 282 – XHH giáo dục)
Trên cơ sở đó ta thấy bất bình đẳng xã hội trong giáo dục gia đình thể hiện:
- Bất bình đẳng giới: quan tâm, đầu tư giáo dục trẻ em trai nhiều hơn trẻ em gái
( tư tưởng trọng nam, khinh nữ).
- Bất bình đẳng về cơ hội học tập, điều kiện học tập: do mức sống, mức thu

chiến lược cho giáo dục. Hà nội. 1997. Tr. 49)
- Bất bình đẳng giữa các dân tộc:
Ví dụ:
1/ Đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 13% tổng số dân Việt Nam, nhưng sinh viên người
dân tộc thiểu số chỉ chiếm khoảng 4 % trong tổng số hơn một triệu sinh viên đại hoc.
2/ Báo cáo của các Sở giáo dục của 5 tỉnh miền núi là Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu,
Điện Biên và Sơn La cho biết tỉ lệ học sinh người dân tộc chiếm gần 54% trong tổng số
học sinh THPT của 5 tỉnh này, nhưng đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 80% tổng số
dân ( Nguồn: Ban khoa giáo trung ương. Công tác khoa giáo vùng đồng bào dân tộc
thiểu số. Hà Nội. 2006. Tr. 38.).
Ngoài tỉ lệ đi học, bất bình đẳng xã hội trong giáo dục nhà trường còn thể hiện:
- Đầu tư, quan niệm của xã hội ( vùng, miền ).
- Chất lượng đội ngũ giáo viên.
- Các hoạt động ngoại khóa, TDTT…
VD: quan niệm phân biệt “trò giỏi – trò dốt”, “thông minh – tối dạ” đã trở thành một nếp
nghĩ hằn sâu trong tư duy mọi người, từ các nhà giáo, nhà quản lý giáo dục cho đến phụ
huynh học sinh.
Từ nếp nghĩ này mới sinh ra những mô hình như trường chuyên, lớp chọn, lớp
“chất lượng cao” …Những học sinh lớp chọn, trường chuyên, lớp chất lượng cao được
học chương trình nâng cao với những nhà giáo giỏi nhất, trong điều kiện cơ sở vật chất
tốt hơn nhiều so với các trường, lớp “đại trà”. Vì vậy, các bậc phụ huynh thường tìm mọi
cách (kể cả “chạy chọt”) để con em mình được vào trường chuyên, lớp chọn.
Ngay trong một lớp “đại trà”, các giáo viên cũng có sự phân biệt, đánh giá học
sinh theo mức độ “giỏi – dốt”. Không ít giáo viên chỉ chú ý đến những học sinh giỏi, chú
trọng kèm cặp, bồi dưỡng những học sinh này để đi thi học sinh giỏi, thi đại học…mà ít
quan tâm đến những học sinh mà họ cho là “dốt”.
12
Những giáo viên này nghĩ rằng những học sinh học khá trở lên mới học hành, thi
cử đỗ đạt, thành đạt, lập nghiệp được. Còn những học sinh “dốt” thì học cũng chẳng
“nên cơm nên cháo” gì, lo kiếm xong tấm bằng rồi đi học nghề, hoặc đi làm lao động

