Kế toán tập hợp chi phí sản xuất & tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần xây lắp điện 3.4 Nghệ An - Pdf 16

LỜI MỞ ĐẦU
Trong điều kiện hiện nay, các hoạt động kinh tế diễn ra liên tục đòi
hỏi các nhà quản lý phải có những thông tin quan trọng, chính xác, kịp thời
để lựa chọn, định hướng và đưa ra những quyết định đúng đắn về việc sử
dụng vốn, nguyên vật liệu, nhân công dể sản xuất cũng như tiêu thụ sản
phẩm. Vì vậy, hạch toán kế toán là công cụ quản lý sắc bén không thể thiếu
được trong quản lý của doanh nghiệp thuộc tất cả các ngành.Trong nền kinh
tế quốc dân , ngành xây dựng cơ bản đóng một vai trò quan trọng và là bộ
phận phục vụ đắc lực của đời sống kinh tế xã hội.
Nhằm đảm bảo đưa sớm các công trình vào hoạt động có chất lượng, giá
thành hạ và đem lại hiệu quả kinh tế cao cho nền kinh tế nói chung, thì một
trong những phần có ý nghĩa quyết định là việc tính đúng, tính đủ chi phí
sản xuất và giá thành sản phẩm. Do đó, công tác kế toán tập hợp chi phí và
tính giá thành sản phẩm trở nên vô cùng quan trọng đối với các doanh
nghiệp sản xuất nói chung và các doanh nghiệp xây lắp nói riêng muốn đứng
vững và phát triển trong cơ chế thị trường hiện nay.
Qua thời gian thực tập tại Công ty cổ phần xây lắp điện 3.4 Nghệ An,
nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề nêu trên, em đã chọn đề tài: “Kế toán
tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ
phần xây lắp điện 3.4 Nghệ An ” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 3 phần:
Phần I : Một số vấn đề lý luận về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp.
Phần II : Tình hình thực tế về tổ kế toán tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm ở Công ty cổ phần xây lắp điện 3.4 Nghệ An
Phần III : Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán tập
hợpc hi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở công ty cổ phần xây lắp
điện 3.4 Nghệ An.
1
Luận văn hoàn thành với kết quả lao động nghiêm túc của em trong quá
trình thực tập, mà trước hết là sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của thầy giáo

- Sản xuất xây dựng cơ bản, thường diễn ra ngoài trời, chịu sự tác động
trực tiếp bởi điều kiện môi trường, thiên nhiên, thời tiết và do đó việc thi
công xây lắp ở một mức độ nào đó mang tính chất thời vụ.
- Sản phẩm xây dựng cơ bản được sử dụng tại chỗ, địa điểm xây dựng
luôn thay đổi theo địa bàn thi công, khi hoàn thành không nhập kho như các
ngành sản xuất vật tư khác.
3
1.2. . Nhiệm vụ kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm xây
lắp
Quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là nội dung quan
trọng hàng đầu trong các doanh nghiệp sản xuất, để đạt được mục tiêu tiết
kiệm và tăng cường được lợi nhuận. Để phục vụ tôt công tác quản lý chi phí
và giá thành sản phẩm, kế toán cần thực hiện tố các nhiệm vụ:
- Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá
thành phù hợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp, thoả mãn yêu cầu
quản lý đặt ra, vận dung phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm một cách khoa học và hợp lý.
- Ghi chép, tính toán, phản ánh một cách chính xác, đầy đủ, kịp thời
chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của hoạt động xây lắp, xác định hiệu
quả từng phần và toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Kiểm tra chặt chẽ tình hình thực hiện các định mức tiêu hao và các
dự toán chi phí nhằm phát hiện kịp thời các hiện tượng lãng phí, sử dụng chi
phí không đúng kế hoạch, sai mục đích.
- Tổ chức tập hợp, kết chuyển hoặc phân bổ chi phí sản xuất theo
đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phục vụ cho việc tính giá thành sản
phẩm xây lắp và các sản phẩm khác kịp thời, chính xác…
- Vận dụng phương pháp tính giá thành thích hợp để tính toán giá
thành sản phẩm xây lắp theo đúng các khoản mục quy định và kỳ tính giá
thành đã xác định.
- Định kỳ cung cấp báo cáo về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

Toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ được chia ra làm các
khoản mục chi phí sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Chi phí nhân công trực tiếp
- Chi phí sử dụng máy thi công
- Chi phí sản xuất chung
5
Cách phân loại này có tác dụng phục vụ cho yêu cầu quản lý chi phí
theo định mức, công tác kế hoạch hoá, phân tích và tính giá thành sản phẩm
theo khoản mục, giám sát tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và hạ giá
thành. Đồng thời, đây cũng là cách phân loại Chi phí sản xuất chủ yếu được
sử dụng trong doanh nghiệp xây lắp.
Ngoài hai cách phân loại trên còn có phương pháp phân loại chi phí khác
như:
- Phân loại theo mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và quy mô hoạt
động
- Phân loại theo chi phí cố định, chi phí biến đổi
3. Giá thành sản phẩm
3.1. Khái niệm
Giá thành sản phẩm là toàn bộ chi phí sản xuất bao gồm chi phí
nguyên vât liệu, chi phí nhân công, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí
trực tiếp khác cho công trình, hạng mục công trình hay khối lượng sản xuất
hoàn thành đến giai đoạn quy ước đã hoàn thành, nghiệm thu, bàn giao và
được chấp nhận thanh toán. Giá thành sản phẩm xây lắp là một trong nhưng
chỉ tiêu chất lượng quan trọng, vì nó phản ánh kết quả hoạt động của doanh
nghiệp, là cơ sở để xác định kết quả tài chính (lãi hay lỗ)
3.2. Các loại giá thành trong doanh nghiệp xây lắp
3.2.1. Giá thành dự toán ( Zdt )
Giá thành dự toán là công tác xây lắp được xác định trên khối lượng
công tác xây lắp theo khối lượng thiết kế được duyệt, các định mức dự toán

chi phí sản xuất khác mà doanh nghiệp đã thực tế chỉ ra trong kỳ. Tuy vậy
giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cũng có sự khác nhau thể hiện ở
những điểm sau :
- Chi phí sản xuất phản ánh toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra
trong một kỳ nhất định ( tháng, quý, năm ).Còn giá thành sản phẩm là giới
hạn số chi phí sản xuất liên quan đến một công trình, hạng mục công trình
hay một khối lượng công tác xây lắp hoàn thành nhất định.
- Chi phí sản xuất tính toàn bộ chi phí chi ra trong một kỳ, không
phân biệt chi ra ở đâu và làm việc gì. Còn giá thành sản phẩm xây lắp có thể
7
bao gồm cả phần chi phí phát sinh ở kỳ trước và phần còn lai phát sinh ở kỳ
sau nhưng được ghi chép vào kỳ này.
II. KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP.
1. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất
1.1.Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
Đối tượng để tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi giới hạn mà các chi
phí sản xuất cần được tổ chức tập hợp theo đó.
Để xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phải căn cứ vào đặc
điểm phát sinh chi phí và công dụng của chi phí trong sản xuất
Trong sản xuất xây lắp, do đặc điểm sản phẩm có tính đơn chiếc nên
đối tượng tập hợp chi phí sản xuất thường là theo từng đơn đặt hàng hoặc
cũng có thể là một hạng mục công trình, nhóm hạng mục công trình…
Tập hợp chi phí sản xuất theo đúng đối tượng có tác dụng phục vụ tốt cho
việc tăng cường quản lý sản xuất và chi phí sản xuất, cho công tác hạch toán
kinh tế nội bộ và hạch toán kinh tế toàn doanh nghiệp, phục vụ cho công tác
tính giá thành sản phẩm được kịp thời, chính xác.
1.2. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
Phương pháp tập hợp trực tiếp: áp dụng phương pháp này đối với
những chi phí trực tiếp, liên quan đến một đối tượng kế toán tập hợp chi phí

