Đánh giá hồ sơ dự thầu - Pdf 16

Giáo viên hướng dẫn: Th.sỹ: Trần Quang Trung
Nhóm thực hiện: 7
Trường: ĐH KT.TPHCM
(Tài liệu được dịch từ: Managing Risk In Large Project and Complex Procurements)
Chương 13: ĐÁNH GIÁ HỒ SƠ DỰ THẦU
Tổng quan của chương:
- Mục đích: Các quá trình được mô tả trong chương, hỗ trợ trong việc nhận
biết những khía cạnh có khả năng rủi ro cao của một quyết định đấu thầu.
Họ quy định một nguồn đầu vào trọng yếu để đánh giá hồ sơ dự thầu, đặc
biệt cho rủi ro và dự án công nghệ cao.
- Cơ sở lí luận: Các rủi ro liên quan tới phản ứng đấu thầu cụ thể được xác
định tại một giai đoạn sớm nhất, vì vậy họ có thể được dùng một cách rõ
ràng trong đánh giá hồ sơ dự thầu. Nên quan tâm nhiều đến những khu vực
có rủi ro cao và tập trung trong việc thẩm định hồ sơ dự thầu được xác định.
- Đầu vào: Thông tin ban đầu được dùng trong giai đoạn 1 của việc đánh giá
quá trình dựa trên những tài liệu của dự án và theo yêu cầu tự đấu thầu.
Thông tin cho giai đoạn 2 được xuất phát từ những phản ứng cá nhân của
nhà thầu.
- Phương pháp: Trong giai đoạn 1, phát triển một hệ thống phù hợp hoặc cấu
thành các yếu tố cho việc kiểm tra hồ sơ dự thầu, sử dụng phương pháp bán
định lượng để đánh giá khả năng rủi ro phát sinh trong mỗi yếu tố, và tầm
quan trọng của nó và xác định được vạch ranh giới ưu tiên cho mỗi phần tử
và dự án.
Trong giai đoạn 2, sửa đổi sự ước lượng theo phương pháp tiếp cận cụ thể
của từng nhà thầu có ý định áp dụng, và những năng lực tiềm ẩn của nhà đầu
tư.
- Đầu ra:
+ Một danh sách những yếu tố được ưu tiên bởi “tính mạo hiểm” của mỗi
nhà đầu tư, với tầm quan trọng và đánh giá khả năng, và (xác định các yếu tố
ưu tiên)đồng ý ưu tiên cho các yếu tố.
+ Sự chệch hướng của mỗi nhà đầu tư từ những giả định ranh giới.

chương trước. Đặc biệt, nó chỉ ra như thế nào là bán định lụơng ưu tiên, thiết
lập phương pháp tiếp cận, các chỉ số đo lường hậu quả và khả năng xãy ra
được mô tả trong chương 5 có thể được kéo dài trong ứng dụng để đánh giá
hồ sơ dự thầu.
Cấu trúc căn bản của quy trình đánh gía và hành động
Hình số 13.1 thể hiện 2 giai đoạn của quá trình đánh giá rủi ro và hồ sơ dự
thầu đối với nhà đâú thầu. Giai đoạn 1 liên quan đến việc thiết lập một
đường giới hạn để dựa vào đó có thể đánh giá hồ sơ dự thầu trước khi được
chấp nhận. Giai đoạn 2 so sánh mỗi hồ sơ dự thầu cung cấp với đường giới
hạn, nhằm phát triển việc đánh giá rủi ro tương đối cho mỗi hồ sơ. Qúa trình
này không cố gắng để có được một cách tuyệt đối về thước đo giá trị rủi ro.
Trọng tâm là điều kiện của một phép so sánh giữa các phản ứng của nhà thầu
và phương pháp đề xuất cho việc hoàn thành các bản hợp đồng, như một
phần của quá trình đánh giá hồ sơ dự thầu.
Cấu trúc và tài liệu đánh giá rủi ro sản xuất trong giai đoạn 1 và các điều
chỉnh trong giai đoạn 2 đưa ra khả năng kiểm soát và thống nhất trong suốt
quá trình đánh giá. Những đánh giá này được tạo ra bởi các chuyên gia có
trình độ từ đội dự án, hình thức đầu vào cho một mô hình rủi ro đơn giãn.
Phương pháp cấu trúc để đánh giá rủi ro v à định lượng, hỗ trợ rất nhiều
trong việc so sánh những rủi ro giữa những nhà thầu cá nhân trong quá trình
lựa chọn quy trình.
Bảng 13.1: Tổng quan tiến trình
Giai đoạn 1: Thành lập các đường giới hạn rủi ro
Giai đoạn một liên quan đến việc thiết lập và dẫn chứng đường giới hạn rủi
ro dựa vào những so sánh các phản hồi của mỗi nhà thầu.
Cấu trúc của giai đoạn 1 được minh họa trong hình 13.2. Ba phần đầu liên
quan đến việc đánh giá chi tiết của dự án bởi đội dự án từ góc độ rủi ro, sử
dụng tài liệu dự án và kiến thức chuyên môn của họ. Phần cuối sử dụng tiến
trình đánh giá để tính các yếu tố rủi ro và chênh lệch với đường cơ sở.


