Chương V: SINH THÁI HỌC CÔN TRÙNG I. KHÁI NIỆM VỀ SINH THÁI HỌC CÔN TRÙNG NÔNG NGHIỆP
Trong điều kiện tự nhiên, sự hiện diện và mật số tương đối của côn trùng tùy
thuộc vào các đặc điểm sau:
- Đặc điểm nội tại của chính côn trùng như: tiềm năng sinh học, hành vi, tác
động của nhóm.
- Đặc điểm sinh vật của môi trường: cây ký chủ và các yếu tố thiên địch.
- Các yếu tố phi sinh vật: thời tiết, đất đai, chế
độ nước.
Trong điều kiện tự nhiên, giữa các yếu tố nêu trên có những tác động qua lại:
một tác động nào đó trên một trong những yếu tố môi trường (như thay đổi thời tiết, sự
can thiệp của con người) đều có những tác động đến những yếu tố sinh học khác. Ví
dụ như sự thay đổi về cây ký chủ sẽ tác động lên côn trùng gây hại và từ đó sẽ tác
độ
ng lên thiên địch của côn trùng gây hại theo những qui luật riêng của các loài thiên
địch này.
Cần chú ý rằng trong các yếu tố của môi trường, chính yếu tố nhỏ nhất lại có
tác động lớn nhất. Hơn nữa người ta cũng ghi nhận rằng thường những yếu tố thay đổi
lại có tác động mạnh hơn những yếu tố bền vững và dù cho những yếu tố khác của môi
trường thích hợp, động v
ật cũng không thể tồn tại nếu một yếu tố nào đó của môi
trường không thích hợp.
II. TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ PHI SINH VẬT
Chính thời tiết đã quyết định phần lớn sự phân bố, phát triển và hoạt động cũng
như sự phát sinh thành dịch của côn trùng. Có thể phân biệt:
- Đại khí hậu (macroclimat) của các nhà địa dư học hay các nhà nông học, đây
Hình V.3. Biểu đồ hoạt động của côn trùng theo nhiệt độ
Nếu đại khí hậu (macroclimat) xác định sự phân bố tổng quát của một loài (như
côn trùng vùng sa mạc, côn trùng vùng Đại Tây Dương, ) thì trung và vi khí hậu là
110
yếu tố quyết định sự hiện diện hữu hiệu (bền vững) của một động vật trong sinh cảnh
hay nói rõ hơn là trong một ổ sinh thái (niche ecologique) nhất định.
1. Nhiệt độ
Đây là yếu tố ngoại cảnh quan trọng nhất: côn trùng là động vật máu lạnh, nhiệt
độ của cơ thể gần bằng với nhiệt độ của môi trường chung quanh và thay đổi cùng vớ
i
sự thay đổi của nhiệt độ môi trường. Nhiệt độ quyết định tốc độ của các phản ứng hóa
học (định luật VAN'T HOFF: cường độ của tất cả các hiệu lực sinh học và biến dưỡng
tùy thuộc chặt chẽ vào các yếu tố của nhiệt độ). Hơn nữa, nhiệt độ còn tác động đến
hành vi và có thể là nguyên nhân gây ra sự tử vong ở côn trùng.
a- Tác độ
ng của nhiệt độ đến cường độ của các hiện tượng sinh học (hoặc đến
thời gian và tốc độ của sự phát triển)
Côn trùng chỉ có thể phát triển trong một số giới hạn nhất định của nhiệt độ mà
người ta gọi là nhiệt độ hữu hiệu cho sự phát triển, nhiệt độ này thay đổi tùy theo loài
và trên cùng một loài côn trùng theo các giai đoạn phát triển và đôi khi cũng thay đổ
i
theo các yếu tố khí hậu khác.