dinh dưỡng, có những người mẹ hút thuốc lá, uống rượu, sẽ ảnh hưởng đến não bộ của
trẻ; hơn nữa là còn ảnh hưởng đến việc gây ra tỉ lệ chết ở mẹ và trẻ em khi thiếu hiểu
biết, không được giáo dục.
13
- Đầu tư chi phí cho con cái học tập không chỉ tăng về vốn kiến thức cho con mà còn
tăng được kỹ năng giao tiếp, quan hệ bạn bè, ví dụ như cho con theo học thêm ở các lớp
năng khiếu, là tạo cho con cái thêm mối quan hệ xã hội, làm quen với môi trường đa loại
hình hình thành được kinh nghiệm sống cá nhân, góp phần vào việc phát triển nhân
cách cho trẻ.
Ở nhiều địa phương, nhiều tổ chức kinh tế - xã hội đã tài trợ cho các hoạt động của
nhà trường như hỗ trợ trẻ em nghèo, mua sắm thiết bị dạy học, cử người hướng nghiệp
cho học sinh, giúp nhà trường tô chức các hoạt động nội, ngoại khóa có chất lượng .
Câu 16. Phân hóa xã hội và bình đẳng xã hội trong giáo dục nghề nghiệp.
1. Phân hóa xã hội trong giáo dục nghề nghiệp
- Điều 4, Luật giáo dục khẳng định, hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam gồm 4 cấp
học và trình độ đào tạo, trong đó giáo dục nghề nghiệp là một trong 4 cấp học đó. Giáo dục
nghề nghiệp bao gồm Trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề.
- Phân hóa xã hội trong giáo dục nghề nghiệp : Là quá trình hình thành cách nhóm xã
hội khác nhau về một số đặc điểm, tính chất nhất định trong giáo dục nghề nghiệp.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phân hóa xã hội trong giáo dục nghề nghiệp:
+ Nguyện vọng của học sinh và hoàn cảnh gia đình
Việc học theo trào lưu, hầu hết học sinh và phụ huynh đều có quan điểm học xong
THPT đều phải thi vào một trường ĐH nào đó dẫn đến thực tế hiện nay đó là tình trạng thừa
thầy thiếu thợ. Nhiều sinh viên ra trường chưa tìm được việc làm hoặc rất nhiều học sinh phải
làm việc trái với chuyên môn được đào tạo trong trường ĐH
+ Công tác định hướng nghề ở các nhà trường phổ thông
Tập trung vào dạy văn hóa là chính. Không có giáo viên chuyên trách thực hiện công tác
hướng nghiệp nghề cho học sinh. Việc dạy Hướng nghiệp nghề chỉ được giới thiệu thông một
số ít tiết do giáo viên chủ nhiệm hoặc giáo viên dạy mô GDCD thực hiện.
Nhận thức về các nghề của hầu hết học sinh và thậm chí ở cả giáo viên còn rất mơ hồ.

+ Tạo ra nhiều hướng phân luồng học sinh sau THCS và THPT:
+ Giảm hiện trạng sự mất cân đối trong cơ cấu tuyển sinh ĐH, CĐ và THCN, dẫn tới
mất cân đối trong cơ cấu đào tạo và tất yếu dẫn tới mất cân đối trong cơ cấu nguồn nhân lực.
15
Cần chú trọng: Hướng một bộ phận (phân luồng) học sinh THCS vào hệ thống các trường
THCN, dạy nghề ở các địa phương ; Phát triển loại trường THPT kỹ thuật ở các địa phương,
để tạo nguồn lao động phổ thông.
+ Củng cố, phát triển hệ thống trung tâm KTTH-HN cấp huyện, thị. Một trong những
hạn chế lớn nhất hiện nay của các trung tâm KTTH-HN là chưa chú trọng quan tâm phối hợp
với các trường trung học để HN cho học sinh. Bởi vậy, trong những năm tới cần phải có sự
điều chỉnh hợp lý từ việc bố trí đội ngũ chuyên trách HN, dến việc xây dựng CSVC - thiết bị và
cơ chế phối hợp giữa trung tâm với các trường THPT.
2. Bình đẳng xã hội là gì, bình đẳng xã hội trong giáo dục
- Khái niệm bình đẳng xã hội: Bình đẳng XH trong giáo dục được hiểu: Bình đẳng về cơ
hội học tập, bình đẳng về cơ hội đến trường mọi học sinh đều có quyền đến trường, quyền chọn
trường chọn lớp là như nhau.
- Bình đẳng trong giáo dục không có nghĩa là tất cả các học sinh đều được kết quả học
tập như nhau hay tốt nghiệp với kết quả như nhau. Kết quả học tập phụ thuộc phẩm chất năng
lực, tâm lý thi cử hay sự nỗ lực của bản thân
Thiết chế giáo dục đòi hỏi phải thực hiện nguên tắc công bằng trong XH để tạo ra sự
bình đẳng về cơ hội giáo dục:
+ Một là, bình đẳng về cơ hội đầu vào giáo dục về: cơ hội đến trường cho mọi hóm xã
hội từ miền ngược đến miền xuôi, từ trẻ em bình thường đến những trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt khó khăn; cơ hội đầu tư
+ Hai là, bình đẳng về cơ hội đầu ra của giáo dục: bình đẳng về cơ hội sử dụng bằng cấp,
bình đẳng về cơ hội tìm việc làm phù hợp với trình độ đào tạo trên thực tế có sự phân biệt đối
xử đối với sinh viên tốt nghiệp giữa đào tạo chính qui và đào tạo tại chức, giữa các trường dân
lập và các trường tư thục.
- Bình đẳng xã hội trong giáo dục nghề nghiệp:
16

