Công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty may Thăng Long - Pdf 15

Khoá luận tốt nghiệp
Lời nói đầu
Ngày nay, các doanh nghiệp có nhiều cơ hội thuận lợi để hội nhập với
nền kinh tế thế giới nhng đồng thời cũng phải đơng đầu với không ít những
khó khăn do nền kinh tế thị trờng mang lại mà khó khăn lớn nhất có lẽ là sự
cạnh tranh gay gắt không những của các doanh nghiệp trong nớc mà còn của
cả các doanh nghiệp nớc ngoài. Để tồn tại và phát triển, nhiệm vụ của các
doanh nghiệp là phải không ngừng cố gắng nỗ lực nâng cao chất lợng sản
phẩm, dịch vụ, giảm giá thành sản phẩm. Trong công tác quản lý doanh
nghiệp, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai chỉ tiêu vô cùng quan
trọng, đợc các nhà quản lý đặc biệt quan tâm vì nó không chỉ là căn cứ lập giá
mà còn là căn cứ để đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp sau mỗi chu kỳ kinh doanh....
Chính vì vậy, tổ chức tốt công tác kế toán chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm có ý nghĩa vô cùng to lớn ; đồng thời là khâu quan trọng nhất trong
toàn bộ công tác kế toán vì thực chất của hạch toán quá trình sản xuất chính
là hạch toán chi phí sản xuất và giá thành.
Mặt khác , trên góc độ ngời sử dụng thông tin về chi phí và giá thành sẽ
giúp cho nhà quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp phân tích đánh giá tình hình sử
dụng vật t, lao động, tiền vốn có hiệu quả hay không, tình hình thực hiện kế
hoạch giá thành.... từ đó, đề ra các biện pháp hữu hiệu hạ thấp chi phí sản
xuất, giảm giá thành sản phẩm và ra các qui định phù hợp cho sự phát triển
sản xuất kinh doanh.
Công ty may Thăng Long ( Thaloga ) là một doanh nghiệp sản xuất loại
sản phẩm rất lớn về số lợng vô cùng đa dạng về qui cách, chủng loại, mẫu
mã... vì vậy, cũng nh các doanh nghiệp sản xuất khác, việc tổ chức công tác kế
toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là một vấn đề rất phức tạp .
Nhận thức đợc điều đó, trong thời gian thực tập tại công ty , sau khi tìm
hiểu thực tế tổ chức công tác kế toán, đặc biệt là kế toán tập hợp chi phí sản
xuất và giá thành sản phẩm em đã quyết định lựa chọn đề tài:
Công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

Trần Thị Thu
2
Khoá luận tốt nghiệp
Chơng I
Lý luận chung về công tác kế toán tập hợp chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các
doanh nghiệp sản xuất.
I. Sự cần thiết phải tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm.
1.Vai trò của tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
trong quá trình tái sản xuất sản phẩm xã hội nói chung và trong hoạt
động sản xuất kinh doanh nói riêng.
Sự phát sinh và phát triển của xã hội loài ngời gắn liền với quá trình sản
xuất. Nền sản xuất xã hội của bất kỳ phơng thức sản xuất nào cũng gắn liền
với sự vận động và tiêu hao của các yếu tố cơ bản tạo nên quá trình sản xuất:
t liệu lao động, đối tợng lao động và sức lao động. Vì thế sự hình thành nên
các chi phí sản xuất để tạo ra giá trị sản phẩm sản xuất là tất yếu khách quan
không phụ thuộc vào chủ quan của ngời sản xuất. Có thể nói Chi phí sản
xuất là toàn bộ lao động sống và lao động vật hoá cần thiết mà doanh nghiệp
phải chi ra trong quá trình sản xuất trong một thời kỳ nhất định và biểu hiện
bằng tiền .
Chúng ta biết rằng, kết quả của quá trình sản xuất là tạo ra sản phẩm.
Sản phẩm đợc làm ra đã kết tinh trong nó các khoản hao phí vật chất, định l-
ợng hao phí vật chất để tạo nên một hoặc một số sản phẩm là yêu cầu cần
thiết, là căn cứ quan trọng để đánh giá chất lợng và hiệu quả sản xuất kinh
doanh. Vậy chi phí sản xuất tính cho một khối lợng hoặc một đơn vị sản phẩm
lao vụ, dịch vụ công việc do doanh nghiệp sản xuất ra và hoàn thành chính là
giá thành sản phẩm. Giá thành có hai chức năng là: chức năng bù đắp và lập
giá.
Nói tóm lại Giá thành sản phẩm là một đại lợng xác định, biểu hiện