(lý thuyết) của sự phát triển. Tm-TM = khoảng nhiệt độ mà trong khoảng này tốc độ
phát triển (V) biến thiên theo một đường thẳng. V = tốc độ phát triển. D = thời gian
phát triển
Nếu D được tính bằng ngày, T và K bằng độ thì C được biể
u thị bằng
o
N (
o
D),
C biểu thị cho tổng nhiệt lượng và được gọi là tổng tích ôn hữu hiệu cần thiết cho sự
phát triển của côn trùng. Điều này cho thấy để hoàn thành một giai đoạn phát triển mỗi
loài côn trùng (cũng như mỗi loài sinh vật nói chung) đều đòi hỏi phải có tổng nhiệt
lượng nhất định. Tổng nhiệt lượng này là một hằng số nhiệt độ có hiệu quả cho s
ự phát
dục của mỗi loài côn trùng.
Qui luật về sự bền vững nhiệt độ được áp dụng khi côn trùng hoạt động trong
các điều kiện nhiệt độ khác nhau như trong các điều kiện tự nhiên với điều kiện là
nhiệt độ bên ngoài biến động trong khoảng từ Tm - TM trong đó đường biểu diễn về
thời gian phát triển theo nhiệt độ là một đường cong hyperbole. Như vậy có ngh
ĩa là từ
những hiểu biết về tổng tích ôn hữu hiệu, người ta có thể tính số thế hệ có thể xuất
hiện trong một năm của từng loài côn trùng nhất định ở từng vùng cụ thể. Nếu gọi
sigma C là tổng tích ôn hữu hiệu cả năm của một loài côn trùng A trong địa phương B,
thì giá trị sigma C được tính như sau:
112
Nhi
ệ
t d
Trong công tác dự tính, dự báo sâu hại, để xác định được t
ổng tích ôn hữu hiệu
cho từng loài côn trùng, trước hết cần phải tính khởi điểm phát dục K của chúng. Dựa
vào kết quả nuôi sâu trong tủ định ôn, ít nhất của 2 thế hệ, trong điều kiện nhiệt độ
khác nhau, có thể tính được bằng cách như sau:
- Trong điều kiện nhiệt độ Tn1: C = D1 (Tn1 - K)
- Trong điều kiện nhiệt độ Tn2: C = D2 (Tn2 - K)
Vì giá trị của C không đổi cho từng loài côn trùng nên:
D1Tn1 - D1K = D2Tn2 - D2K
D1Tn1 - D2Tn2 = D1K - D2K
K (D1 - D2) = D1Tn1 - D2Tn2
D1Tn1 - D2Tn2
K =
D1 - D2
113
Khi đã biết K, có thể tính được C và D
D1Tn1 - D2Tn2
C = D1 (Tn1 - )
D1 - D2
C
D =
Tn - K
Kết quả nuôi sâu cắn gié Leucania separata Walk của Trường Đại học Nông
nghiệp I, Hà Nội cho một ví dụ rõ ràng về mối quan hệ giữa nhiệt độ môi trường và
thời gian phát dục của côn trùng.
Khi biết được trị số C, số K và ngày đẻ của côn trùng thì người ta có thể dự
đoán ngày nở của trứng hay ngày cuối của các giai đoạn phát triển c
N 114
Bảng 1. Ảnh hưởng của nhiệt độ môi trường đến thời gian sinh trưởng của sâu cắn gié
Leucania separata Walk (Hồ Khắc Tín, 1980)
Giai đoạn Nhiệt độ Thời gian phát
phát triển (
0
C) triển (ngày)
16,8 11
18,9 8
TRỨNG 19,7 6
23,6 5
26,6 4
30,8 3
16,4 41
18,5 30
SÂU NON 21,5 27
24,7 22
28,4 18
17,6 22
18,9 16
21,5 13
NHỘNG 25,8 11
28,2 9
một sự ưa thích đối với một số nhiệt độ. Sự ưa thích này thay đổi tùy theo loài, và
cũng thay đổi tùy theo những điều kiện của môi trường, đặc biệt là đối với điều kiện
ẩm độ.