khỏi tình trạng nghèo.
Các yếu tố:
Có nhiều yếu tố khác nhau tác động tới sự phân hóa xã hội như: gia đình, năng lực
cá nhân, cơ may xã hội trong đó sự phân công lao động trong xã hội và Giáo dục (trình
độ học vấn) là hai yếu tố có tác động mạnh mẽ nhất nhưng không làm mất tác dụng của
các yếu tố khác.
2. Phân tầng xã hội
Phân tầng xã hội là sự phân hóa xã hội tạo thành các tầng xã hội khác nhau về vị
thế xã hội trong cấu trúc xã hội.
- là quá trình phân hóa xã hội với đặc trưng là tạo ra các nhóm xã hội có vị thế trên
dưới, cao thấp khác nhau về mổ hoặc một số đặc điểm, tính chất cơ bản, trong đó quan
trọng nhất là về kinh tế, quyền lực và uy tín xã hội
- tạo nên cấu trúc phân tầng xã hội gồm các nhóm người có vị thế xác định trong
một trật tự xã hội.
- sự phân tầng xã hội luôn chưa đựng yếu tố bất bình đẳng xã hội bởi ở đó luôn có
những tầng lớp trên và tầng lớp dưới.
* Cơ chế và các yếu tố tác động đến phân tầng xã hội
Cơ chế:
- Quy luật tự nhiên: VD: về lứa tuổi, trong xã hội có thế hệ trước và thế hệ sau, tầng
lớp trên (nhóm người cao tuổi) và tầng lớp dưới (nhóm thanh niên, trẻ em)
- Quy luật xã hội: VD. Người càng học lên cao càng có khả năng gia nhập những
giai tầng trên của xã hội
Yếu tố
18
- gia đình: gia đình giàu có điều kiện cho con cái ăn học tốt hơn, điều kiện sống
sung túc hơn các gia đình nghèo, con cái theo nghề nghiệp của cha mẹ …
- Phẩm chất, năng lực cá nhân: tùy theo những phẩm chất và năng lực cá nhân mà
người đó có cơ hội thăng tiến nhiều hay ít…
- giáo dục và đào tạo: giúp cá nhân hình thành và phát triển những phẩm chất, năng
lực cần thiết. đây là con đường nhanh nhất và hiệu quả nhất để mỗi cá nhân lĩnh hội