loại sản phẩm.
Có thể nói rằng, muốn hạ giá thành phải quản lý tốt giá thành và phải
gắn quản lý giá thành với quản lý chi phí sản xuất cấu thành giá thành vì chi
phí sản xuất và giá thành có quan hệ mật thiết với nhau, nếu chi phí sản xuất
tăng thì giá thành tăng và ngợc lại và đợc thể hiện qua công thức sau:
Giá thành = Chi phí sản xuất + Chi phí sản xuất - Chi phí sản xuất
Sản phẩm dở dang đầu kỳ phát sinh trong kỳ dở dang cuối kỳ
Để tìm ra nguyên nhân, nhân tố ảnh hởng làm tăng, giảm giá thành, đòi
hỏi giá thành sản phẩm phải đợc phản ánh chính xác, trung thực, khách quan,
rõ ràng thông qua các khoản mục chi phí cấu thành nên giá thành sản phẩm để
từ đó các nhà quản lý dễ dàng phát hiện ra và loại trừ các chi phí bất hợp lý,
lãng phí (đặc biệt là các chi phí chủ yếu )... khai thác khả năng tiềm tàng
Trần Thị Thu
4
Khoá luận tốt nghiệp
trong quản lý. Mặt khác cần quản lý chặt chẽ định mức tiêu hao và đơn giá
của các chi phí đó.
Bên cạnh đó, cần phải xác định đúng nội dung, phạm vi chi phí cấu
thành, thu nhập thông tin theo địa điểm phát sinh cũng nh nơi gánh chịu chi
phí. Bởi lẽ thông tin chi phí theo khoản mục chỉ xác định đợc chi phí lãng phí
song nó không giúp cho chúng ta biết cần tiết kiệm ở bộ phận nào, địa điểm
cụ thể nào... hơn nữa, thông tin về chi phí theo địa điểm phát sinh còn là cơ sở
khuyến khích vật chất thúc đẩy sản xuất phát triển.
Định kỳ doanh nghiệp cần tiến hành phân tích chỉ tiêu giá thành cũng
nh các bộ phận chi phí cấu thành để tìm ra nguyên nhân, nhân tố ảnh hởng để
từ đó đề ra các biện pháp tác động thích hợp.
Tóm lại, tổ chức tốt công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm, đảm bảo xác định đúng nội dung, phạm vi chi phí cấu thành trong
giá thành sản phẩm, lợng giá trị các yếu tố chi phí đã đợc chuyển dịch vào sản
phẩm ( công việc, lao vụ ) đã hoàn thành có ý nghĩa vô cùng quan trọng và là

sản phẩm, dịch vụ bao gồm cả chi phí bảo hành sản phẩm.
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: là chi phí chi cho bộ máy quản lý và
điều hành doanh nghiệp, các chi phí liên quan đến hoạt động kinh doanh của
toàn doanh nghiệp.
2. Nhiệm vụ của kế toán và nội dung tổ chức kế toán tập hợp chi
phí sản xuất và giá thành trong doanh nghiệp.
Kế toán với t cách là một công cụ của quản lý, là phơng tiện kiểm tra
và tổng kết quá trình trên ý niệm... ( Mác ), với chức năng ghi chép tính toán
phản ánh và giám đốc một cách thờng xuyên liên tục sự biến động của vật t,
tài sản... đã giúp các nhà quản lý có đợc những thông tin về giá thành nói
riêng và các hoạt động hạch toán tài chính nói chung một cách đầy đủ chính
xác, kịp thời và có hệ thống. Kế toán dùng cả thớc đo giá trị và thớc đo hiện
vật để quản lý giá thành, vì thế nó có thể cung cấp các tài liệu đáp ứng kịp thời
yêu cầu quản lý giá thành. Nhờ đó doanh nghiệp biết đợc giá thành thực tế của
sản phẩm, biết đợc kế hoạch giá thành có thực hiện đợc hay không để từ đó
tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục. Kế toán giá thành có thể coi là
một phần hành không thể thiếu khi thực hiện chế độ hạch toán kinh tế của các
doanh nghiệp trong cơ chế thị trờng hiện nay. Nếu tổ chức công tác kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm không tốt sẽ dẫn đến hậu quả
doanh nghiệp định giá bán không chính xác. Nếu giá thành thực tế thấp hơn
chi phí thực tế bỏ ra sẽ dẫn đến xác định giá bán thấp gây ra tình trạng lãi giả,
lỗ thật và nếu ngợc lại sẽ gây khó khăn cho vịêc tiêu thụ sản phẩm, gây ứ đọng
vốn, ảnh hởng tới sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Do vậy, để phục vụ tốt công tác quản lý, kế toán cần thực hiện tốt các
nhiệm vụ sau đây :
- Căn cứ vào đặc điểm sản xuất kinh doanh, qui trình sản xuất để xác
định đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tợng tính giá thành sản phẩm.
Trần Thị Thu
6
Khoá luận tốt nghiệp