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là các chi phí nguyên liệu, vật liệu sử
dụng trực tiếp cho hoạt động xây lắp hoặc sử dụng cho sản xuất sản phẩm,
thực hiện dịch vụ, lao vụ của doanh nghiệp xây lắp.
* Tài khoản sử dụng: TK 621 “ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp ”
TK 621 có kết cấu như sau:
Bên nợ: Trị giá thực tế nguyên liệu, vật liệu xuất dùng trực tiếp cho
hoạt động xây lắp.
Bên có: - Tri giá nguyên liệu, vật liệu trực tiếp sử dụng không hết
được nhập lại kho
9
- Kết chuyển hoặc tính phân bổ trị giá nguyên liệu, vật liệu thực tế sử
dụng cho hoạt động xâu lắp trong kỳ vào TK 154- Chi phí sản xuất kinh
doanh dở dang và chi tiết cho các đối tượng chịu chi phí.
TK 621 không có số dư cuối kỳ.
* Trình tự hạch toán chi phí nguyên vật trực tiếp theo phụ lục 01
b/ Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp là các chi phí cho lao động trực tiếp tham
gia vào quá trình hoạt động xây lắp bao gồm : tiền lương chính, các khoản
phụ cấp lương và lương phụ có tính chất ổn định của công nhân trực tiếp sản
xuất xây lắp và phục vụ cho sản xuất xây lắp
* Tài khoản sử dụng : TK622 “ Chi phí nhân công trực tiếp ”
Bên nợ: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp tham gia vào quá trình sản
xuất sản phẩm (xây lắp, sản xuất sản phẩm công nghiệp, cung cấp dịch vụ)
bao gồm : tiền lương, tiền công lao động và các khoản trích trên tiền lương
theo quy định
( Riêng đối với lao động xây lắp, không bao gồm các khoản trích theo
lương về BHXH, BHYT, KPCĐ )
Bên có: Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào bên nợ TK 154-
chi phí sản xuất kinh doanh dở dang.
TK 622 không có số dư cuối cùng

giữa các bộ phận thì kế toán ghi:
Nợ TK 623 (6238)
Có TK 154 (1543- đội máy thi công)
+ Nếu doanh nghiệp thực hiện theo phương thức bán lao vụ máy lẫn
nhau giữa các bộ phận trong nội bộ, kế toán ghi:
Nợ TK 623(6238)
Nợ TK 133(1331): thuế GTGT được khấu trừ
Có TK 333 (33311): Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước
11
Có TK 152, 153, 111, 112, 331…
- Trường hợp doanh nghiệp không tổ chức đội thi công riêng hoặc có
tổ chức đội máy thi công nhưng không tổ chức kế toán riêng
+ Chi phí liên quan đên sử dụng máy thi công phát sinh, kế toán ghi:
Nợ TK 623
Nợ TK 133 (1331): Thuế GTGT được khấu trừ
Có TK liên quan : 152, 334, 214, 111, 331...
+ Cuối kỳ, căn cứ vào bảng phân bổ CPSDMTC tính cho từng công
trình, hạng mục công trình, kế toán ghi:
Nợ TK 154 (1541- chi tiết theo đối tượng)
Có TK 623 (chi tiết theo đối tượng)
+ Trường hợp tạm ứng chi phí máy thi công để thực hiện giá trị khoán
nội bộ (đơn vị nhận khoán hạch toán phụ thuộc), khi quyết toán kế toán ghi
nhận CPSDMTC:
Nợ TK 623 (chi tiết theo đối tượng)
Có TK 141 (1413- chi tiết đội xây lắp)
d/ Kế toán chi phí sản xuất chung
Để tập hợp chi phí sản xuất chung trong các doanh nghiệp xây lắp, kế
toán sử dụng TK 627 “ Chi phí sản xuất chung ”
Nội dung kết cấu của TK 627
Bên nợ: Các chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ, bao gồm :

