Chuyen de Lich su - Pdf 15

chuyên đề lòch sử

CHUYÊN ĐỀ
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG DIỄN ĐẠT NÓI TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
A/ ĐẶT VẤN ĐỀ:
Diễn đạt nói có vai trò và ý nghóa rất to lớn trong dạy học lòch sử ở trường
phổ thông.
Lời nói đóng vai trò chỉ đạo trong quá trình dạy học lòch sử. Bởi vì không có
phương pháp dạy học nào , phương tiện dạy học nào được sử dụng lại không kèm
theo lời nói . Diễn đạt nói rõ ràng , dễ hiểu không chỉ giúp học sinh khôi phục được
quá khứ lòch sử như nó đã tồn tại , giúp các em biết suy nghó , tìm tòi rút kết luận ,
hình thành khái niệm mà còn tác động tới trái tim của các em .
Thực tế học tập của sinh viên khoa sử ở các trường sư phạm cũng như việc
giảng dạy của một số giáo vòên trẻ mới ra trường chưa đáp ứng được yêu cầu về
diễn đạt nói.
Khi nói , nhiều người còn mắc khuyết tật trong phát âm như nói ngọng , nói
lắp , nói nhanh hoặc những liên từ không cần thiết làm cho lời nói lủng cũng không
rõ ràng. Điều này gây nên hậu quả xấu tới việc giáo dục học sinh. Trước hết là học
sinh không chú ý nghe giảng , thậm chí có em còn nhai lại những từ thầy nói sai
càng làm cho lớp học ồn ào. Diễn đạt bằng lời nói không tốt của thầy sẽ ảnh hưởng
tới việc phát âm của học sinh.
Để thể hiện đúng vai trò , ý nghóa của diễn đạt nói trong dạy học lòch sử cần
phải gia công rèn luyện , khắc phục những khuyết tật thường gặp .
B/ NỘI DUNG:
Trang 1
chuyên đề lòch sử

1)Những yêu cầu cơ bản của kỹ năng diễn đạt nói:

Trang 2
chuyên đề lòch sử

Không nên thêm các liên từ không cần thiết khi giảng bài, như “thì”, “mà”
và “ rằng”… Làm như vậy, bài trình bày của thầy thiếu mạch lạc, trong sáng tạo,
tác dụng giáo dưỡng, giáo dục không cao. Đặc biệt, nếu làm như vậy , sẽ tạo ra một
gương xấu về diễn đạt cho học sinh.
b. Diễn đạt lưu loát, ngôn ngữ trong sáng là điều kiện quan trọngđể dạy
tốt.
Trang 3
chuyên đề lòch sử

Bởi vì, lời giảng lưu loát, mạch lạc , rõ ràng , dễ hiểu là điều hết sức cần thiết
để học sinh nắm được nội dung bài học. Muốn diễn đạt mạch lạc, rõ ràng cần dùng
ngôn ngữ phổ thông, phù hợp với trình độ học sinh. Khi cần đưa ra một từ, thuật
ngữ, khái niệm lòch sử mới thì phải giải thích rõ. Song không nên lạm dụng các từ,
thuật ngữ, khái niệm mới, khó, để tỏ mình mà không chú ý đến trình độ, yêu cầu
học tập của học sinh.
Sức mạnh của lời nói là ở chỗ ngắn gọn , ít từ mà xúc tích. Tuy nhiên , ngắn
gọn không có nghóa là bài nói không được dài, mà là nói không gì thừa . Nói như
vậy bài trình bày của giáo viên vừa chặt chẽ dễ hiểu, vừa tiết kiệm được thời gian.
Đặc biệt giáo viên nên tránh nói dài, nói dai, lặp đi lặp lại những điều đã trình
bày. Trình bày ngắn gọn nhưng câu nói phải đủ ý và dễ hiểu. Nếu cô đọng quá,
vắn tắt quá mức sẽ làm học sinh khó hiểu.
Diễn đạt tốt là phải thu hút người nghe vào bài giảng của mình, khắc sâu vào
trí nhớ của họ những vấn đề cần thiết. Muốn đạt được điều này, giáo viên phải biết
sử dụng ngôn ngữ.
Hình ảnh là sự phản ánh hiện thực tư tưởng bằng cách miêu tả các sự vật,
hiện tượng cụ thể của tự nhiên và xã hội. Hình ảnh không chỉ tác động đến lý trí mà
cả tình cảm HS. Chính vì vậy, ngôn ngữ có hình ảnh thường dể hiểu hơn, dễ tiếp thu
hơn, nhớ lâu hơn ngôn ngữ thông thường thiếu hình ảnh. Ví như: khi nói tới luận
điểm của lãnh tụ Nguyễn i Quốc về mối quan hệ giữa cách mạng Vô Sản ở chính
quốc với cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc đòa, giáo viên nhắc lại hình ảnh