Trần Thị Thu
7
Khoá luận tốt nghiệp
* Ph ơng pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất :
Chi phí sản xuất phát sinh ở các địa điểm khác nhau thì có nội dung
kinh tế và mục đích khác nhau đối với qúa trình sản xuất chế tạo sản phẩm, có
chi phí chỉ liên quan đến một đối tợng, có chi phí lại liên quan đến nhiều đối t-
ợng chi phí. Do vậy có hai cách tập hợp chi phí vào các đối tợng.
- Tập hợp trực tiếp : đối với chi phí chỉ liên quan đến một đối tợng chịu
chi phí ( thờng là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp ).
- Tập hợp chi phí gián tiếp : đối với chi phí liên quan đến nhiều đối tợng
chịu chi phí. Trớc hết kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo từng địa điểm phát
sinh chi phí tức là theo tổ, đội, phân xởng... Cuối kỳ, lựa chọn tiêu chuẩn phân
bổ phù hợp để xác định hệ số phân bổ và tính ra chi phí phân bổ cho từng đối
tợng.
Chi phí phân bổ = Hệ số x Tiêu chuẩn phân bổ
cho đối tợng i phân bổ của đối tợng i
Chi phí cần phân bổ
Hệ số =
phân bổ Tổng tiêu chuẩn cần phân bổ
Mỗi loại chi phí đợc lựa chọn những tiêu chuẩn phân bổ khác nhau cho
phù hợp.
Ví dụ: chi phí nhân công trực tiếp thờng chọn chi phí vật liệu trực tiếp,
giờ chạy máy.
* Chứng từ kế toán sử dụng :
Chứng từ gốc liên quan đến chi phí sản xuất phát sinh là các chứng từ
về các yếu tố chi phí nh :
- Vật t : phiếu xuất kho, hoá đơn mua vật t ( hoá đơn mua hàng hay hoá
đơn giá trị gia tăng ), phiếu chi, giấy báo Nợ ( nếu mua về dùng ngay ).
- Tiền lơng : Bảng thanh toán lơng, bảng thanh toán BHXH, phiếu báo

toán còn sử dụng các tài khoản sau :
+ Tài khoản 154 : phản ánh chi phí sản xuất kinh doanh dở dang.
+ Tài khoản 631 : "giá thành sản xuất ": dùng để tập hợp chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm.
III. Tổ chức công tác tính giá thành sản phẩm.
1. Phân loại giá thành.
Để đáp ứng yêu cầu quản lý, hạch toán và kế toán giá thành cũng nh
yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành đợc xem xét dới nhiều góc độ,
phạm vi tính khác nhau.
* Phân loại theo thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành.
Trần Thị Thu
9
Khoá luận tốt nghiệp
- Giá thành định mức : là loại giá thành đợc tính trên cơ sở định mức
các chi phí, để tính giá thành sản phẩm rồi nó đợc xác định cho một đơn vị sản
phẩm căn cứ vào định mức cho một đơn vị sản phẩm hoàn thành.
- Giá thành kế hoạch : là loại giá thành đợc tính dựa trên cơ sở chi phí
sản xuất kế hoạch và khối lợng sản phẩm, khối lợng lao vụ, dịch vụ kế hoạch
mà doanh nghiệp dự kiến sản xuất trong một thời kỳ.
- Giá thành thực tế : là loại giá thành đợc xác định thực tế sau khi tập
hợp và tính giá thành trên cơ sở chi phí thực tế mà doanh nghiệp bỏ ra để sản
xuất một khối lợng lao vụ, dịch vụ hoàn thành.
Giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ
để so sánh, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện hạ giá thành sản phẩm của
doanh nghiệp; còn giá thành định mức là thớc đo chuẩn để xác định kết quả sử
dụng tài sản, vật t lao động, tiền vốn trong sản xuất, giúp đánh giá đúng đắn
các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp sử dụng trong quá trình sản
xuất, kinh doanh. Giá thành thực tế lại là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả
phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức và áp dụng các giải pháp đó, và
cũng là cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và nghĩa vụ