mở chi tiết theo từng đội sản xuất, từng công trình hoặc từng hạng mục công
trình
2. Đánh giá sản phẩm dở dang trong doanh nghiệp xây lắp
Để phục vụ cho việc tính giá thành, định kỳ (tháng, quý, năm), doanh
nghiệp tiến hành kiểm kê khối lượng công việc đã hoàn thành hay dở dang
và dùng phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang thích hợp.
13
Sản phẩm dở dang trong doanh nghiệp xây lắp có thể là quy trình
công nghệ, đơn dặt hàng...chưa hoàn thành, chưa được chủ đầu tư nghiệm
thu, bàn giao, thanh toán.
Đánh giá sản phẩm dở dang chính là tính toán, xác định chi phí xây
lắp mà khối lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ phải gánh chịu.
Căn cứ vào phương thức giao nhận thầu giữa chủ đầu tư và đơn vị xây
lắp, có các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang như sau:
- Trường hợp bàn giao thanh toán khi công trình hoàn thành toàn bộ,
tổng cộng chi phí sản xuất từ khi khởi công đến thời điểm xác định chính là
chi phí sản xuất dở dang thực tế.
- Trường hợp bàn giao thanh toán theo từng giai đoạn hoàn thành, sản
phẩm dở dang là các giai đoạn xây lắp chưa hoàn thành. Xác định chi phí
sản xuất dở dang cuối kỳ theo phương pháp phân bổ chi phí thực tế căn cứ
vào giá dự toán và mức độ hoàn thành.
Chi phí thực
tế KLXL dở
dang cuối kỳ
=
Chi phí thực tế
KLXL dở dang đầu
kỳ
+
Chi phí thực tế

Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, công việc, lao vụ do
doanh nghiệp sản xuất ra và cần phải tính được tổng giá thành và giá thành
đơn vị.
14
Trong sản xuất xây dựng cơ bản, sản phẩm có tính đơn chiếc, đối
tượng tính giá thành là từng công trình, hạng mục công trình hoặc đơn đặt
hàng đã hoàn thành. Như vậy, thực chất của việc xác định đối tượng tập hợp
chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành là xác định nơi phát sinh chi phí
và các đối tượng gánh chịu chi phí.
3.2. Phương pháp tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây
lắp
Phương pháp tính giá thành sản phẩm là phương pháp sử dụng số liệu
về chi phí sản xuất để tính ra tổng giá thành và giá thành đơn vị thực tế của
sản phẩm hoặc lao vụ đã hoàn thành. Tuỳ theo từng đối tượng tính giá thành
mà kế toán lựa chọn phương pháp tính giá thành cho phù hợp. Trong các
doanh nghiệp xây lắp thường áp dụng các phương pháp tính giá thành sau:
3.2.1. Phương pháp tính giá thành trực tiếp ( giản đơn )
Phương pháp này được áp dụng chủ yếu trong các doanh nghiệp xây
lắp thuộc loại hình sản xuất đơn giản, chu kỳ sản xuất ngắn, mặt hàng ít,
khối lượng lớn.
- Trường hợp cuối kỳ không có sản phẩm dở dang hoặc có ít và ổn
định kế toán không cần xác định giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ, khi đó
tổng giá thành, giá thành sản phẩm đơn vị được xác định như sau:
Z = C
z =
Z
=
C
Q Q
Trong đó:

công trình được hoàn thành và đưa vào sử dụng, để tập hợp chi phí cho việc
tính giá thành công trình. Nếu phương thức thanh toán theo điểm dừng kỹ
thuật hợp lý, có xác định đươc giá dự toán thì ngoài việc tính giá thành cho
16
công trình hoàn thành, cuối mỗi tháng kế toán phải tính giá thành của các
giai đoạn công việc đã hoàn thành bàn giao trong kỳ áp dụng theo công thức
sau:
Giá thành của
KLXL đã hoàn
thành bàn giao
=
Chi phí
XLDD đầu
kỳ
+
Chi phí XL
PS trong kỳ
-
Chi phí XLDD
cuối kỳ
Kế toán tiến hành ghi sổ:
Nợ TK 632 (nếu khối lượng công trình đã hoàn thành)
Có TK 154 (Giá thành thực tế KLXL)
Trình tự hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây
lắp được khái quát theo phụ lục 04
3. Hệ thống sổ kế toán sử dụng để tập hợp chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm ở doanh nghiệp xây lắp
Tuỳ thuộc vào hình thức kế toán doanh nghiệp áp dụng mà các
nghiệp vụ liên quan đến kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm được phản ánh ở các sổ kế toán phù hợp. Sổ kế toán áp dụng gồm:

thép, các sản phẩm cơ khí và sản phẩm bê tông; Sản xuất phụ kiện điện, sản
xuất, kinh doanh các chủng loại vật liệu xây dựng.
18
2. Đặc điểm quy trình sản xuất sản phẩm xây lắp của công ty.
II. ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC BỘ MÁY HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY
1. Đặc điểm bộ máy tổ chức quản lý của công ty.
Công ty là Doanh nghiệp cổ phần, vốn Nhà nước chiếm 58,5% nên
bộ máy quản lý cũng có những khác biệt so với Doanh nghiệp Nhà nước. Bộ
máy quản lý do Đại hội cổ đông bầu ra gồm Hội đồng quản trị, Ban kiểm
soát.
Hội đồng quản trị bầu Chủ tịch và các uỷ viên, bổ nhiệm giám đốc
điều hành, các phó giám đốc, kế toán trưởng và các trưởng, phó phòng ban
nghiệp vụ.
Với mô hình về cơ cấu tổ chức quản lý theo kiểu trực tuyến thì từng
phòng ban của công ty có chức năng, nhiệm vụ sau:
- Đại hội cổ đông: Có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan
đến quyền lợi của công ty theo luật doanh nghiệp.
- Hội đồng quản trị: Có toàn quyền nhân danh Công ty để quyết
định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty, trừ những
vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội cổ đông.
- Ban kiểm soát: Do đại hội cổ đông bầu ra có nhiệm vụ kiểm tra
tính trung thực, hợp lý, hợp pháp trong việc quản lý điều hành hoạt động
kinh doanh của Công ty, thường xuyên thông báo với hội đồng quản trị về
kết quả hoạt động, tham khảo ý kiến của Hội đồng quản trị trước khi trình
báo cáo, kết luận và kiến nghị lên Đại hội đồng cổ đông.
19
Kiểm tra vật liệu
Trộn vữa Quay cột
Hấp sấyBảo dưỡng ho nà
thiện

Do đặc điểm tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý, công ty cổ phần xây
lắp điện 3.4 Nghệ An tổ chức bộ máy kế toán theo hình thức tập trung. Với
việc áp dụng hình thức này toàn bộ công tác kế toán trong công ty tập trung
tại phòng kế toán.
Phòng kế toán của công ty có nhiệm vụ hạch toán các nghiệp vụ kinh
tế phát sinh trong quá trình kinh doanh, thực hiện tổng hợp số liệu, lập báo
cáo kế toán cho công ty. Phòng kế toán gồm có 6 người, đứng đầu là kế toán
trưởng và 5 kế toán viên.
Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán của công ty
- Kế toán trưởng: Là người chịu trách nhiệm toàn diện về công tác tài
chính - kế toán toàn công ty trước Giám đốc công ty, nhà nước, pháp luật,
điều hành công tác thu chi trước khi trình lên giám đốc.Tham gia xây dựng,
kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các quy chế quản lý tài chính của công ty.
- Kế toán tổng hợp kiêm Thủ quỹ: Làm chi tiết tất cả các phần hành
vốn bằng tiền, vật tư, tài sản cố định.Thủ quỹ là người chịu sự điều hành của
kế toán trưởng làm nhiệm vụ quản lý tiền tại công ty.
21
Kế toán trưởng
Kế toán
tổng hợp,
TSCĐ,
Thủ quỹ
Kế toán
thanh
toán,
Công nợ
Kế
toán
vật tư
Kế toán