nhận thức của cha mẹ về giáo dục, ).
Sự phân công lao động và giáo dục – đào tạo là hai trong số nhứng yếu tố có tác động
mạnh mẽ tới sự phân hóa xã hội. Những yếu tố này có thể lấn át nhưng không làm mất
tác dụng của những yếu tố tự nhiên như tuổi, giới tính…
Liên hệ thực tế: (đọc tham khảo)
1. Dạy học phân hóa trong các giờ học chính khóa.
2. Hoạt động ngoại khóa.
3. Bồi dưỡng HS giỏi.
4. Giúp đỡ HS yếu kém.
Câu 3. Bình đẳng xã hội là gì? Bình đẳng xã hội trong giáo dục là gì?
1. Khái niệm
- Công bằng xã hội: Là sự tiếp cận và xử lý đúng đắn, không thiên vị các mối quan hệ
cơ bản giữa các cá nhân, tổ chức trong xã hội.
- Bình đẳng xã hội: Nói tới bình đẳng xã hội là nói tới sự thừa nhận và sự thiết lập các
điều kiện, các cơ hội và các quyền lợi ngang nhau cho sự tồn tại và phát triển của các cá
nhân, các nhóm xã hội.
→ Công bằng, bình đẳng và tự do gắn liền với quyền cơ bản của của con người.
- Bình đẳng giáo dục: Là sự bình đẳng giữa các cá nhân, các nhóm người về điều kiện,
cơ hội và quyền lợi trong giáo dục.
- Bình đẳng xã hội trong giáo dục được hiểu một cách cụ thể, rõ ràng là sự bình đẳng
giáo dục, bình đẳng về cơ hội giáo dục, bình đẳng về cơ hội học tập, bình đẳng về cơ hội
đến trường.
2. Yêu cầu về bình đẳng xã hội trong giáo dục
20
- Một là, cơ hội đầu vào giáo dục: bình đẳng về cơ hội đến trường, bình đẳng về cơ hội
đầu tư cho giáo dục. Cần tạo ra sự bình đẳng về cơ hội đến trường cho mọi nhóm xã hội
từ miền xuôi đến miền ngược, từ trẻ em bình thường đến trẻ em có hoàn cảnh khó khăn.
- Hai là, bình đẳng về cơ hội đầu ra của giáo dục: bình đẳng về cơ hội sử dụng bằng cấp,
bình đẳng về cơ hội tìm việc làm phù hợp với trình độ đào tạo.
- Ba là, cần thực hiện nguyên tắc công bằng xã hội để từng bước tiến tới bình đẳng xã

ăn áo mặc, ai cũng được học hành…” . Ham muốn vô bờ đó của Người thực sự đã chứng
minh cho những quan tâm hết sức lớn lao của Hồ Chủ tịch đối với vấn đề quốc kế dân
sinh.
(Phát triển giáo dục và thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục - đào tạo là cơ sở
để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, phát triển kinh tế - xã hội và bảo tồn vốn văn hoá
cho đồng bào các dân tộc để họ có điều kiện vươn lên hoà nhập và thực hiện quyền bình
đẳng của mình là vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết nhưng cũng rất khó khăn ở nước
ta hiện nay. Chỉ khi nào đồng bào dân tộc thiểu số có được một trình độ học vấn cao thì
khi ấy họ mới có điều kiện thay đổi tập quán canh tác lạc hậu, tiếp thu và áp dụng tiến bộ
kỹ thuật vào trong sản xuất và đời sống vượt qua nghèo nàn, góp phần vào sự nghiệp
phát triển chung của đất, tức là mới có điều kiện để thực hiện nghĩa vụ của mình, và chỉ
khi đó các dân tộc thiểu số mới thực sự bình đẳng trong một quốc gia đa dân tộc.
Read more:http://cema.gov.vn/modules.php?
name=Content&op=details&mid=944#ixzz2iPMwd3OZ
Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia
đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập.
Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện để ai cũng
được học hành. Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để người nghèo được học tập, tạo điều
kiện để những người có năng khiếu phát triển tài năng.
Nhà nước ưu tiên, tạo điều kiện cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình ở
vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đối tượng được hưởng chính sách
22
ưu đãi, người tàn tật, khuyết tật và đối tượng được hưởng chính sách xã hội khác thực
hiện quyền và nghĩa vụ học tập của mình.)( Điều 10 Luật GD2005)
Câu 5:
Phân tích mối quan hệ giữa công bằng xã hội và bình đẳng xã hội trong giáo dục.
Công bằng xã hội (Tr.194-195)
− là sự tiếp cận và xử lý đúng đắn ,
không thiên vị các mối quan hệ cơ
bản (nhu cầu & hưởng thụ, nghĩa vụ