Hành vi này có thể được biểu thị qua vấn đề chọn nơ
i định cư của côn trùng
như kiến ở dưới lá, ruồi dưới ánh sáng mặt trời, những loài côn trùng ký sinh động
vật máu nóng như muỗi, bọ chét, phát hiện được ký chủ là do đã phát hiện được
nguồn nhiệt. Muỗi có thể phân biệt được sự khác biệt về nhiệt độ ở mức dưới 1/10
0
C
và chích trên da ký chủ nhờ một loại kích thích gọi là kích thích nhiệt.
c- Ảnh hưởng của nhiệt độ đối với sự giới hạn dân số
Nhiệt độ tối đa hay tối thiểu đều có thể là yếu tố giới hạn mật số côn trùng,
trong điều kiện khí hậu ôn đới, nhiệt độ thấp của mùa đông chỉ có một tác động rất
giớ
i hạn trên các côn trùng địa phương vì những loài này chịu đựng được những độ
lạnh mãnh liệt (-20
0
C - -25
0
C) một cách dễ dàng. Ở nhiệt độ này, những loài côn trùng
này có một sự biến dưỡng rất đặc biệt, cho phép chúng chịu được các yếu tố bất lợi đó
là hiện tượng tiềm sinh (diapause).
Trái lại, nhiệt độ lạnh của mùa đông có thể diệt trừ những loài côn trùng được
đưa vào một cách tình cờ từ những vùng nóng. Ví dụ loài ruồi Địa Trung Hải gây hại
trên nhiều loại cây ăn trái của vùng Tây Ban Nha và B
Ẩm độ giữ một vai trò rất quan trọng đối với đời sống côn trùng. Mỗi loài côn
trùng đều có yêu cầu đặc biệt đối với yếu tố này.
Người ta ghi nhận rằng tỉ lệ sống sót của các loài côn trùng gây hại trong kho
vựa sẽ rất cao nếu ẩm độ thấp hay nói khác đi các loài này phát triển tốt trong điều
kiện khô hạn. Những loài côn trùng gây hại trên thực v
ật trái lại là những loài đòi hỏi
những điều kiện ẩm độ tương đối khá cao.
Tuy nhiên cần chú ý rằng tác động ẩm độ tương đối trên tỉ lệ tử vong của côn
trùng thay đổi rất nhiều theo nhiệt độ, và khả năng chống chịu sức nóng thì rất tốt
trong điều kiện ẩm độ thấp.
Tại vùng ôn đới, tác động của ẩm độ t
ương đối không rõ như ở các vùng Địa
Trung Hải hay nhiệt đới. Tuy vậy, ngay tại vùng ôn đới, sự làm khô đất bởi những kỹ
thuật canh tác khác nhau như cày làm đất, cho ngập nước có thể gây tử vong cho
nhiều loài côn trùng sống trong đất. Đây là những biện pháp để diệt những loài côn
trùng gây hại sống trong đất.
b- Ảnh hưởng của ẩm độ đối với hoạt động, hành vi và sự phân bố của côn
trùng
Sự hoạt động trở lại vào mùa xuân của nhiều loài côn trùng thường tùy thuộc
vào lượng mưa. Ở phía Bắc nước ta vào khoảng tháng 3, nếu có mưa xuân đều đặn, đất
đủ ẩm và được sưởi ấm, nhộng của các loài bọ hung hại gốc lúa sẽ trưởng thành rộ.
117
Khi làm tơi xốp đất, mưa cho phép những loài côn trùng hóa nhộng trong đất chui ra
dễ dàng, vì vậy những trận mưa đầu mùa thường được theo sau bởi sự vũ hóa của
0
C.
Độ ẩm còn ảnh hưởng tới sự sinh sản, hoạt tính và sự phân bố của côn trùng.