định
Độ phức tạp không
thay đổi
Chất lượng
Chi phí
Kế hoạch
Hạn thanh toán linh
hoạt
Độ phức tạp thay đổi
Sự phụ thuộc
Hội nhập và liên kết
Tiến trình quản lí
Yếu tố rủi ro
Người biên tập Ngày Người
đánh giá
Ngày
Bảng 13.3 : Bảng tổng quát ghi lại buổi đánh giá
Số WBS Yếu tố Trang
Giả thiết của đội kế hoạch Tỉ suất
Khả năng, hạn thanh toán cố định
Khả năng, độ phức tạp không thay đổi
Khả năng, hạn thanh toán linh hoạt
Khả năng, độ phức tạp thay đổi
Khả năng, sự phụ thuộc
Người biên tập Ngày Người đánh
giá
Ngày
Bảng 13.4: Chi tiết giả định và tỉ suất, bảng 1
Số WBS Yếu tố Trang
Giả thiết của Tỉ suất

Mỗi chỉ số được thể hiện như mô tả 6 điểm trong thang đo, sắp xếp từ thấp đến rất
cao.
Bảng 13.6: Khả năng đánh giá
Như mô tả ở chương 5, Sở nghiên cứu quốc phòng Mỹ đã tìm thấy 5 yếu tố đầu
tiên được chỉ số tốt về khả năng của vấn đề trong kế hoạch công nghệ cao. Nói
cách khác, vấn đề có nhiều khả năng xảy ra khi yếu tố dự án có liên quan đến phần
cứng mới hay phần cứng phức tạp hoặc phần mềm hoặc sự phụ thuộc cao vào hệ
thống khác hoặc nhà thầu. Sự mua sắm mới đây của chúng tôi có liên quan đến hai
nhân tố cuối cùng bổ sung để phản ánh các khía cạnh cụ thể của khách hàng quan
tâm đến tổ chức khác. Những chỉ số khác cũng được sử dụng như đã thảo luận
trong chương 5.
Trong buổi hội thảo đánh giá, mỗi phần được đánh giá lại các nhân tố liên quan, và
bất kỳ các giả định đặc biệt được ghi trong bảng đánh giá tóm tắt (bảng 13.4 và
13.5).Kết quả đánh giá được ghi nhận trong bảng tóm tắt 13.3 . Không phải các
yếu tố đều liên quan đến tất cả các phần. Ví dụ, hạn thanh toán cố định và tính
phức tạp không ứng dụng phi kỹ thuật rủi ro WBS như quản lí dự án.
Mức độ ảnh hưởng
Những ảnh hưởng tiềm ẩn của rủi ro của toàn bộ kế hoạch được đánh giá cho từng
nhân tố dự án (bảng 13.7) .Ba biện pháp ảnh hưởng thường được sử dụng:
• Giảm người dùng chấp nhận, thường đo lường trong việc giảm hiệu suất
• Tăng chi phí
• Chậm tiến độ
Xem xét thái độ hành vi như tính toàn vện, công bằng kinh doanh,hành vi đạo đức
và thẩm quyền có thể bao gồm biện pháp thứ tư trong tiến trình đánh giá ảnh
hưởng.
Bảng 13.7 Đánh giá nhân tố tiềm ẩn
Qui mô mô tả đánh giá được sử dụng, tương tự như các khái niệm được sử dụng
các chỉ số khả năng rủi ro, mô tả trong chương 4 và 5. Chúng tỉ lệ với mức độ ảnh
hưởng của rủi ro trong toàn dự án,không phải chỉ các yếu tố đang được xem xét.
Trong buổi hội thảo đánh giá, mỗi mục được đánh giá lại mỗi thang đo tác động.