Rốm, ở giữa vùng núi Tây Bắc, dài chừng 18km, rộng từ 6 – 8 km. Phía Bắc Điện
Biên Phủ giáp với Trung Quốc, phía Tây giáp với Lào. Với vò trí như vậy, Pháp, Mỹ
coi Điện Biên Phủ là một đòa bàn chiến lược hết sức quan trọng. Đòch xây dựng ở
đây 3 khu phòng thủ: Trung tâm, Bắc và Nam 49 cứ điểm, hai sân bay. Các đường
hào chi chít, nối những cứ điểm lại với nhau. Toàn bộ các cơ quan chỉ huy, đạn, chỗ
ngủ đều nằm chìm dưới mặt đất. Mổi cứ điểm đều được bao bọc bằng nhiều tuyến
chiến hào, những ụ súng chi chít, đất đắp dày trên 3m và một rừng dây thép gai
xum quanh. Lực lượng của đòch ở đây lên tới 16000 tên, gồm đủ các binh chủng: Bộ
binh, pháo binh, công binh, thiết giáp, không quân. Với lực lượng, vũ khí và cách bố
phòng như vậy, đòch coi “con nhíp khổng lồ Điện Biên Phủ là một pháo đài không
thể công phá”.
Khi miêu tả giáo viên phải diễn đạt rỏ ràng, mạch lạc, thể hiện thái độ, tình
cảm của mình đối với sự vật miêu tả. Khi miêu tả những sự vật phức tạp, ngữ điệu
của giáo viên cần chậm hơn lúc tường thuật, có những chổ ngắt giọng ngắn. Thỉnh
thoảng giáo viên đặt câu hỏi “tại sao”… “để HS suy nghó (song không nhất thiết yêu
câu các em phải trả lời). Ví như, khi trình bày song vấn đề “Pháp – Mỹ coi Điện
Biên Phủ là một đòa bàn chiến lược hết sức quan trọng”, giáo viên nên ngắt giọng,
nêu câu hỏi” “Chúng đã bố trí công sự và lực lượng như thế nào mà dám nói là
pháo đài không thể công phá?”.
b. Tường thuật : là kể lại một biến cố hay một quá trình lòch sử, những hoạt
động cụ thể của quần chúng nhân dân hay của một nhân vật lòch sử. Bài tường thuật
Trang 5
chuyên đề lòch sử

ở trên lớp gần như là một câu chuyện ngắn có kòch tính. Nó bao gồm phần mở đầu
tình tiết phát triển, phát triển cao rồi giảm dần vì kết thúc nhẹ nhàng sâu sắc.
Ví như, tường thuật trận Đông Khê trong chiến dòch biên giới Thu Đông 1950,
giáo viên nói: Đứng trên núi cao nhìn xuống đồn Đông Khê như một tuần dương
hạm khổng lồ giữa biển rừng xanh biên giới. Đông Khê nằm ở giữa đường số 4 cách
Cao Bằng 45km, cách Thất Khê 24km, xung quanh có 7 vò trí kiên cố đóng trên núi