Theo dõi trên sâu cắn gié, người ta ghi nhận thấy ở độ nhiệt 25
0
C nếu độ ẩm tương đối
thấp (60%), số trứng đẻ chỉ bằng 93,5 % so với số trứng đẻ ở ẩm độ 90 %. Nếu độ ẩm
thấp hơn nữa (40%) số trứng đẻ chỉ còn 50,2 % (Hồ Khắc Tín, 1980).
Ngoài ảnh hưởng gián tiếp thông qua độ ẩm không khí, lượng mưa có tác động
hết sức lớn đến đời sống côn trùng thông qua độ ẩm không khí, độ ẩm
đất và thông
qua các tác động cơ giới của mưa. Mưa lớn và kéo dài ngăn cản các hoạt động giao
phối, sinh sản và phát tán của côn trùng. Nhiều loài côn trùng nhỏ như rầy mềm, rầy
phấn, sâu mới nở, đều bị những trận mưa lớn rửa trôi. Mưa lớn nhiều ngày, làm mực
nước ruộng dâng cao cũng gây sự tử vong của sâu và nhộng của sâu đục thân mía 5
vạch (Hồ Khắc Tín, 1980) và làm giảm kh
ả năng gây hại của rầy nâu (Nilaparvata
lugens). Tuy nhiên cũng có một số loài côn trùng như sâu đàn (Spodoptera mauritia)
thường phát sinh thành dịch trên lúa vào những năm có mưa lớn, gây ngập lụt đồng
ruộng. 118
Do nhiệt độ và ẩm độ thường phối hợp chặt chẽ và tác động một cách tổng hợp
lên côn trùng vì vậy trong khi nghiên cứu về côn trùng người ta thường xét đến tác
động tổng hợp của 2 yếu tố này qua việc xây dựng những khí hậu đồ (climatogramme)
và sinh khí hậu đồ (bioclimatogramme). Trong các loại biểu đồ này, đường biểu biễn
tổ hợp yếu tố nhiệt độ và độ ẩm được đố
T
0
C H %
I. Ngừng hoạt động 2,5 >= >=41 15>= >=95
II. Không thuận lợi 5 - 9 và 34 - 41 15 - 40 và 75 - 95
III. Thuận lợi 9 - 15 và 30 - 34 40 - 50 và 70 - 75
IV. Cực thuận 15 - 30 50 - 70 Ở các loài ong, người ta ghi nhận hướng của các tia sáng đã giúp cho ong định
hướng để tìm đến nơi có thức ăn và tìm đường về tổ. Bọ hung trưởng thành thường sử
dụng ánh sáng của mặt phẳng phân cực vào lúc hoàng hôn để tìm hướng bay.
Bên cạnh đó, thời gian chiếu sáng trong ngày cũng là một trong những yếu tố
chính quyết định ngừng phát dục (diapause) của nhiều loài côn trùng ở vùng ôn đới.120
Hình V.6. Sinh khí hậu đồ của sâu đục trái táo vùng ngoại ô Bucarest (C. Manolache)
121Hình V.7. Sự biến động về tỷ lệ chết của côn trùng dưới tác động phối hợp của nhiệt
độ và ẩm độ tương đối.
Thời gian quan sát
123Hình V.11. Sự biến động mật số của một loài côn trùng trong một thời gian dài 124
4. Gió và áp suất không khí
a- Gió
Gió là một yếu tố vừa thuận lợi lại vừa bất lợi cho sự phân bố của những
động vật có kích thước nhỏ. Gió yếu và những luồng gió đi lên có thể phát tán côn
trùng có cánh (rầy mềm, ong ký sinh), kích thước nhỏ đi những khoảng cách rất xa.
Ngài sâu hồng hại bông được các luồng không khí mang lên cao gần 1 km và nhờ gió
thổi nên dạt từ Mê-hi-cô đến Mỹ. Và cũng nh
ờ gió mà một loài sâu hại quan trọng trên
khoai tây là Leptinotara decemlineata (Coleoptera) đã phát tán, lây lan khắp Châu Âu.