− được hiểu một cách cụ thể, rõ ràng là sự
bình đẳng giáo dục, bình đẳng về cơ hội
giáo dục, bình đẳng về cơ hội học tập,
binh đẳng về cơ hội đến trường
Công bằng xã hội va bình đẳng xã hội là một quá trình xã hội:
- Công bằng xã hội là một trong nhựng nguyên tắc phát triển có ý nghĩa trọng đại của
mỗi quốc gia. Trong đó phải nhấn mạnh sự công bằng về quyền được học hành, quyền
23
được hưởng thụ một nền giáo dục hiện đại, quyền được tham gia phát triển giáo dục.
Thực hiện công bằng trong giáo dục trước hết là tạo cơ hội như nhau trong học tập là
điều kiện quan trọng để thực hiện quyền bình đẳng trong giáo dục. Khi nền công nghiệp
dần nhường chỗ cho kinh tế tri thức thì giáo dục không những là quyền của mọi công
dân, mà còn mang sứ mạng vĩ đại là tạo mọi cơ hội để con người được học tập suốt đời,
nghĩa là phải làm cho quốc gia thành một xã hội học tập.
- Khi tạo cơ hội giáo dục tính đến từng con người, không loại trừ một ai thì chính đó là
sự công bằng về giáo dục được giải quyết cơ bản . Sự công bằng về giáo dục là sự công
bằng về cơ hội để con người phát triển bền vững trên cơ sở họ thực hiện được quyền lợi
và nghĩa vụ học tập suốt đời . Thực hiện nguyên tắc công bằng xã hội để từng bước tiến
tới bình đẳng xã hội trong giáo dục: bình dẳng về đầu vào giáo dục, bình đẳng về đầu ra
của giáo dục.
- Giáo dục là phương tiện tạo ra bình đẳng bằng cách mang lại cơ hội công bằng cho mọi
người. Thông qua cơ hội công bằng, giáo dục kích thích nỗ lực vươn lên của mọi cá
nhân, thúc đẩy sự ưu tú, tài năng, sự sáng tạo, nhờ đó tạo ra tiến bộ và phát triển xã hội.
Ví dụ sự bình đẳng về cơ hội đến trường: trẻ em ở miền núi, miền xuôi khi đủ 6 tuổi đều
có thể đi học tiểu học. Công bằng về giáo dục luôn đòi hỏi sự công bằng về điều kiện
học tập. Một phường trong thành phố lớn có ít nhất một trường tiểu học; một xã vùng
cao hiện nay cũng có trường tiểu học. Nếu nhìn vào con số thống kê này, người ta có thể
cho rằng, giữa miền núi với vùng đô thị đã có sự công bằng về giáo dục tiểu học. Thực
ra vẫn rất bất công bằng khi trường tiểu học ở thành phố được xây dựng kiên cố, có đủ
điện chiếu sáng trong từng lớp học, có bàn ghế học sinh đóng đúng quy cách, có máy

Sự bất bình đẳng xã hội trong giáo dục có ảnh hưởng lớn tới việc trẻ em đi học và
không đi học.
- Sự bất bình đẳng giới trong giáo dục
+ Thể hiện ở tỷ lệ nam đi học nhiều hơn nữ. Ví dụ: năm 2011, trong báo cáo phát
triển con người tỷ lệ nữ đi học là 24,7% ; nam là 28,0% (trình độ trung học, trên trung
học). Và càng lên cấp cao hơn thì bất bình đẳng giáo dục càng lớn. Với tỷ lệ chênh lệch
25

Trích đoạn Cơ chế tác động phân hóa xã hội: Phân hóa xã hội trong giáo dục nghề nghiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status