* Đối t ợng tính giá thành .
Về thực chất, đối tợng tính giá thành là toàn bộ các loại sản phẩm, lao
vụ, dịch vụ doanh nghiệp sản xuất chế tạo và thực hiện cần tính tổng giá thành
và giá thành đơn vị.
Để xác định đối tợng tính giá thành cần dựa vào đặc điểm tổ chức sản
xuất và cơ cấu sản phẩm, qui trình công nghệ sản xuất, chế tạo sản phẩm, đặc
điểm sử dụng thành phẩm, nửa thành phẩm, các yêu cầu quản lý, cung cấp
thông tin cho việc ra quyết định, khả năng và trình độ hạch toán.
Nếu doanh nghiệp sản xuất đơn chiếc thì từng sản phẩm, công việc là
đối tợng tính giá thành. Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất hàng loạt thì từng
loại sản phẩm, từng đơn đặt hàng là đối tợng tính giá thành. Nếu doanh nghiệp
có qui trình công nghệ phức tạp kiểu chế biến liên tục thì tuỳ theo yêu cầu
quản lý, đặc điểm sử dụng nửa thành phẩm(bán ra ngoài, nhập kho...) và khả
năng tính toán mà đối tợng tính giá thành có thể chỉ là thành phẩm hoàn thành
ở giai đoạn cuối hoặc bao gồm cả thành phẩm, nửa thành phẩm ở từng giai
đoạn công nghệ...Đối với sản phẩm có qui trình công nghệ phức tạp kiểu song
song thì đối tợng tính giá thành có thể là từng bộ phận, chi tiết hoặc sản phẩm
lắp ráp hoàn chỉnh.
* Kỳ tính giá thành .
Kỳ tính giá thành là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành cần phải tiến
hành công việc tính giá thành cho các đối tợng đã xác định.
Giá thành sản phẩm không thể tính vào bất cứ thời điểm nào mà phải
dựa vào khả năng xác định đúng đắn về số lợng cũng nh việc xác định lợng
chi phí sản xuất có liên quan đến kết quả đó. Xuất phát từ đặc điểm này nên
kỳ tính giá thành không thể giống nhau cho các ngành, nghề sản xuất khác
nhau.Tuỳ theo chu kỳ sản xuất dài hay ngắn cũng nh đặc điểm sản xuất sản
Trần Thị Thu
11
Khoá luận tốt nghiệp
phẩm mà xác định kỳ tính giá thành cho phù hợp ( cuối tháng, cuối năm hoặc

Trần Thị Thu
12
Khoá luận tốt nghiệp
Chi phí về sản phẩm làm dở cuối kỳ đợc tính theo công thức:
Giá trị Giá trị sản phẩm + Chi phí nguyên vật liệu
sản phẩm dở dang đầu kỳ trực tiếp phát sinh trong kỳ Khối lợng
dở dang = * sản phẩm
cuối kỳ Khối lợng sản phẩm + Khối lợng sản phẩm làm dở cuối kỳ
hoàn thành trong kỳ làm dở cuối kỳ
Trờng hợp doanh nghiệp có qui trình công nghệ sản xuất phức tạp, chế
biến kiểu liên tục gồm nhiều giai đoạn công nghệ sản xuất kế tiếp nhau thì sản
phẩm dở dang ở giai đoạn công nghệ sản xuất đầu tiên tính theo chi phí
nguyên vật liệu chính trực tiếp còn sản phẩm làm dở ở các giai đoạn công
nghệ sau phải tính theo chi phí nửa thành phẩm của giai đoạn trớc đó chuyển sang.
Phơngpháp này tuy giản đơn nhng độ chính xác không cao, nên nó chỉ
thích hợp với những doanh nghiệp có chi phí nguyên vật liệu chiếm tỉ trọng
lớn trong giá thành sản phẩm ( > 70% ), và nguyên vật liệu bỏ vào một lần
ngay từ giai đoạn công nghệ đầu tiên.
* Ph ơng pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo sản l ợng hoàn thành t -
ơng đ ơng.
Theo phơng pháp này ta chỉ cần dựa theo mức độ hoàn thành và số lợng
sản phẩm dở dang để qui đổi sản phẩm dở dang thành khối lợng sản phẩm
hoàn thành tơng đơng. Tiêu chuẩn qui đổi thờng dựa vào tiền lơng hay giờ
công định mức. Sau đó, tính toán xác định từng khoản mục chi phí cho sản
phẩm dở dang theo nguyên tắc:
- Đối với chi phí sản xuất bỏ vào một lần ngay từ đầu dây chuyền công
nghệ ( chi phí vật liệu chính trực tiếp hoặc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp )
thì tính cho sản phẩm dở dang theo công thức:
Chi phí sản xuất + Chi phí sản xuất Số lợng sản
Chi phí dở dang đầu kỳ phát sinh trong kỳ phẩm dở dang