Nhờ những luồng gió yếu mà côn trùng có thể phát hiện được cây ký chủ hoặc cá thể
khác giống qua mùi vị (pheromones) tiết ra từ cá thể này. Tuy nhiên, thường thì hoạt
động sống của côn trùng rất cao khi trời nắng ấm và yên tỉnh và gió mạnh thường ngăn
cản những loài có cánh bay và các loài này thường tìm nơi ẩn trú.
Ngoài tác động quan trọng trong sự phân bố côn trùng, gió còn ảnh hưởng gián
tiếp bằ
ng cách làm thay đổi nhiệt độ môi trường, làm giảm ẩm độ không khí và làm
gia tăng sự thoát hơi nước.
đất. Trái lại pH và thành phần hóa học chỉ có ảnh hưởng rất ít đến đời sống côn trùng.
Tuy nhiên, người ta cũng ghi nhận là ph
ần lớn ấu trùng họ Bổ củi (Elateridae) tập
trung nhiều nhất trong các chân đất có pH = 4 - 5,2 và ngược lại loài Bóng tối
(Tenebrionidae) lại thích sống trong đất cát trung tính hơi kiềm (pH = 7 - 8). Đất nhẹ
rất thích hợp cho sự phát tán và gia tăng mật số của các loài dế nhũi, trái lại những đất
sét chặt, dễ bị khô cứng trên bề mặt vào mùa khô có thể gây tử vong cho nhiều loài
côn trùng có cơ thể mềm sống trong đất và ngăn cản s
ự vũ hóa của các loài côn trùng
hóa nhộng trong đất.
III. TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ SINH VẬT
1. Yếu tố nội tại của côn trùng
Quan trọng nhất là 2 yếu tố: tiềm năng sinh học và tác động của nhóm, ngoài ra
còn có một số yếu tố khác như khả năng phân tán, hành vi, kiểu sinh sản,
a- Tiềm năng sinh sản
Tiềm năng sinh sản hay khả năng gia tăng mật số của một loài trong những điều
kiện tối ưu. Khả nă
ng này tùy thuộc vào 2 yếu tố nội tại của côn trùng:
- Khả năng sinh sản của con cái.
- Tốc độ phát triển.
Trong 2 yếu tố này thì yếu tố thứ hai quan trọng nhất, một loài có khả năng sinh
sản kém nhưng có tốc độ phát triển nhanh thì sẽ có một tiềm năng sinh học và những
khả năng phát sinh thành dịch cao hơn rất nhiều so với loài có khả năng sinh sản cao
nhưng tốc độ phát tri
ển chậm. Có thể so sánh hai loài: một loài chỉ có một thế hệ/năm,
Trong một số loài côn trùng, sự sống thành tập thể, đàn, đã đưa đến những sự
biến đổi sâu sắc về sinh lý, hành vi và cả hình thái của côn trùng. Hiện tượng này
thường được quan sát trên rầy mềm (Aphididae) và cào cào (Acrididae), hoặc những
loài côn trùng sống thành xã hội thuộc bộ Cánh màng (Hymenoptera) và tác động của
nhóm đã giữ một vai trò quan trọng trong nông nghiệp vì đó c
ũng là nguyên nhân của
các sự gây hại và sự tập trung sống thành đàn của côn trùng. Ghi nhận 3 trường hợp:
* Hiện tượng xuất hiện dạng có cánh ở rầy mềm
Trong thời gian đầu khi côn trùng mới đến định cư trên một loại cây trồng thích
hợp, những côn trùng này sinh sản đơn tính và con cái (đực) có hai dạng cánh: có cánh
và không cánh. Khi mật số rầy mềm trên cây thấp, tất cả con cái đều không có cánh, ở
tại chỗ và sau đ
ó gia tăng mật số rất nhanh. Khi mật số cao lại xuất hiện những con cái
có cánh, những con này sẽ rời bỏ ký chủ để phân tán đi nơi khác và để sống sót.