và thấp của rủi ro RF = 0,40
Bảng 13.9: Khả năng rủi ro và mức độ ảnh hưởng
Bảng 13.10: Hồ sơ rủi ro dự án
Giai đoạn 2: xem xét hồ sơ dự thầu
Quá trình xem xét hồ sơ dự thầu xây dựng trên cơ sở hình thành vào giai đoạn 1 và
tài liệu giả định liên kết với nó. Mục tiêu của nó là cung cấp hướng dẫn để so sánh
đánh giá hồ sơ dự thầu về tác động tiềm tàng của các rủi ro trong dự án và cách tiếp cận của nhà thầu. Tuyệt đối các
biện pháp rủi ro có tầm quan trọng thứ cấp.
Chìa khóa để đánh giá chính xác là rủi ro phù hợp và được kiểm chứng đánh giá bởi các nhóm dự án, chất lượng
chức năng để đưa ra quyết định.
Bảng tương tự được sử dụng trong đánh giá rủi ro trong giai đoạn 1 làm cho quá trình và lặp lại nhiệm vụ và cung
cấp một dấu vết kiểm toán của các giả định.
Hình 13,11 cho thấy cơ cấu cho giai đoạn 2. Các bước được mô tả chi tiết dưới đây,
đặt ra là thủ tục để được theo dõi từng hồ sơ dự thầu.
Bảng 13.11 Cơ cấu giai đoạn 2
Yếu tố dự án, khả năng và mức độ ảnh hưởng của rủi ro.
Việc đánh giá ở giai đoạn 1 tạo ra một số giả định về dự án thành phần riêng biệt.
Đây là những tài liệu có liên quan trong việc đánh giá ở giai đoạn 1.
Bước đầu tiên của việc đánh giá hồ sơ dự thầu là so sánh các phương pháp của nhà
thầu với các giả định thực hiện trong đánh giá ban đầu đối với mỗi thành phần
trong WBS. Bất kì sự khác biệt nào mà trong cách tiếp cận mà có thể ảnh hưởng
đến khả năng hay tác động của rủi ro cần được ghi nhận, những cái này có thể bao
gồm, ví dụ như :
• Không còn phù hợp với công việc kinh doanh này nữa phải không? Nó đòi
hỏi sự phát triển lớn hơn hay là nó có liên quan đến sự phức hợp của sự mới
mẻ và sự phát triển của hệ thống phụ?
• Các nhà thầu đã chứng minh đựợc sự hiểu biết về các yêu cầu chưa?
• Có bất kì điều gì được bỏ xót từ lời đề nghị này không?
• Các nhà thầu có hồ sơ nào chứng minh có kinh nghiệm trong lĩnh vực này
không?

thông tin.
• Tài liệu hướng dẫn giúp cho đội và những người khác trong chuỗi phê duyệt
hiểu về các giả định rủi ro chính và cơ chế. Đặc biệt, nó làm cơ sở cho xây
dựng chiến lược quản lý hợp đồng và thực hiện dự án có rủi ro mất vào tài
khoản, sự lựa chọn nhà thầu ưa thích từ quan điểm quả lí rủi ro và phát triển
và thương lượng các điều kiện hợp đồng chi tiết liên quan đến quản lí rủi ro.
• Toàn bộ quá trình được ghi chép lại, do vậy có thể được kiểm tra lại và kiểm
toán.
CHAPTER 14: CONTRACTS AND RISK ALLOCATION
Giới thiệu chung:
Mục đích: rủi ro có thể phân bổ hoặc chuyển đến phần khác của hợp đồng thông
qua những từ đặc biệt trong hợp đồng hay thông qua cách hành động. Hợp đồng là
một công cụ phân bổ và chuyển rủi ro bằng cách quản lý riêng lẻ từng rủi ro.
Cơ sở lý luận: trong bất kỳ mối quan hệ được xây dựng dựa trên hợp đồng, trách
nhiệm quản lý quản lý những rủi ro đặc biệt phải được sắp xếp tốt nhất để quản lý
chúng.
Đầu vào: danh sách rủi ro và sản phẩm của hoạt động đánh giá rủi ro hình thành
nên cơ sở dữ liệu cho hợp đồng và thương thảo hợp đồng.
Phương pháp: chọn loại hợp đồng và soan thảo các điều khoản hợp đồng để giảm
tối thiểu rủi ro bằng cách phân bổ chúng cho các bên có thể quản lý chúng tốt nhất.
Đầu ra: một hợp đồng phân bổ rủi ro một cách đúng đắn, cách mỗi bên quản lý rủi
ro được dẫn chứng trong hợp đồng.
Tài liệu: danh sách bủi ro, kế hoạch hành động khi rủi ro, bảng phân bổ rủi ro và
tài liệu hợp đồng.
SỰ PHÂN PHỐI RỦI RO CHO HỢP ĐỒNG
Hợp đồng là sự giao kèo giữa hai bên về việc quản lý các việc làm riêng biệt hay
thực hiện chức năng riêng biệt, để đổi lại lợi ích. Tất cả các quy mô hợp đồng và
các mục đích của hợp đồng đều là để chuyển giao rủi ro, phân bổ chúng cho 1 cá
nhân hay tổ chức quản lý trong một khoản thời gian được thỏa thuận.
Điều đó giải thích cho việc khi tìm kiếm một hợp đồng xây dựng đơn giản đối với