Giá trị sản phẩm = Số lợng sản phẩm x Định mức chi phí cho
dở dang cuối kỳ dở dang cuối kỳ một đơn vị sản phẩm.
Để đảm bảo mức độ chính xác cao hơn thì cần xác định mức độ hoàn
thành của các sản phẩm dở dang cuồi kỳ để từ đó xác định giá trị sản phẩm dở
dang cuối kỳ theo chi phí sản xuất định mức nhng có tính đến mức độ hoàn thành.
Phơng pháp này tính toán nhanh, nhng kết quả có mức độ chính xác
không cao vì chi phí thực tế không thể đúng nh chi phí định mức đợc.
Ngoài các phơng pháp nêu trên, giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ còn đ-
ợc tính theo diện tích hay sản lợng cha thu hoạch ( trong nông nghiệp ), theo
khối lợng xây dựng cơ bản dở dang ( trong xây dựng ).
4. Các phơng pháp tính giá thành.
Phơng pháp tính giá thành là một phơng pháp hay hệ thống phơng pháp
đợc sử dụng để tính giá thành sản phẩm và đơn vị sản phẩm, nó mang tính
chất thuần tuý kinh tế kỹ thuật tính toán chi phí cho từng đối tợng tính giá
thành.
Trần Thị Thu
14
Khoá luận tốt nghiệp
Kế toán trên cơ sở chi phí sản xuất đã đợc tập hợp theo các đối tợng tập
hợp chi phí sản xuất phải vận dụng phơng pháp tính giá thành hợp lý, phù hợp
với đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh , tính chất sản phẩm, trình độ quản
lý của doanh nghiệp....để đáp ứng nhu cầu quản trị kinh doanh.
Khái quát có hai phơng pháp tính giá thành nh sau:
* Ph ơng pháp tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành công việc .
áp dụng đối với các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm đơn chiếc
hoặc theo từng loại hàng riêng biệt khác nhau về qui trình, nguyên liệu hoặc
kỹ thuật, thờng tiến hành sản xuất theo đơn đặt hàng, mỗi đơn đặt hàng có thể
là một sản phẩm, một loại sản phẩm, từng công trình, hạng mục công trình
hoặc loại công việc....
* Phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành theo qui trình

Giá thành đơn vị Tổng giá thành toàn bộ của sản phẩm
sản phẩm Khối lợng sản phẩm hoàn thành
Những doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp khai thác, doanh nghiệp
điện nớc.... thờng áp dụng phơng pháp này.
Trong trờng hợp không có chi phí sản xuất dở dang thì tổng chi phí sản
xuất trong kỳ = tổng giá thành ( Doanh nghiệp điện ) đợc thể hiện ở bảng 1
"phiếu tính giá thành " (phần phụ lục )
+ Ph ơng pháp tính giá thành theo hệ số.
Phơng pháp hệ số đợc áp dụng trong trờng hợp một qui trình công nghệ
sản xuất, cùng sử dụng một loại nguyên vật liệu nhng hiệu quả sản xuất lại thu
đợc đồng thời nhiều loại khác nhau nh công nghiệp hoá chất, dầu mỏ...
Toàn bộ chi phí sản xuất đợc tập hợp chung cho toàn qui trình công
nghệ. Để tính đợc giá thành từng loại sản phẩm phải căn cứ vào hệ số tính giá
thành qui định của từng loại sản phẩm, rồi tiến hành theo các bớc.
Qui đổi sản lợng thực tế từng loại sản phẩm theo hệ số tính giá thành để
làm tiêu thức phân bổ.
Tổng sản lợng qui đổi =