Trường hợp tương tự cũng ghi nhận được ở rầy nâu trên lúa. Vào giai đoạn đầu
khi rầy nâu có cánh đến định cư trên ruộng lúa, cả con đực và con cái đều có cánh,
nhưng sau khi sinh sản, ở các thế hệ kế tiếp, hầu h
ết con cái đều không có cánh, khả
năng sinh sản rất cao. Đến khi mật số cao, thì sẽ hình thành những cá thể cái có cánh,
khả năng sinh sản thấp, những cá thể này sẽ rời bỏ ký chủ để phân tán đi nơi khác tìm
ký chủ mới. Hai ví dụ trên cho thấy sự tiếp xúc giữa các thể có thể đã giữ một vai trò
nào đó và sự thay đổi về chất và lượng của thức ăn cũng có một vai trò tươ
ng tự.
* Sự tập trung sống thành đàn ở cào cào
a- Nhu cầu thức ăn của côn trùng
Cũng như các loài động vật khác, côn trùng cũng cần những loài thức ăn như
sau:
- Thức ăn cần thiết cho sự cấu tạo tổ chức cơ thể côn trùng, cần thiết cho sự
phát triển và sinh sản như protein và các acid amine.
- Thức ăn năng lượng cần thiết cho sự bảo trì và hoạt động của cơ
thể như
glucid.
Hai loại thức ăn kể trên rất cần thiết cho ấu trùng của tất cả các loài côn trùng
và cho thành trùng của các loài côn trùng có biến thái không hoàn toàn (như cào cào,
châu chấu, dế nhũi, bọ xít, rầy, rệp dính, ). Đây là những nhóm mà thành trùng và ấu
trùng cùng có kiểu gây hại giống nhau trên cây trồng. Riêng đối với thành trùng của
128
côn trùng thuộc nhóm biến thái hoàn toàn (bộ Coleoptera, Lepidoptera, Diptera, ) có
một sự khác biệt rất lớn giữa các nhóm và khác biệt ngay cả các loài.
Một số loài đòi hỏi một loại thức ăn đầy đủ để sinh sản, chúng thường tìm thức
ăn trên những loài cây khác nhau với những cây mà trên đó ấu trùng của chúng cũng
có thể phát triển bình thường như các loài bọ hung thường sống trong rừng, vườn.
Bướm và ruồi thường sống bằng ph
ấn hoa và mật hoa. Ở nhiều loài, thức ăn đã được
dự trữ trong cơ thể ngay từ giai đoạn ấu trùng sau khi vũ hóa được ít lâu sẽ đẻ ngay mà
không cần ăn thêm (như trường hợp của nhiều loài thuộc bộ cánh vẩy) hoặc chỉ ăn
những chất glucid (như bướm và ruồi) và vì thế thành trùng của những loài biến thái
tích cực và làm đòng thì tỷ lệ con cái có loại hình cánh ngắn (khả năng sinh sản cao)
rất cao, nhưng nếu tấn công trên lúa đã trổ đều thì con cái hầu hết có d
ạng cánh dài
(khả năng sinh sản thấp). 129
Rầy bông (Pseudococus citri Risso) khi sống trên cam quít thì cá thể đực hầu
như không hiện diện, tuy nhiên nếu sống trên mầm khoai tây, nhất là khi mật độ rầy
lớn thì tỉ lệ đực có thể đạt đến 13 %. Côn trùng thường thích tấn công những cây khỏe
mạnh hơn là những cây yếu, bệnh. Ví dụ như loài ruồi trên củ cải đỏ không phát triển
được khi nuôi bằng những lá củ cải đỏ bị nhiễm bệ
nh vàng lá. Trên cây bắp, người ta
ghi nhận có một số giống bắp kháng sâu đục thân bắp (Pyrausta nubilalis), ấu trùng
khi tấn công những giống bắp này sẽ không phát triển, có thể do cây thiếu một số chất
sinh tố cần thiết cho sự phát triển của côn trùng, đồng thời trong cây cũng có thể chứa
những chất độc (như 6-methoxy 2-3 benza xazilone).