chuyên đề lòch sử

c. Giải thích : là nêu những mối liên hệ nội tại, tính qui luật ý nghóa, bản
chất của các hiện tượng lòch sử.
Ví dụ: Khi dạy bài 6 “Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời” ở lớp 9 giáo viên có
thể giải thích sự kiện “Hội nghò thành lập Đảng 3-2-1930” như sau:
“ Những năm trước 1930, phong trào công nhân Việt Nam phát triển mạnh
mẽ. Những thanh niên yêu nước Việt Nam được lãnh tụ Nguyễn i Quốc tập hợp
trong tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng Đồng Chí Hội, mà nòng cốt là Cộng
Sản Đoàn, đã tích cực hoạt động truyền bá chủ nghóa Mác-LêNin vào Việt Nam và
kết hợp với phong trào công nhân dẫn tới sự ra đời của các tổ chức Cộng Sản. Chính
sự ra đời của các tổ chức Cộng Sản và hoạt động của họ ở các đòa phương càng làm
cho phong trào của công nhân phát triển mạnh mẽ hơn, giai cấp công nhân thể hiện
là một lực lượng chính trò độc lập.
Bên cạnh đó, phong trào đấu tranh của công nhân chống sưu cao, thuế nặng,
chống cướp ruộng đất cũng phát triển.
Song song với phong trào công, nông, phong trào yêu nước của các tầng lớp
khác cũng sôi nổi như phong trào bãi khoá của HS, bãi thò của tiểu thương…
Yêu cầu bức thiết của cách mạng Việt Nam lúc này là thống nhất sự lãnh đạo
của một Đảng Công Sản để thúc đẩy phong trào phát triển, nếu không, có nguy cơ
dẩn đến sự chia rẽ lớn. Đứng trước tình hình đó, Quốc tế cộng sản đã gửi thư cho
những ngbười cộng sản Đông Dương nhấn mạnh: “Nhiệm vụ… tuyệt đối cần kíp của
tất cả những người cộng sản Đông Dương là sáng lập một đảng cách mạng của giai
cấp vô sản… Đảng ấy phải là một Đảng độc nhất và ở Đông Dương chỉ có đảng ấy
là tổ chức cộng sản mà thôi…” và uỷ nhiệm cho Nguyễn i Quốc tiến hành hợp
nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam.
Vì vậy, khi giải thích giáo viên nên xen vào các câu hỏi để HS suy nghó và
thu hút sự chú ý của các em. Khi nêu lên câu hỏi , lời nói của giáo viên thường lên
giọng, nhòp độ chậm, rõ ràng để HS thấy rõ vấn đề cần giải quyết.
d. Lập luận được sử dụng nhằm giúp HS trên cơ sở hiểu biết lòch sử lý giải,

học sẽ sinh động, có hình ảnh hơn.
4) Hướng dẫn HS diễn đạt nói:
Trong học tập lòch sử, không phải chỉ có GV giảng mà HS cũng phải diễn đạt
bằng lời. Cho nên hùng dẫn hoc sinh biết trình bày một số vấn đê; một mục trong
bài giảng rõ ràng; khúc chiết, diễn cảm, dễ hiểu là điều cần thiết quan trọng .
Ví dụ : Giáo viên hướng dẫn học sinh dựa vào sách giáo khoa để trình bày nội
dung” Chính cương vắn tắt” và” Sách lược vắn tắt”, khi học bài “Đảng Cộng Sản
Việt Nam ra đời” ở lớp 9. Việc hướng dẫn học sinh trình bày có thể tiến hành theo
một trình tự hợp lý nhất . Cuối giờ học trước , giáo viên hướng dẫn học sinh đọc
trước ở nhà bài sẽ học trong sách giáo khoa. Bản thân giáo viên cũng chuẩn bò trước
bảng so sánh giữa nội dung chính của “Chính cương vắn tắt” và ‘Sách lược vắn
tắt”do Nguyễn i Quốc khởi thảo , và “Luận cương chính trò” do Trần Phú soạn
thảo .Trong giờ giảng bài mới , giáo viên đề nghò một học sinh trình bày trước nội
dung” Chính cương vắn tắt” và “Sách lược vắn tắt” và đặt những câu hỏi nhỏ gợi ý
Trang 8
chuyên đề lòch sử