( Sl
i
* H
i
)
Sản lợng qui đổi sản phẩm i
H
i
=
Tổng sản lợng qui đổi
Trong đó: SL
i

hợp chi phí sản xuất cho đơn đặt hàng đó trên các bảng ( phiếu ) tính giá thành
theo đơn đặt hàng. Phiếu này cũng đợc lập chi tiết cho từng đơn đặt hàng, khi
phòng kế toán nhận thông báo và lệnh sản xuất đã đợc phát ra cho đơn đặt
hàng đó, chúng có tác dụng nh báo cáo sản phẩm sản xuất dở dang. Khi sản
phẩm hoàn thành và giao cho khách hàng, các phiếu này sẽ đợc chuyển từ
khâu sản xuất sang khâu thành phẩm.
Phơng pháp này đơn giản, dễ làm nhng có hạn chế là kỳ tính giá thành
không thống nhất với kỳ báo cáo, không phản ánh đợc các chi phí sản xuất đã
chi ra trong tháng báo cáo ở bảng tính giá thành nên giá thành thực tế của đơn
đặt hàng hoàn thành xong trong kỳ báo cáo không phản ánh riêng kết quả hoạt
động sản xuất trong kỳ đó. Giá thành sản phẩm và chi phí làm dở đều có tính
chất ớc định, trong trờng hợp sản phẩm của đơn đặt hàng có tính chất cục bộ
Trần Thị Thu
17
Khoá luận tốt nghiệp
thì khó phân tích đợc nguyên nhân tăng, giảm giá thành của từng loại sản
phẩm.
Ngoài ra còn có các phơng pháp tính giá thành theo định mức chi phí,
áp dụng cho những doanh nghiệp đã có qui trình công nghệ ổn định, có hệ
thống các định mức dự toán chi phí tiên tiến hợp lý.
5. Sổ sách kế toán sử dụng.
Tuỳ thuộc vào hình thức kế toán mà doanh nghiệp sử dụng các nghiệp
vụ kế toán phát sinh liên quan đến tập hợp chi phí và tính giá thành đợc phản
ánh trên các sổ kế toán phù hợp.
Nếu doanh nghiệp áp dụng hình thức kế toán nhật ký chứng từ thì có
các bảng phân bổ (bảng phân bổ tiền lơng và BHXH, bảng phân bổ nguyên vật
liệu, bảng tính và phân bổ khấu hao). Bảng kê số 4(Tập hợp chi phí sản xuất
theo phân xởng) Nhật ký chứng từ số 7(Tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh
nghiệp). Sổ cái tài khoản 621, 622, 627, 154 hoặc 631. Số liệu chi tiết về chi
phí sản xuất có thể đợc phản ánh trên các sổ chi tiết chi phí sản xuất.

Công ty may Thăng Long là một doanh nghiệp nhà nớc trực thuộc tổng
công ty dệt may Việt Nam, đợc chính thức thành lập vào ngày 08 / 05/ 1958
do bộ ngoại thơng ra quyết định với tên gọi ban đầu là công ty may mặc xuất
khẩu thuộc tổng công ty xuất nhập khẩu tạp phẩm. Đây là công ty may mặc
xuất khẩu đầu tiên của Việt Nam, đặt trụ sở tại 15 Cao Bá Quát.
Đợc chi bộ trực tiếp lãnh đạo cùng với sự ra đời của tổ chức công đoàn
và chi đoàn thanh niên đến ngày 15/12/1958 công ty đã hoàn thành xuất sắc
năm kế hoạch đầu tiên của mình, với tổng sản lợng là 391.129 sản phẩm đạt
112,8% so với kế hoạch giá trị tổng sản lợng tăng 840.880.
Bớc vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất ( 1961 - 1965 ) công ty
đã có một số chuyển biến lớn là chuyển tất cả các tổ hợp phân tán về một địa
điểm trang bị thêm một số máy móc đạp chân và một số máy móc khác...
( Năm 1961 công ty chính thức chuyển về 250 Minh Khai ). Thị trờng xuất
khẩu của công ty trong những năm 1960 đã đợc mở rộng đến các nớc Liên Xô,
Mông Cổ, Tiệp Khắc, Cộng hoà dân chủ Đức.
Trong những năm chiến tranh chống Mỹ công ty đã gặp rất nhiều khó
khăn nhng ban lãnh đạo đã từng bớc khắc phục tháo gỡ, cố gằng hoàn thành
kế hoạch đặt ra. Công ty đã phải 4 lần thay đổi cơ quan, 4 lần thay đổi địa
điểm, 5 lần thay đổi cán bộ chủ trì. Tuy nhiên công ty vẫn tiến những bớc
mạnh mẽ để bớc vào kế hoạch 5 năm lần thứ hai của một đất nớc thống nhất.
Năm 1980 cơ quan chủ quản đổi tên công ty may thành liên hiệp các xí
nghiệp may Thăng Long. Năm 1986 thì xí nghiệp đợc Bộ Công nghiệp nhẹ xét
nâng lên hạng 1. Từ năm 1980 - 1988 là thời kỳ xí nghiệp dành đựơc rất nhiều
Trần Thị Thu
19
Khoá luận tốt nghiệp
thắng lợi. Mỗi năm xuất khẩu 5.000.000 áo sơ mi và đợc nhà nớc tặng thởng 2
huân chơng lao động hạng ba, một huân chơng lao động hạng hai, một huân
chơng lao động hạng nhất cùng rất nhiều bằng khen và giấy khen khác...
Năm 1990, thị trờng rộng lớn của công ty bị tan rã ( Đông Đức ) kế tiếp