lý một loạt các loại rủi ro ở nhiều hoàn cảnh khác nhau.
Khi xem xét loại hợp đồng cụ thể , chúng ta có thể giả sử là nơi hợp đồng giao rất
nhiều rủi ro cho một bên, bên kia thì không.
Một ví dụ của việc này là một hợp đồng cộng thêm chi phí, nhà thầu là cung cấp
một dịch vụ với chi phí việc cung cấp các dịch vụ cộng với một biên độ nhất định
của lợi nhuận. Trong trường hợp này, rủi ro của việc vượt quá chi phí đã được
phân phối cho các khách hàng trong tổng số, làm cho các nhà thầu có nguy cơ tài
chính ngoài các rủi ro tín dụng về việc khách hàng không trả tiền như đã hứa.
Việc gia tăng tài chính cho khách hàng
Hợp đồng giá cơ bản
Giá bền vững giá cố định Phí khích lệ Giá trị hợp đồng phụ
việc gia tăng rủi ro tài chính cho nhà thầu
14.1.Loại hợp đồng và phân bổ rủi ro tài chính.

Hợp đồng firm-price giúp khách hàng thoát khỏi nhửng rủi ro liên quan đến
bội chi, với nhũng rủi ro phân bố cho người kí hợp đồng ( bên thực hiện dịch
vụ với một giá cố định, lợi nhuận bị đe dọa nếu bất ngờ xảy ra việc tăng chi
phí.
Có nhiều giá cơ bản cho hợp đồng, như hình 14.1 minh họa cách rủi ro tài chính
được phân bổ cho khách hàng hoặc nhà thầu trong bốn hình thức chủ yếu của hợp
đồng được đề cập như sau:
• giá gốc
• giá cố định
• lệ phí khuyến khích
• giá sản xuất cộng với tiền lãi vừa phải
Mỗi hình thức hợp đồng giải quyết vấn đề rủi ro tài chính khác nhau và phân bố rủi
ro cho các bên theo nhiều cách khác nhau. Ở phần sau thì bốn hình thức hợp đồng
được chi tiết hơn. Phần sau cùng của chương này, chúng ta sẽ cung cấp thêm các
hình thức khác của hợp đòng và làm thế nào để rủi ro đối với dịch vụ giao hàng có
thể phân phối được.