- Hình thức sổ kế toán áp dụng: Công ty áp dụng sổ hình thức kế toán
"Nhật ký chứng từ". Trình tự ghi sổ kế toán được thể hiện qua sơ đồ sau:
(xem phụ lục số 05)
- Phương pháp kế toán hàng tồn kho: Phương pháp kê khai thường
xuyên
- Phương pháp tính thuế GTGT: Theo phương pháp khấu trừ
22
- Đồng tiền hạch toán: Việt Nam đồng
- Niên độ kế toán: Bắt đầu từ ngày 01/01 và kết thúc vào ngày 30/12
hàng năm.
- Kỳ báo cáo: Theo quý
- Hệ thống báo cáo tài chính của Công ty hiện nay bao gồm:
+ Bảng cân đối kế toán theo Mẫu số B01-DN
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo Mẫu số B02-DN
+ Lưu chuyển tiền tệ theo Mẫu số B03-DN
+ Thuyêt minh báo cáo tài chính theo Mẫu số B09-DN
3. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Sau khi so sánh các chỉ tiêu thể hiện qua bảng chỉ tiêu năm 2004 đều
tăng so với năm 2003 với tỷ lệ khá cao chứng tỏ Công ty có sự tăng trưởng.
Tổng doanh thu năm 2004 so với năm 2003 tăng 30.797.537 tỷ đồng (tương
đương với 42,2 %), điều đó phản ánh đúng tình hình kinh doanh thực tế của
công ty lúc này.Giá vốn hàng bán tăng cũng rất cao năm 2004 so với năm
2003 tăng 42,9%, tốc độ tăng cao hơn doanh thu, nói lên giá thành sản xuất
của công ty còn cao, chưa hạ được. Bên cạnh đó chi phí QLDN năm 2004
tăng so với năm 2003 là 214.740 triệu đồng (8,9%), tốc độ tăng chậm hơn
doanh thu, điều đó chứng tỏ Công ty đã tiết kiệm chi phí quản lý doanh
nghiệp.
Lợi nhuận trước thuế và sau thuế đều tăng, cụ thể là năm 2004 lợi
nhuận trước thuế tăng 723.997 triệu đồng(38,6%) so với năm 2003 cho thấy
lợi ích trong việc tăng quy mô sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm.

chặt chẽ, việc tiết kiệm nguyên vật liệu là một yêu cầu hết sức cần thiết
trong công tác quản lý nhằm hạ giá thành sản phẩm.
Tại công ty cổ phần xây lắp điện 3.4 Nghệ An, chi phí nguyên vật liệu
trực tiếp bao gồm:
Chi phí nguyên liệu chính: Ximăng, sắt thép, đá, cát....
Chi phí vật liệu phụ: dây buộc...
24
Chi phí vật liệu kết cấu: Thanh dọc, tấm tiếp địa, khung...
Chi phí vật liệu khác.
Hiện nay, kế toán công ty tổng hợp nguyên vật liệu theo phương
pháp kê khai thường xuyên. Nguyên vật liệu được phản ánh theo giá thực tế
đích danh và sử dụng TK 621 “ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp ” để theo
dõi chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Công tác kế toán khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp ở Công
ty được tiến hành như sau:
Căn cứ vào dự toán gia công sản phẩm để tính nhu cầu nguyên vật
liệu, các tổ sản xuất sẽ lập phiếu yêu cầu vật liệu gửi về Công ty để xin mua
vật tư. Khi mua vật tư về xưởng sẽ lập phiếu nhập vật tư ( phiếu nhập đã
được thủ kho ký xác nhận về số lượng, chất lượng ) được kèm theo hoá đơn
mua hàng gửi về phòng kế toán Công ty để hạch toán.
Ví dụ có hoá đơn GTGT số 95428 ngày 31/12/2004
Mua xi măng 30 tấn x 700.000 đồng = 21.000.000 đồng
Thuế GTGT 10% = 2.100.000 đồng
Căn cứ vào phiếu nhập kho (mẫu biểu 02) và hóa đơn mua Ximăng
phòng kế toán ghi sổ
Nợ TK 152 21.000.000 ( giá hóa đơn )
Nợ TK 133 2.100.000 ( Thuế VAT đầu vào )
Có TK 331 23.100.000 ( Tổng số thanh toán )
Kế toán căn cứ vào phiếu xuất kho (mẫu biểu 03), kế toán ghi sổ cái
TK 152 (mẫu 02), sổ cái TK 621(mẫu 03) theo định khoản:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status