Ngoài ra phân bón và những loại thuốc trừ dịch hại có thể làm thay đổi chất
lượng c
ủa cây trồng. Tùy theo từng trường hợp có thể tốt hơn hoặc xấu hơn. Việc sử
dụng nhiều loại phân đạm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loài sâu
thuộc bộ Cánh vẩy. Người ta đã ghi nhận có một số loại thuốc trừ sâu, trừ nấm, trừ cỏ,
có thể làm chất lượng của cây tốt hơn, cây phát triển khá h
ơn. Sự thay đổi chất lượng
thức ăn có thể có ảnh hưởng rõ đến chu kỳ sinh học của côn trùng ăn thực vật: Tại
vùng ôn đới, sự qua đông có thể xảy ra khi lá bắt đầu già giữa tháng 8.
c- Ảnh hưởng của khối lượng thức ăn
loại dịch bệnh, côn trùng ăn mồi, côn trùng ký sinh.
a - Vi sinh vật gây bệnh cho côn trùng
Côn trùng rất dễ bị nhiễm các loại bệnh do các loài vi sinh vật gây ra. Phổ biến
nhất là các loại bệnh do nấm gây ra. Bào tử nấm nẩy mầm và xâm nhiễm qua da,
khuẩn ty phát triển bên trong cơ thể và sau đó sinh sôi nẩy nở trên cơ thể côn trùng. Có
th
ể ghi nhận một số loài nấm gây hại phổ biến như bệnh nấm trắng Beauveria
bassiana trên ấu trùng bộ Cánh vẩy, bệnh do nấm Enthomophthora gây bệnh cho các
loài rầy mềm.
Côn trùng cũng thường còn bị chết vì bệnh do vi khuẩn gây ra. Các bệnh vi
khuẩn thường thấy trên ong, ấu trùng bộ Cánh vẩy và ấu trùng bộ Cánh cứng. Các loài
côn trùng thường bị nhiễm khi ăn phải những thức ăn bị nhiễm vi khu
ẩn. Bên cạnh đó
các bệnh do siêu vi khuẩn (virus) gây ra cũng là một mối đe dọa thường xuyên đối với
ấu trùng bộ Cánh vẩy và ấu trùng của các ong ăn lá. Khi chết cơ thể côn trùng chứa
một dịch rất loảng màu đen, Những ấu trùng bị nhiễm bệnh này, khi gần chết thường
leo rất cao trên cây và chết trên ngọn cây. Vì vậy ở Châu Âu người ta còn gọi là "bệnh
của ngọn cây". Bệnh vi khuẩn và siêu vi khuẩ
n rất dễ dàng lây lan và nhiều trường hợp
đã gây thành dịch rất lớn và có thể tiêu diệt côn trùng gây hại một cách rất nhanh
chóng.
b- Côn trùng thiên địch
Gồm chủ yếu hai nhóm: côn trùng ăn mồi và côn trùng ký sinh.
* Côn trùng ăn mồi
thuốc trừ
sâu đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của các lực lượng bảo vệ thiên nhiên
này. Riêng đối với chim, thì côn trùng đặc biệt là ấu trùng bộ Cánh vẩy thường là
những mồi ưa thích của chim, tuy nhiên tác động của chim trên sâu thường quá trể khi
mật số sâu hại đã quá cao.
Thành trùng Nhộng Thành trùng Ấu trùng
Hình V.12. Bọ rùa đỏ Micraspis sp. Hình V.13. Bọ rùa Menochilus sexmaculatus
Hình V.14. Thành trùng và trứng của côn trùng thuộc họ Chrysopidae
bộ Neuroptera (Borror và ctv,1981)
132