Trần Thị Thu
20
Khoá luận tốt nghiệp
hàng nên quá trình sản xuất ở công ty thờng mang tính hàng loạt, số lợng sản
phẩm lớn, chu kỳ sản xuất ngắn xen kẽ, sản phẩm phải qua nhiều giai đoạn
công nghệ chế biến phức tạp kiểu liên tục theo một trình tự nhất định là từ cắt
- may - là - đóng gói - đóng hòm - nhập kho.
Nhìn vào bảng 5 (phần phụ lục), ta thấy cơ cấu tổ chức sản xuất của
công ty đợc bố trí nh sau:
- Công ty có 8 xí nghiệp may trong đó:
+ 6 xí nghiệp may từ xí nghiệp 1 - 6 đóng tại Hà Nội.
+ 1 xí nghiệp đóng tại Hải Phòng.
+ 1 xí nghiệp đóng tại Nam Hải ( Nam Định ).
Các xí nghiệp có cùng mô hình sản xuất với dây chuyền công nghệ
khép kín, chia thành các bộ phận khác nhau: văn phòng xí nghiệp, tổ cắt, tổ
may, tổ hoàn thành, tổ bảo quản.
- Ngoài ra công ty còn có một xí nghiệp phụ trợ bao gồm 1 phân xởng
thêu và 1 phân xởng mài có nhiệm vụ thêu, mài, tẩy, ép đối với những sản
phẩm cần gia cố và trung đại tu máy móc thiết bị.
+ Một xởng thời trang: chuyên nghiên cứu mẫu mốt và sản xuất những
đơn đặt hàng nhỏ dới 1.000 sản phẩm.
Các xí nghiệp may chính đợc chuyên môn hoá theo từng mặt hàng.
Xí nghiệp I và II chuyên may áo sơ mi
Xí nghiệp III chuyên may quần áo bò.
Xí nghiệp IV chuyên may veston, áo măngtô.
Xí nghiệp V liên doanh với nớc ngoài.
* Đặc điểm qui trình công nghệ sản xuất sản phẩm.
May Thăng Long là công ty công nghiệp chế biến, đối tợng là vải đợc
cắt may thành nhiều mặt hàng khác nhau, kỹ thuật sản xuất các cỡ vải của mỗi
chủng loại mặt hàng có mức độ phức tạp khác nhau, nó phụ thuộc vào số lợng