hợp đồng cố định trong một phạm vi cho phép của công việc hoặc dịch vụ. Nhà
thầu và khách hàng đồng ý chấp nhận chia sẻ nguy cơ vượt chi phí và cũng đồng ý
chấp nhận một phần trong lợi ích của việc tiết kiệm chi phí.
Trong một số trường hợp, một hợp đồng lệ phí ưu đãi cũng sẽ thiết lập tối đa giá
trần cho khách hàng, nhà thầu sẽ loại bỏ được các rủi ro tài chính.
Những cơ sở để thiết lập giá mục tiêu và giá trần, tỷ lệ chia sẻ giữa khách hàng và
nhà thầu về việc phân bổ rủi ro trong hợp đồng đó, và hợp đồng cũng là công cụ
thích hợp nhất để quản lý các rủi ro và đi đến kết quả của cuộc đàm phán.
Ví dụ, nếu khuyến khích hợp đồng giao phần lớn lệ phí rủi ro cho nhà thầu, có thể
thích hợp cho các mục tiêu và giá trần được đặt khá cao hoặc tỷ lệ chia sẻ cho lợi
nhuận và mất mát để có lợi cho các nhà thầu như là một hình thức xem xét cho
tham gia vào rủi ro đó. Ngược lại, có thể là trường hợp hợp đồng phân phối rủi ro
đáng kể cho khách hàng. Một ví dụ về chia sẻ rủi ro trong một hợp đồng khuyến
khích được thảo luận trong Chương 22.
Hợp đồng thích hợp sử dụng trong việc giảm nhẹ các rủi ro có nguy cơ phát triển
cao, nơi mà các phạm vi công việc rất khó để xác định chính xác và do đó các chi
phí không dễ ước lượng chính xác. Thông thường, nhà thầu thích loại hợp đồng
này, mặc dù rủi ro liên quan đến các dịch vụ được cung cấp có thể không phù hợp
với loại hợp đồng, nhưng nói chung với hợp đồng này các nhà thầu sẽ có nguồn
gốc lợi ích lớn hơn.
HỢP ĐỒNG COST-PLUS
Hợp đồng trong đó có cộng chi phí cho việc phân bổ tất cả các rủi ro tài chính cho
khách hàng. Trong loại hình hợp đồng này, các bên đồng ý với một phạm vi công
việc mà nhà thầu sẽ được thanh toán tất cả chi phí phát sinh trong việc cung cấp
hàng hoá, dịch vụ, cộng với lợi nhuận thoả thuận như một giá cả cố định hoặc một
tỷ lệ phần trăm của chi phí thực tế phát sinh.
Khách hàng chấp nhận rủi ro tài chính của nhà thầu và khoản lợi nhuận đã thoả
thuận. Trừ khi có quy định hợp đồng khác được bao gồm, có rất ít ưu đãi cho nhà
thầu để giảm thiểu chi phí phát sinh, không phân biệt những rủi ro gặp phải trong
việc cung cấp hàng hoá, dịch vụ.

cả các rủi ro đã nhận định được và xác định rõ ràng trách nhiệm quản lý những rủi
ro này. Đôi khi nhà quản lý dự án sử dụng bảng phân phối rủi ro để nghi các rủi ro
thành nhóm và chỉ ra những rủi ro sẽ phân bố ở bên nào của bản hợp đồng.
Những bản hợp đồng đươnc xây dựng dựa trên khuôn mẫu thì cần soạn thảo
theo những quy tắc giống nhau. Các mẫu sẽ bao gồm những điều khoản đã được
phát triển và chon lọc để giảm bớt rủi ro. Người soạn thảo cần xem lại mẫu hoạp
đồng dể đảm bảo:
+Các điều khoản nhắm vào những rủi ro tương thích trong phạm vi công
việc.
+Các điều khoản xác định việc quản lý rủi ro cho bên (bên A, bên B…)
thích hợp.
+Các rủi ro khác phải được kể đến bởi các điều khoản thêm vào, các điều
khoản sửa đổi hay xóa bỏ.
Thông tin rủi ro dự án hiện hành, là một danh sách rủi ro, liệt kê rủi ro và
những lời khuyên, nó cung cấp cho người soạn thảo hợp đồng nguồn thông tin
đáng giá. Người soạn thảo hợp đồng cần đảm bảo rằng, bất cứ ở đâu, những rủi ro
và sụ phân bố của nó đều được nhắm đến thông qua những kỳ hạn và điều kiện
trong hợp đồng. Các quyết định điều phối nên dựa vào năng lực mỗi bên, sự sẵn
sàng nhận trách nhiệm quản lý rủi ro.
Một vài rủi ro dự án không thể xác định rõ thông qua các điều khoản hợp
đồng. VD: lợi ích của nhân viên quản lý để quản lý hợp đồng post-signature.
MỐI LIÊN HỆ GIỮA TƯ LIỆU THẦU VÀ ĐÁNH GIÁ THẦU.
Trong nhiều trường hợp, người soạn hợp đồng cung cấp một phần những
yêu cầu cho gói thầu để giúp nhà thầu phát triển những để xuất của họ. Người soạn
thảo đưa cho nhà thầu chỉ dẫn đến sự chấp thuận của các bên và thái độ của khách
hàng đối với rủi ro và sự phân bố rủi ro.
Người soạn thảo cần giúp nhà thầu hiểu rõ những rủi ro được nhân định bởi
khách hàng, giúp đỡ phát triển chiến lược chi tiết để phân bổ yêu cầu công việc. Sự
phân bố rủi ro được mô tả trong bản soạn thảo hợp đồng cũng giúp nhà thầu phát
triển kế hoạch thương thuyết, trách nhiệm quản lý rủi ro và các chiến lược.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status