để các em nêu những ý chính của hai văn kiện trên .Tiếp đó giáo viên cũng hướng
dẫn học sinh nhận thức “Luận cương…” theo cách trên. Sau đó, giáo viên đưa bảng
so sánh đã chuẩn bò ở nhà để học sinh nhận xét. Tốt nhất dưới sự hướng dẫn của
giáo viên, học sinh vừa trình bày, vừa hoàn thành bảng so sánh trên . Nếu đã chuẩn
bò sẵn, khi trình bày bảng so sánh này, giáo viên chỉ cho hc sinh quan sát nội dung
cột “Chính cương vắn tắt” và “Sách lược vắn tắt” còn cột “Luận cương…” thì che lại
để khi nào giảng đến mục hai của bài sẽ sử dụng. Gv cũng lưu ý HS quan sát niên
biểu, theo dỏi bài giảng để khi nghe xong phát biểu những nhận xét của bản thân.
Cách làm như thế này rất sinh động vì HS phải suy nghó và diễn đạt bằng lời nói .
Bảng so sánh nội dung các văn kiện thành lập Đảng và “Luận cương… “như sau :
Văn kiện
Các vấn đề cần so sánh
Con đường phát

Trang 9
+ 2 giai
đoạn CM
chuyên đề lòch sử

Lực Lượng: Công nông và đoàn kết
với các tầng lớp khác (TTS, trí
thức…)
Dựa vào những ý cơ bản trong bảng so sánh ,giáo viên phân tích cho HS hiểu
và trình bày lại ,ví như : Khi nói cách mạng tư sản dân quyền , giáo viên hướng dẫn
HS đọc tài liệu để trình bày các ý chủ yếu:” Các nhiệm vụ của cách mạng tư sản
dân quyền bao hàm cả nội dung dân tộc và dânchủ (chống đế quốc ,phong kiến ),
song nỗi bật lên hàng đầu là nhiệm vụ chống đế quốc và tay sai phản động, giành
độc lập dân tộc. Điều này phù hợp với lý luận chủ nghóa Mác Lênin về vấn đề dân
tộc và rất đúng với thực tiễn cách mạng Việt Nam- một nước thuộc đòa, vấn đề dân
tộc độc lập là điều cấp bách”. HS nhìn vào bảng so sánh treo trên lớp để nói tiếp về
lực lượng cách mạng, “Chính cương vắn tắt” và “Sách lược vắn tắt” nêu rõ là công
nông, đồng thời phải liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông… để kéo họ về phe
giai cấp vô sản.
Sau khi phân tích thêm các ý, GV yêu cầu HS nhận xét về văn kiện này. HS
trả lời, GV chốt lại có tính chất khẳng đònh: “các vấn đề cơ bản của chính cương và
sách lược vắn tắt thể hiện tính chất đúng đắn và sáng tạo. Nó vừa đúng, phù hợp
với lý luận chủ nghóa Mac- Lênin, vừa đúng, phù hợp với cách mạng Việt Nam, đáp
ứng nguyện vọng của dân tộc Vòêt Nam”.
Cách dạy học như vậy vừa bồi dương tư duy cho HS vừa rèn luyện cho các
em năng lực nói, khả năng phân tích nhận xét và hào hứng, nỗ lực học tập.
5) Kết luận:
Diễn đạt nói có vai trò ý nghóa quan trọng trong dạy học lòch sử ở trường phổ
thông. Khả năng diễn đạt tốt không tự có, mà phải thông qua quá trình rèn luyện.
Muốn diễn đạt tốt cần thiết phải thực hiện các yêu cầu đã đề ra. Khổ công rèn


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status