trong công ty. Có nhiệm vụ đôn đốc, kiểm tra các chi phí phát sinh trong quá
trình sản xuất, tính đúng, tính đủ phục vụ cho việc hạch toán kinh tế, đảm bảo
chính xác, nhắc nhở ghi chép các nghiệp vụ phát sinh trong quá trình sản xuất,
quản lý sản xuất trong các xí nghiệp thành viên.
- Phòng kế hoạch thị trờng: đặt ra các chỉ tiêu sản xuất hàng tháng,
hàng năm, điều động sản xuất, ra lệnh sản xuất tới các phân xởng, nắm kế
hoạch của từng xí nghiệp, xây dựng phơng án kinh doanh. Đồng thời, tìm
Trần Thị Thu
22
Khoá luận tốt nghiệp
nguồn khách hàng để ký kết hợp đồng gia công, mua bán, làm thủ tục xuất
nhập khẩu mở L / C, giao dịch đàm phán với bạn hàng.
- Phòng kỹ thuật: khi có kế hoạch thì triển khai thiết kế mẫu, thử mẫu
thông qua khách hàng duyệt rồi mang xuống xí nghiệp để sản xuất hàng loạt,
xác định mức hao phí nguyên vật liệu, tính tiết kiệm nguyên vật liệu, hớng dẫn
cách đóng gói cho các xí nghiệp sản xuất.
- Phòng KCS: có nhiệm vụ kiểm tra, đánh giá chất lợng sản phẩm nhằm
loại bỏ sản phẩm hỏng, lỗi trớc khi đa vào nhập kho thành phẩm, kiểm tra chất
lợng của nguyên phụ liệu từ công ty đến xí nghiệp.
- Phòng kho: có nhiệm vụ xuất nguyên vật liệu theo yêu cầu của sản
xuất, đo đếm nguyên phụ liệu khi xuất kho, quản lý thành phẩm nhập kho,
máy móc hỏng không dùng chờ thanh lý.
- Trung tâm thơng mại và giới thiệu sản phẩm ( 39 Ngô Quyền ): trng
bày và giới thiệu, bán các sản phẩm của công ty, làm công tác tiếp thị tìm
kiếm khách hàng.
- Cửa hàng thời trang: ở đây các mẫu mã đợc thiết kế riêng ở xởng thời
trang mang tính chất giới thiệu sản phẩm là chính.
Các phòng ban chức năng không trực tiếp chỉ huy đến các xí nghiệp,
nhng có nhiệm vụ theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện tiến độ sản xuất,
các qui trình, qui phạm, các tiêu chuẩn và định mức kinh tế - kỹ thuật, các chế

trên, phù hợp với điều kiện và trình độ ,bộ máy kế toán của công ty tổ chức
theo mô hình tập trung. Công tác kế toán đợc thực hiện trọn vẹn ở phòng kế
toán của công ty ,ở các xí nghiệp thành viên và các bộ phận trực thuộc không
tổ chức bộ máy kế toán riêng mà chỉ bố trí các nhân viên hạch toán thống kê.
Tại công ty may Thăng Long bộ máy kế toán đợc tổ chức nh sau:
* Tại phòng kế toán tài vụ của công ty.
Nhiệm vụ: Tổ chức hớng dẫn và kiểm tra việc thực hiện toàn bộ phơng
pháp thu thập xử lý các thông tin kế toán ban đầu, thực hiện đầy đủ chiến lợc
ghi chép ban đầu, chế độ hạch toán và chế độ quản lý tài chính theo đúng qui
định của bộ tài chính, cung cấp một cách đầy đủ chính xác kịp thời những
thông tin toàn cảnh về tình hình tài chính của công ty. Từ đó tham mu cho ban
giám đốc để đề ra biện pháp các qui định phù hợp với đờng lối phát triển của
công ty.
Trên cơ sở qui mô sản xuất, đặc điểm tổ chức sản xuất, đặc điểm tổ
chức của công ty, mức độ chuyên môn hoá và trình độ cán bộ, phòng kế toán
tài vụ đợc biên chế 12 ngời và đợc tổ chức theo các phần hành kế toán nh sau:
Trần Thị Thu
24
Khoá luận tốt nghiệp
- Đứng đầu là kế toán trởng kiêm kế toán tổng hợp: là ngời chịu trách
nhiệm chung toàn công ty, theo dõi quản lý và điều hành công tác kế toán.
Đồng thời tổng hợp số liệu để ghi vào các sổ tổng hợp toàn công ty, lập báo
cáo kế toán.
Tiếp đó là hai phó phòng kế toán, các nhân viên và thủ quĩ.
- Kế toán tiền ( kế toán thanh toán ) : Sau khi kiểm tra tính hợp lệ hợp
pháp của chứng từ gốc, kế toán thanh toán viết phiếu thu chi ( đối với tiền mặt
viết séc, uỷ nhiệm chi... ( đối với tiền gửi ngân hàng ) hàng tháng lập bảng kê
tổng hợp séc và sổ chi tiết đối chiếu với sổ sách thủ quĩ, sổ phụ ngân hàng, lập
kế hoạch tiền mặt gửi lên cho ngân hàng có quan hệ giao dịch. Quản lý các tài
khoản 111, 112 và các chi tiết của nó. Cuối tháng lập nhật ký chứng từ số 1, số


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status